TIN MỪNG CHÚA NHẬT - LỄ TRỌNG

Chúa Nhật IV Mùa Chay -Năm A

“Hắn đi rửa, rồi trở lại trông thấy rõ”. (Ga 1,1-41)
Đọc các tin khác ➥
TÌM KIẾM

Tôi đã rửa và tôi nhìn thấy… tại sao không!

Thứ bảy - 14/03/2026 06:24 | Tác giả bài viết: Petrus.tran |   29
“Đức Giê-su chữa một người mù từ thuở mới sinh” (Ga 9, 1-41).

Chúa Nhật IV – MC – A
Tôi đã rửa và tôi nhìn thấy… tại sao không!

SnTM 140326a


Sau ba mươi năm sống ẩn dật ở Na-da-rét, Đức Giê-su rời bỏ quê nhà, ra đi loan báo Tin Mừng. Bất cứ nơi đâu có sự hiện diện của Đức Giê-su, thiên hạ lập tức mang đến cho Ngài “mọi kẻ ốm đau, mắc đủ tức bệnh hoạn tật nguyền.” Kinh thánh cho biết: “Ngài đã chữa họ” (Mt 4, 24).

Vâng, Đức Giê-su đã chữa họ. Sự kiện này được loan truyền khắp vùng Thập Tỉnh, thành Giê-ru-sa-lem, miền Giu-đê và cả bên kia sông Gio-đan.

Ông Gio-an Tẩy Giả cũng “nghe biết những việc Đức Giê-su làm”. Do… “lúc ấy đang ngồi tù…” nên ông sai môn đệ tìm đến Đức Giê-su để làm rõ sự thật.

Gặp Đức Giê-su, họ hỏi Ngài: Thưa Thầy, Thầy có thật là Đấng phải đến không, hay là chúng tôi còn phải đợi ai khác.”

Hôm ấy, Đức Giê-su trả lời: “Các anh cứ về thuật lại cho ông Gio-an những điều mắt thấy tai nghe: Người mù xem thấy, kẻ què được đi, người phong được sạch, kẻ điếc được nghe, người chết sống lại, kẻ nghèo được nghe Tin Mừng, và phúc thay người nào không vấp ngã vì tôi.”

Nghe thế, các môn đệ ông Gio-an trở về. Họ trở về, có-thuật-lại cho ông Gio-an những-điều-mắt-thấy-tai-nghe, không? Vâng, chúng ta không biết!

Điều chúng ta biết, đó là Đức Giê-su… quả thật, Ngài đã làm cho người-mù-xem-thấy. Sự kiện này, đã được ghi lại trong Tin Mừng thánh Gioan, qua câu chuyện: “Đức Giê-su chữa một người mù từ thuở mới sinh” (Ga 9, 1-41).

**
Tin Mừng thánh Gio-an kể rằng: Hôm ấy, khi Đức Giê-su ra khỏi Đền Thờ, Ngài “nhìn thấy một người mù từ thuở mới sinh.”

Tưởng chúng ta nên biết, mù từ thuở mới sinh, hay còn được gọi là mù bẩm sinh, là “tình trạng suy giảm thị lực nghiêm trọng hoặc mất hoàn toàn thị lực ngay khi sinh hoặc trong những tháng đầu đời, do dị tật di truyền gây thoái hóa võng mạc.” (nguồn: internet).

Trở lại câu chuyện, hôm ấy, những người môn đệ đi theo Ngài, cũng nhìn thấy. Thấy, nhưng thay vì nhìn anh mù mang một căn bệnh “tồi tệ dần theo thời gian”, với một tấm lòng xót thương, các ông lại nhìn anh ta với một ánh mắt chất chứa những định kiến, những tập tục sẵn có, do người xưa để lại.

Theo tập tục Do Thái giáo, với những ai bị tật nguyền như đui mù què quặt, họ cho rằng, kẻ đó bị Thiên Chúa trừng phạt.

Chính vì thế, khi nhìn thấy anh mù, các môn đệ đã hỏi Đức Giêsu: “Thưa Thầy! ai đã phạm tội khiến người này sinh ra đã bị mù, anh ta hay cha mẹ anh ta?”

Hôm ấy, để xóa bỏ những định kiến cổ hủ người xưa để lại, Đức Giê-su trả lời, rằng: “Không phải anh ta, cũng chẳng phải cha mẹ anh ta đã phạm tội. Nhưng sở dĩ như thế là để thiên hạ nhìn thấy công trình của Thiên Chúa tỏ hiện nơi anh”.

Đúng vậy! anh mù-bẩm-sinh, chính là công trình mà Thiên Chúa đã tác tạo nên, làm sao Đức Giêsu có thể vô cảm nhìn anh ta đang phải “Lần mò từng bước tôi đi… Mò trong bóng tối biết gì thời gian!”

“Chúng ta phải thực hiện công trình của Đấng đã sai Thầy, khi trời còn sáng… Bao lâu Thầy còn ở thế gian, Thầy là ánh sáng thế gian.” Đức Giê-su đã tiếp lời, như thế đấy!

Và, không để các môn đệ luẩn quẩn trong một mớ tập tục phản nhân bản, “Đức Giêsu nhổ nước miếng xuống đất, trộn thành bùn và sức vào mắt người mù, rồi bảo anh ta: Anh hãy đến hồ Si-lô-ác mà rửa”.

Chuyện kể tiếp rằng: “Anh ta đến rửa ở hồ, và khi về thì nhìn thấy được” (Ga 9, 7).

***
“Anh ta đến rửa ở hồ, và khi về thì nhìn thấy được.” Anh ta có vui, sau khi được nhìn thấy?

Theo J.Z Young, một chuyên gia trong ngành chức năng não bộ, mô tả như sau: “Khi được mở mắt, bệnh nhân chỉ rất ít hoặc hoàn toàn không vui thú gì, thật vậy, họ đối diện với cảm nghiệm đầu tiên này trong đau đớn. Trước mắt họ chỉ là một đống hỗn độn ánh sáng và màu sắc quay vòng vòng. Rõ ràng là với thị giác, họ gần như không thể cầm nắm đồ vật, nhận diện và gọi tên chúng. Họ không có khái niệm về không gian và vật thể, cho dù họ đã biết và xác định được tất cả mọi vật này bằng xúc giác”. (nguồn: internet).

Vâng, những lời J.Z Young mô tả, đúng là vậy. Anh mù bẩm sinh, không-vui-thú-gì, (ít nhất là về mặt tinh thần), khi từ Si-lô-ác trở về.

Làm sao vui khi dư luận thế gian đã bủa vây anh ta với tất cả sự hoài nghi: “Hắn không phải là người vẫn ngồi ăn xin đó sao?” Có người nói: “Chính hắn đó”. Kẻ khác nói: “Không phải đâu! Nhưng là một đứa nào giống hắn đó thôi!”.

Thế nhưng, dù dư luận thế gian có: “nói ngả nói nghiêng” lòng tin anh mù “vẫn vững như kiềng ba chân”. Hôm ấy, anh mù vẫn một lời quả quyết: “Chính tôi đây… Người tên là Giê-su đã trộn một chút bùn, xức vào mắt tôi, rồi bảo: Anh hãy đến hồ Si-lô-ác mà rửa. Tôi đã đi, đã rửa và tôi nhìn thấy.” (x.Ga 9, 11).

Rồi, có đau đớn không, khi biết được người chữa lành anh là một “Người tên là Giê-su”! Những ông kẹ Phariseu đã ra sức gây cho anh sự hoang mang. Họ nói: “Ông ta không thể là người của Thiên Chúa được, vì không giữ ngày Sabat”. Có người phản biện: “Một người tội lỗi sao có thể làm những dấu lạ như vậy?”

Hôm ấy, giữa họ đã xảy ra sự chia rẽ. Riêng anh mù, anh ta vẫn lớn tiếng nói, Đức Giê-su “là một vị ngôn sứ”. Lời tuyên bố của anh mù như một thách thức lớn đối với người Pha-ri-sêu. Họ đã “gọi cha mẹ anh ta đến” để làm một cuộc điều tra.

Kết quả, cha mẹ anh ta đã khéo léo trả lời, rằng: “Chúng tôi biết nó là con chúng tôi, nó bị mù từ khi mới sinh. Còn bây giờ làm sao nó thấy được, chúng tôi không biết, hoặc có ai đó mở mắt cho nó, chúng tôi cũng chẳng hay. Xin các ông cứ hỏi nó, nó đã khôn lớn rồi, nó có thể tự khai được.”

Thế là, mấy ông Phariseu hỏi anh mù, lần nữa. Anh mù “tự khai” tất cả những gì Đức Giê-su đã làm cho anh, rằng: “Tôi chỉ biết một điều: trước đây tôi bị mù mà nay tôi nhìn thấy được… Thiên Chúa không nhậm lời những kẻ tội lỗi, còn ai kính sợ Thiên Chúa và làm theo ý Người, thì Người nhậm lời kẻ ấy. Xưa nay chưa hề nghe nói có ai đã mở mắt cho người mù từ lúc mới sinh. Nếu không phải là người bởi Thiên Chúa mà đến, thì ông ta đã chẳng làm được gì”.

Những lời tự khai của anh mù đã làm quý ông Pha-ri-sêu nổi giận lôi đình. Và rồi quý ông Pha-ri-sêu đã “trục xuất anh”. Như họ đã từng “trục xuất khỏi hội đường kẻ nào dám tuyên xưng Đức Giê-su là Đấng Ki-tô.”

Họ đã trục xuất anh, nhưng Đức Giê-su thì không. Khi gặp lại anh, Ngài hỏi: “Anh có tin vào Con Người không?… Chính Người đang nói với anh đây”. Trước mặt Đức Giê-su, anh mù nói: “Thưa Ngài, tôi tin. Rồi anh sấp mình xuống trước mặt Người”.

****
“Trước đây tôi bị mù mà nay tôi nhìn thấy được.” Vâng, một người mù bẩm sinh lại được trông thấy hết thảy mọi sự vật nhờ vâng lời Đức Giê-su, sau khi đi đến hồ Si-lo-ác rửa đôi mắt mình.

Nhắc lại điều này để làm gì? Thưa, có thể chúng ta sinh ra không mù bẩm sinh, nhưng chúng ta đã sinh ra giữa sự tăm tối mù mịt phần linh hồn.

Giữa sự tăm tối mù mịt phần linh hồn, thì sao! Thưa, thế rồi một ngày nọ, “ánh sáng trong Đức Giê-su là ơn đức tin được ban cho chúng ta nhờ Bí Tích Rửa Tội.”

Vâng, sinh ra chúng ta mù thuộc linh, khi đến “Hồ Rửa Tội”, chúng ta được biết và được “trông thấy” lẽ thật. Lẽ thật rằng: chúng ta có một Thiên Chúa - Người là Cha.

Người “…yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời.” (Ga 3, 16).

Thế nên, từ hồ-rửa-tội, trở về với đời sống đức tin, chúng ta hãy lớn tiếng nói, như anh mù bẩm sinh đã nói: “Thưa Ngài, tôi tin” – “Lạy Chúa Giê-su – con tin Ngài”.

Không tuyên xưng, như thế… Cha Charles E.Miller có lời khuyến dụ: “Khi ‘nhìn’ người anh em đồng loại, chúng ta chỉ thấy một con vật có lý trí.”

Còn nếu chúng ta tuyên xưng “Lạy Chúa Giê-su – con tin Ngài”, Cha Charles E.Miller có lời chia sẻ: “chúng ta sẽ ‘thấy’ đó là một người con của Thiên Chúa”.

Ơn đức tin còn được tăng cường bởi Bí Tích Thêm Sức. Nói rõ hơn, đó chính là Thần Khí sự thật. Điều Đức Giê-su đã phán hứa: “Khi nào Thần Khí sự thật đến. Người sẽ dẫn anh em tới sự thật toàn vẹn”. (Ga 16,13).

Sự thật toàn vẹn, chính là “Kẻ không có đức tin ‘nhìn’ cảnh đau khổ thì chỉ thấy một thảm kịch. Còn ai có niềm tin thì ‘thấy’ và xác tín rằng, đau khổ là được thông phần vào thập giá của Đức Ki-tô”.

 Sự thật toàn vẹn, chính là “Kẻ không có đức tin cầm một quyển Kinh Thánh trong tay thì ‘chỉ thấy’ toàn là những dòng chữ. Còn ai có đức tin thì ‘nhìn thấy’ đó là ‘đèn soi ta bước, là ánh sáng chỉ đường ta đi”.

Thật phải đạo, khi chúng ta ghi khắc trong con tim mình, lẽ thật rằng: “mù mắt sáng hồn hơn mù hồn sáng mắt”.

Ngày nay, mù-thể-lý không còn là điều đáng sợ. Y học ngày nay cho biết, những bệnh có thể gây mù, lé, nhược thị ở trẻ em thường gặp nhất, đó là: bệnh ROP, glocom bẩm sinh, đục thủy tinh thể và bướu nguyên bào võng mạc. Nhưng, nếu được phát hiện và điều trị sớm sẽ ngăn ngừa được mù lòa, giảm thiểu biến chứng.

Có sợ, hãy sợ căn bệnh “mù quáng”. Người-mù-quáng thấy rõ những “cái rác trong đôi mắt của người anh em”, nhưng lại không nhìn thấy “cái xà trong con mắt của mình”.

Mù thể lý là một mất mát lớn, nhưng không làm hại ai. Còn người bị bệnh “mù quáng”, họ có thể gây ra vô số điều tai hại cho mình cũng như cho tha nhân. Kinh Thánh cho chúng ta thấy, những ai mắc căn bệnh mù quáng, dễ trở thành kẻ sát nhân.

Vua David như một điển hình. Tuy đã có nhiều thê thiếp, nhưng David lại say mê bà Bát-sa-bê là vợ của Uria. Sự say mê đó đã làm cho nhà vua trở nên “mù quáng”. Bất chấp đạo lý, ông ta tìm cách chiếm đoạt Bát-sa-bê.

Một âm mưu thâm độc được ông ta vạch ra. Đó là, mượn tay quân địch giết chết Uria chồng bà Bát-sa-bê, ngoài mặt trận. Uria chết, ông David công khai lấy bà Bát-sa-bê.

Thế là cùng một lúc David phạm hai tội ác: tội ngoại tình và tội giết người. Thế mà, nhà vua vẫn bình thản như không thấy gì.

Sau này, nhờ Ngôn Sứ Na-ta-an đến cảnh tỉnh, David mới nhận ra căn bệnh “mù quáng” của mình, ông ăn năn thống hối. (II Sm 11,1-12,12).

Tưởng chúng ta cũng nên nhắc đến một ông vua nữa, ông Hê-rô-đê. Trước “một điệu vũ làm cho nhà vua và khách dự tiệc vui thích” của con gái bà Hê-rô-đi-a, Hê-rô-đê trở nên “mù quáng” chém đầu Gio-an Tẩy Giả, để đáp ứng lời yêu cầu của nàng vũ nữ. (Mc 6, 17-29).

Căn bệnh “mù quáng” rất đáng sợ. Khi nhiễm bệnh, nó sẽ làm cho ta sơ cứng tâm hồn. Sơ cứng tâm hồn, hậu quả là mất sức đề kháng (mất lý trí). Mất mất lý trí, những con virus-ích-kỷ, virus-vô-cảm, virus-thành-kiến, virus-tự-cao-tự-đại v.v… tha hồ tung hoành ngang dọc trong tâm hồn ta.

Điều hiển nhiên… chúng ta sẽ “mù bác ái, mù nhân hậu, mù từ tâm, mù nhẫn nhục, mù-trung-tín, mù-khiêm-nhường, mù-đức-tin” v.v…

Thế nên, hãy kiểm tra lại đôi mắt tâm hồn của ta và tự hỏi: tôi có đang mắc phải căn bệnh mù quáng?

Nếu có, hãy đến, không phải là đến hồ Si-lô-ác năm xưa, nhưng là “hồ Thánh Kinh”. Nơi đây, đôi mắt tâm linh của ta sẽ được tẩy rửa bằng Lời Chúa. Nơi đây, Lời Chúa sẽ tẩy rửa đôi mắt tâm linh của ta khỏi mọi sự gian tà, đem lại sự chữa lành và chúng ta sẽ “hấp thụ” được một thứ ánh sáng, một thứ ánh sáng “lương thiện, công chính và chân thật” (Ep 5, 9).

Khi hấp thụ được thứ ánh sáng “lương thiện, công chính và chân thật”, chúng ta không ngại để nói: “tôi đã rửa và tôi nhìn thấy”.

Tôi đã rửa và tôi nhìn thấy, tại sao không!

Petrus.tran

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây