TIN MỪNG CHÚA NHẬT - LỄ TRỌNG

Chúa nhật XVIII Thường Niên - Năm A

“Mọi người đều ăn no”. (Mt 14, 13-21)
Đọc các tin khác ➥
TÌM KIẾM

Điều Chúa muốn - Hãy biết chạnh lòng thương

Thứ bảy - 01/08/2026 06:08 | Tác giả bài viết: Petrus.tran |   40
Đức Giê-su ra khỏi thuyền, Ngài thấy ngay “một đoàn người đông đảo…”. Ngài chạnh lòng thương xót.

Chúa Nhật XVIII– TN – A
Điều Chúa muốn - Hãy biết chạnh lòng thương…

SnTM 010826a


Là người Công Giáo, chắc hẳn không ít lần, chúng ta được nghe bốn chữ “chạnh lòng thương xót”. Nghe… nhưng có bao giờ chúng ta tự hỏi: chạnh-lòng-thương-xót nghĩa là gì?

Vâng, theo cách hiểu phổ biến “chạnh lòng thương xót là cảm xúc rung động sâu sắc và đau thắt trong lòng, dẫn đến lòng trắc ẩn và hành động muốn giúp đỡ những ai đang gặp đau khổ, bất hạnh hoặc lầm than. Trong Kinh Thánh và đời sống đạo, đây là hình ảnh quen thuộc thể hiện tình yêu thương bao la của Thiên Chúa trước nỗi đau của con người.” (nguồn: internet).

Đúng vậy! Trong-Kinh-Thánh Đức Giê-su chính là hình ảnh tuyệt mỹ về tình yêu thương, về lòng trắc ẩn và lòng thương xót của Thiên Chúa dành cho con người.

Xưa, thời Cựu Ước, để nói lên lòng trắc ẩn và lòng thương xót của Thiên Chúa, ngôn sứ Isaia dùng hình ảnh tình yêu thương của một người mẹ dành cho đứa con sơ sinh của mình. Ngài ngôn sứ nói: “Có phụ nữ nào quên được đứa con thơ của mình, hay chẳng thương đứa con mình mang nặng đẻ đau? Cho dù nó có quên đi nữa, thì Ta, Ta cũng chẳng quên ngươi bao giờ” (Is 49, 15).

Nay, thời Tân Ước, Đức Giê-su, Con Một Thiên Chúa, Ngài cũng-chẳng-quên-ai-bao-giờ. Trong ba năm ra đi rao giảng Tin Mừng, Đức Giê-su thể hiện lòng trắc ẩn và lòng thương xót của mình bằng hành động. Những hành động Ngài thể hiện đã khiến mọi người “kinh ngạc - thán phục”.

Kinh Thánh cho biết, mọi người “kinh ngạc - thán phục” khi chứng kiến Đức Giê-su chữa lành bệnh nhân, làm cho kẻ chết sống lại. Đó như một minh chứng, rằng: “Muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương. (Tv 136, 24).

Còn lòng trắc ẩn thì sao? Thưa, Ngài đã thể hiện nhiều lần nhiều cách, phép lạ hóa-năm-chiếc-bánh-và-hai-con-cá cho năm ngàn người ăn no nê, như một điển hình.

Vâng, phép lạ vô tiền khoáng hậu này, được ghi lại trong Tin Mừng thánh Mát-thêu. (Mt, 14, 13-21).

**
Chuyện kể rằng: sau khi ông Gio-an Tẩy Giả bị chém đầu, và môn đệ ông ta đi báo cho Đức Giê-su biết. “…Đức Giê-su (liền) lánh khỏi nơi đó, đi thuyền đến một chỗ hoang vắng riêng biệt”. (x.Mt 14, 13).

Ngài đến một chỗ hoang vắng riêng biệt để nghỉ-ngơi-đôi-chút chăng? Có thể là vậy, vì đó là điều Đức Giê-su thường khuyên các môn đệ mình.

Tuy nhiên, hôm ấy, nếu Đức Giê-su có nghỉ-ngơi-đôi-chút, thì sự nghỉ ngơi của Ngài cũng bị gián đoạn, gián đoạn vì dân chúng “từ các thành đi bộ mà theo Người”.

Và, quả thật, khi Đức Giê-su ra khỏi thuyền, Ngài thấy ngay “một đoàn người đông đảo…”. Ngài chạnh lòng thương xót. Thương xót, vì trong số họ có cả những người bị bệnh cũng được đoàn người gồng gánh mang theo.

Một lần nọ, Đức Giê-su có lời tuyên phán, rằng: “Tôi đến là để chiên được sống và sống dồi dào”. Thế nên, hôm ấy, Ngài đã thực hiện lời tuyên phán của mình bằng cách “chữa lành các bệnh nhân của họ”. (x.Mt 14, 14).

Cứ sự thường, sau khi được chữa lành, mọi người sẽ giải tán ra về. Còn hôm ấy… hôm ấy, có vẻ như đám đông dân chúng không bận tâm về chuyện trở về nhà mình.

Thế rồi, khi “chiều đến”… Chiều đến… các môn đệ bắt đầu lo lắng. Các ông mang sự lo lắng đến với Đức Giê-su.

Chuyện kể tiếp rằng: “Các môn đệ lại gần thưa với Đức Giê-su: Nơi đây hoang vắng, và đã muộn rồi, vậy xin Thầy cho dân chúng về, để họ vào các làng mạc mua thức ăn’’.

Hợp lý quá đi chứ! Theo đúng “logic” thì nên giải tán đám đông, phần ẩm thực cho họ tự túc, nhẹ gánh nặng, Thầy và trò còn có thời gian nghỉ ngơi sau nhiều ngày mệt nhọc.

Nhưng… bản chất của Thiên Chúa là lòng trắc ẩn. Là “Agape”. Là tình yêu thương vô điều kiện. Thế nên, hôm ấy, khi các môn đệ vừa dứt lời, là một người có lòng trắc ẩn, Đức Giêsu đưa ra một phán quyết trái ngược, phán quyết rằng: “Họ không cần đi đâu cả. Chính anh em hãy cho họ ăn” (x.Mt 14, 16).

Chính anh em… Ôi! tệ thật… Vâng, sự thực rất là tệ! Một lệnh truyền gần như bất khả thi. Bất khả thi vì, theo lời tường trình của các môn đệ, thì “Ở đây, chúng con chỉ có vỏn vẹn năm cái bánh và hai con cá”, mà thôi.

Thế mà Thầy lại bảo “chính anh em” làm công việc “cứu đói”, thì có phải là đội đá vá trời! Ai ăn ai nhịn đây, thưa Thầy! Ai ăn ai nhịn ư! Không, với Đức Giê-su, Ngài đã có một kế hoạch.

Xưa, ngôn sứ Isaia nói với dân Do Thái về lòng trắc ẩn của Đức Chúa với dân của Người, rằng “Hãy chăm chú nghe Ta, thì các ngươi sẽ được ăn ngon, được thưởng thức cao lương mỹ vị”.

Nay, Đức Giê-su biểu lộ lòng trắc ẩn của của mình, qua một lệnh truyền tới các môn đệ: “Đem lại đây cho Thầy”.

Đem-lại-đây-cho-Thầy. Các môn đệ đã đem. Một chiều hoàng hôn tím như bừng sáng lên. Từng “nút thắt” của nan đề đã được Đức Giê-su tháo gỡ một cách ngoạn mục. Từng băn khoăn lo lắng của các môn đệ đã được Ngài hóa giải một cách nhẹ nhàng.

Hôm ấy, Đức Giê-su “truyền cho dân chúng ngồi xuống cỏ. Người cầm lấy năm cái bánh và hai con cá, ngước mắt lên trời, dâng lời chúc tụng, và bẻ ra trao cho môn đệ. Và môn đệ trao cho dân chúng.”

Hôm ấy, dân chúng “Ai nấy đều ăn và no nê.” Chưa hết, mọi người còn được nhìn tận mắt “Những mẩu bánh còn thừa, người ta thu lại được mười hai giỏ đầy. Số người ăn có tới năm ngàn người đàn ông, không kể đàn bà và trẻ con”. (x.Mt 14, 21).

***
Trong câu chuyện này, có một điều chúng ta cần chú ý, đó là việc Đức Giê-su “…Bẻ ra, trao cho môn đệ. Và môn đệ trao cho dân chúng.”

Tại sao? Tại sao Đức Giê-su không gọi vài ông hay một vài bà nào đó trong đám đông dân, như là người-đại-diện, để trao của ăn cho dân chúng?

“Trao cho môn đệ. Và môn đệ trao cho dân chúng…” Vâng, có thể nói, đây là một bài học, một bài học Đức Giê-su muốn dạy cho các môn đệ, rằng: trong tương lai, họ chính là những người thừa kế vai trò và sứ mạng coi sóc và chăn dắt đoàn chiên của Ngài.

Người môn đệ, hay nói đúng hơn, người mục tử của Đức Giêsu, không có chuyện, chỉ vì “nơi đây hoang vắng” và chỉ “có năm chiếc bánh và hai con cá” mà để chiên của mình “tản lạc không người chăn dắt…”

Người mục tử của Đức Giêsu phải là cánh tay nối dài của Ngài. Phải tiếp tục dang rộng đôi tay “Chăm sóc chiên con của Thầy”. Phải tiên phong trong việc “Chăn dắt chiên của Thầy”. (Ga 21,16-17).

Nói tắt một lời, người môn đệ phải là người cộng tác tích cực với Chúa trong chương trình cứu độ.

Vẫn biết rằng, bất cứ thời điểm nào, người môn đệ của Chúa cũng đều phải đối diện với những nan đề của thời đại. Nhưng có phải vì thế mà người môn đệ thoái thác sứ vụ của mình!

Hãy nhìn ngôn sứ Êlisa. Ngài chính là mẫu mực cho vai trò của người mục tử. Tuy chỉ có “hai mươi chiếc bánh lúa mạch và cốm đựng trong bị”, nhưng nhờ tin tưởng vào Lời Thiên Chúa phán “Họ sẽ ăn và sẽ còn dư”, nên ông ta đã bảo tiểu đồng “Cứ phát cho người ta ăn”. Và quả thật “họ đã ăn và vẫn còn dư, như lời ĐỨC CHÚA phán” (2V 4,44).

Cũng vậy với người mục tử hôm nay, hãy tin tưởng vào Lời Thiên Chúa như ngôn sứ Êlisa tin tưởng. Hãy tin tưởng vào Lời Đức Giêsu “Đem lại đây cho Thầy”.

Hãy mang tất cả những nan đề của thời đại, những “gian truân, khốn khổ, đói rách, hiểm nguy, bắt bớ, gươm giáo” v.v… mà đem lại đây cho Thầy Giêsu.

Chỉ khi mang tất cả mọi nan đề, cho-Thầy-Giêsu, vâng, khi đó, người mục tử mới có thể tràn đầy hy vọng rằng, sứ vụ của mình sẽ “toàn thắng”. Tất nhiên, sự toàn thắng đó là “nhờ Đấng đã yêu mến chúng ta” (Rm 8, 37).

****
Trở lại câu chuyện “Đức Giêsu hóa bánh ra nhiều.” Vâng, qua biến cố này, Đức Giêsu không chỉ chứng tỏ quyền năng của Ngài trên đời sống của nhân loại, nhưng Ngài còn muốn gửi đến mọi người một thông điệp, một thông điệp về lòng trắc ẩn, về tình liên đới, lòng quảng đại và tình bác ái.

Không tán thành ý kiến của các môn đệ về việc để dân chúng “vào thôn xóm và làng mạc chung quanh mà mua gì ăn” chính là bài học về lòng trắc ẩn, tình liên đới, lòng quảng đại, tình bác ái mà Đức Giêsu muốn dạy dỗ cho mọi người ở mọi thời đại.

Một vị Dalai Lama có nói: “Yêu thương và lòng trắc ẩn là những thứ thiết yếu, không phải xa hoa. Không có yêu thương và lòng trắc ẩn, nhân loại không thể tồn tại”.

Từ lời nói của vị Dalai Lama, chúng ta có thể nói rằng: lòng trắc ẩn, tình liên đới, lòng quảng đại và tình bác ái chính là “niềm hy vọng của sự sống cho mọi người”.

Người cha, trong “dụ ngôn người cha nhân hậu” nếu không có lòng trắc ẩn, lòng quảng đại”, có phần chắc, người con thứ sẽ không có cơ hội để đón nhận “niềm hy vọng của sự sống” cho chính bản thân của anh ta.

Thông điệp về lòng trắc ẩn, tình liên đới, lòng quảng đại và tình bác ái, quá rõ ràng. Và, chúng ta phải là những người thực hiện thông điệp đó. Bởi vì đó là lệnh truyền của Đức Giê-su.

Hôm nay, lệnh truyền của Đức Giê-su vẫn là hãy có lòng trắc ẩn, vẫn là hãy biết chạnh lòng thương xót, vẫn là”họ không cần đi đâu cả.”.

“Họ” của ngày hôm nay, có thể là những người “ngồi quanh đây trán in vết nhăn”. Có thể là những người ”khi mùa mưa về cùng lem nhem bước trên ngõ trơn.” Có thể là những người đang-cùng-nhau “chạy từng lưng cơm, áo che thân tàn.”

“Họ” của ngày hôm nay, không chỉ là những người đói-cơm-gạo mà còn là những-người-đói-lời… Lời-Thiên-Chúa.
Chúng ta là những người sẽ giải quyết những nan đề của “họ”, chăng! Vâng, chắc phải thế! Vì, nếu hôm nay Đức Giê-su hiện đến, Ngài cũng sẽ nói với chúng ta ‘y chang’ lời Ngài đã nói với các môn đệ năm xưa: “Chính anh em…”

Chính chúng ta phải là những nhà sản xuất, những nhà cung cấp, sản xuất và cung cấp ra những loại lương thực mang tên “bác ái, nhân hậu, từ tâm, hiền hòa, trung tín, tiết độ”, là những loại lương thực có thể thỏa mãn những nan đề, những cơn đói, cho những phận người, nêu trên.

Chính chúng ta phải “thỏa lấp những cơn đói của thời đại”. Thánh Thần Chúa vẫn luôn đồng hành với chúng ta. Đồng hành với chúng ta, giúp chúng ta thực hiện điều Chúa muốn.

Vâng, Điều Chúa muốn - hãy biết chạnh lòng thương xót.

Petrus.tran

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây