TIN MỪNG CHÚA NHẬT - LỄ TRỌNG

Chúa Nhật Phục Sinh -Năm A

"Người phải sống lại từ cõi chết". (Ga 20, 1-9)
Đọc các tin khác ➥
TÌM KIẾM

Lời Chúa CHÚA NHẬT PHỤC SINH -A

Thứ sáu - 27/03/2026 14:39 |   209
"Người phải sống lại từ cõi chết". (Ga 20, 1-9)

Ga 20,1-9

vượt qua ngôi mộ trống
Sáng sớm ng
ày th nht trong tun, lúc tri còn ti, bà Ma-ri-a Mác-đa-la đi đến m, thì thy tng đá đã lăn khi m. (Ga 20,1-2)

Suy niệm: Lời nguyện đầu lễ của Chúa nhật Phục sinh hôm nay ca ngợi Chúa Giê-su đã đánh bại thần chết và đưa ta vào cuộc sống tràn ngập ánh sáng. Nhưng theo diễn biến những gì đã xảy ra, buổi sáng sớm ngày Chúa sống lại không huy hoàng như vậy. Lúc ấy “trời vẫn còn ti. Thấy tảng đá đã lăn khỏi mộ, bà Ma-ri-a Mác-đa-la chỉ nghĩ là người ta đã ly mt xác Thy. Phê-rô và Gio-an chạy đến mộ cũng chỉ thấy một ngôi mộ trống. Trong khoảnh khắc giao thoa giữa ánh sáng và bóng tối đó, họ thoáng chốc ngỡ ngàng, hoang mang. Nhưng khi người môn đệ Chúa yêu bước vào trong ngôi mộ trống, “ông đã thy và đã tin. Khi tảng đá lấp cửa mộ lăn ra, “tử thn đã b vĩnh vin tiêu dit (x. Is 25,8), và “nọc độc ca t thn đã không còn tác dụng nữa (x. 1Cr 15,55).

Mời Bn: Ngôi m trng nhắc chúng ta nhớ đến những bóng tối trong cuộc đời: những thất bại, nỗi đau, hay bế tắc tưởng chừng không có lối thoát. Nhưng nhờ tin vào Đức Giê-su Ki-tô, “Đấng đã đánh bi thn chết và mở ra cho chúng ta cánh cửa hy vọng, chúng ta can đảm “vượt qua ngôi m trng và bước đi trong niềm hoan hỷ và ánh sáng của Đấng Phục Sinh.

Sống Li Chúa: Cảm nghiệm niềm vui lớn lao được sống cuộc sống mới trong Chúa phục sinh, bạn sẵn sàng xoá bỏ thành kiến, tha thứ hiềm khích cho người anh em.

Cầu nguyn: Ly Chúa Phc Sinh, xin cho con biết nhn ra nhng tia sáng hy vng ngay trong bóng ti ca đời mình, để con luôn vng tin rng Ngài đã thng thế gian. Amen.

 

BÀI ĐỌC TRONG THÁNH LỄ
Chúa Nhật Phục Sinh -Năm A
Mừng Chúa Sống Lại


Dẫn vào Thánh Lễ


Anh chị em thân mến,

Ngày trọng đại, vui mừng và mang nhiều ý nghĩa nhất của Kitô giáo đó là ngày đại lễ Phục Sinh hôm nay. Chính ngày hôm nay, làm cho tất cả các ngày lễ khác có ý nghĩa, kể cả lễ Giáng Sinh. Nếu Chúa không sống lại từ cõi chết thì như Thánh Phaolô Tông Đồ nói : tất cả nền tảng đức tin của chúng ta hoàn toàn sụp đổ, vô ý nghĩa và cuộc khổ nạn của Chúa Kitô trở thành một tin buồn chứ không phải Tin Vui. Sự Phục Sinh của Chúa cho chúng ta thấy rõ tình yêu mạnh hơn sự chết và tội lỗi của con người. Chúa Kitô sống lại, Ngài cũng mời gọi chúng ta cùng sống lại với Ngài để đem niềm tin yêu Phục Sinh này đến cho mọi người, đó chính là nguồn mạch của yêu thương. Vì thế, tiếng nói cuối cùng không phải là của sự dữ và tội ác, mà là lòng xót thương và tha thứ của Thiên Chúa. Sự Phục Sinh của Chúa Giêsu đã đổi mới tâm hồn tội lỗi của chúng ta trở nên đền thờ của Ngài, làm cho cuộc sống của chúng ta tràn đầy niềm tin và hy vọng. Vậy giờ đây, chúng ta cùng nhau hiệp dâng Thánh Lễ này trong tâm tình tạ ơn và ngợi khen quyền năng vô biên của Thiên Chúa đã làm cho Đức Ki-tô sống lại khải hoàn.

Ca nhập lễ

Tôi đã sống lại và tôi vẫn còn ở bên Chúa, Chúa đã đặt tay trên mình tôi, sự thông minh của Chúa quá ư huyền diệu - Alleluia.

Hoặc đọc:

Chúa sống lại thật, alleluia, nguyện chúc Người được vinh quang và quyền lực muôn đời.

Ðọc hoặc hát kinh Tin Kính

Lời nguyện nhập lễ

Lạy Chúa từ ái, ngày hôm nay, Ðức Giêsu đã đánh bại thần chết, khai đường mở lối cho chúng con vào cuộc sống muôn đời. Nay chúng con đang hoan hỷ mừng Người sống lại, xin Chúa ban Thánh Thần làm cho chúng con trở nên người mới để sống một cuộc đời tràn ngập ánh sáng Ðấng Phục Sinh. Người là Thiên Chúa hằng sống và hiển trị cùng Chúa, hiệp nhất với Chúa Thánh Thần đến muôn thuở muôn đời.

Bài Ðọc I: Cv 10, 34a. 37-43

"Chúng tôi đã ăn uống với Người, sau khi Người từ cõi chết sống lại".

Trích sách Tông đồ Công vụ.

Trong những ngày ấy, Phêrô lên tiếng nói rằng: "Như anh em biết điều đã xảy ra trong toàn cõi Giuđêa, khởi đầu từ Galilêa, sau khi Gioan rao giảng phép rửa: ấy là Chúa Giêsu thành Nadarét. Thiên Chúa đã dùng Thánh Thần và quyền năng mà xức dầu cho Người. Người đi khắp nơi, ban bố ơn lành và chữa mọi người bị quỷ ám, bởi vì Thiên Chúa ở cùng Người. Và chúng tôi, chúng tôi là chứng nhân tất cả những gì Người đã làm trong nước Do-thái, và tại Giêrusalem, Người là Ðấng người ta đã giết treo Người trên thập giá. Nhưng ngày thứ ba, Thiên Chúa đã cho Người sống lại và hiện ra không phải với toàn dân, mà là với chúng tôi là nhân chứng Thiên Chúa đã tuyển chọn trước, chính chúng tôi đã ăn uống với Người sau khi Người từ cõi chết sống lại. Và Người đã truyền cho chúng tôi rao giảng cho toàn dân và làm chứng rằng chính Người đã được Thiên Chúa tôn làm quan án xét xử kẻ sống và kẻ chết. Mọi tiên tri đều làm chứng về Người rằng: Tất cả những ai tin vào Người, thì nhờ danh Người mà được tha tội".

Ðó là lời Chúa.

Ðáp Ca: Tv 117, 1-2. 16ab-17. 22-23

Ðáp: Ðây là ngày Chúa đã lập ra, chúng ta hãy mừng rỡ hân hoan về ngày đó

Hoặc đọc: Alleluia.

Xướng: Hãy cảm tạ Chúa, vì Chúa hảo tâm, vì đức từ bi của Người muôn thuở. Hỡi nhà Israel, hãy xướng lên: "Ðức từ bi của Người muôn thuở".

Xướng: Tay hữu Chúa đã hành động mãnh liệt, tay hữu Chúa đã cất nhắc tôi lên. Tôi không chết, nhưng tôi sẽ sống, và tôi sẽ loan truyền công cuộc của Chúa.

Xướng:  Phiến đá mà những người thợ xây loại bỏ, đã biến nên tảng đá góc tường. Việc đó đã do Chúa làm ra, việc đó kỳ diệu trước mắt chúng ta.

Bài Ðọc II: Cl 3, 1-4

"Anh em hãy tìm những sự trên trời, nơi Ðức Kitô ngự".

Trích thư Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Côlôxê.

Anh em thân mến, nếu anh em đã sống lại với Ðức Kitô, anh em hãy tìm những sự trên trời, nơi Ðức Kitô ngự bên hữu Thiên Chúa. Anh em hãy nghĩ đến những sự trên trời, chứ đừng nghĩ đến những sự dưới đất. Vì anh em đã chết, và sự sống anh em được ẩn giấu với Ðức Kitô trong Thiên Chúa. Khi Ðức Kitô là sự sống anh em xuất hiện, bấy giờ anh em sẽ xuất hiện với Người trong vinh quang.

Ðó là lời Chúa.

Hoặc đọc: 1 Cr 5, 6b-8

"Anh em hãy tìm những sự trên trời, nơi Ðức Kitô ngự".

Trích thư thứ nhất của Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Cô-rintô.

Anh em thân mến, anh em không biết sao?: chỉ một tí men là đã đủ làm dậy men cả khối bột! Anh em hãy tẩy trừ men cũ để nên bột mới anh em là bánh không men. Vì Chiên Vượt Qua của ta, là Ðức Kitô, đã chịu sát tế. Cho nên ta hãy mừng lễ, đừng với men cũ, và men gian tà, ác độc, nhưng là với Bánh không men của lòng tinh tuyền và chân thật.

Ðó là lời Chúa.

Ca Tiếp Liên

(Ðọc trong Chúa Nhật Phục Sinh, còn các ngày khác trong tuần Bát nhật thì không buộc đọc)

Các Kitô hữu hãy tiến dâng

lời khen ngợi hy lễ Vượt Qua.

Chiên con đã cứu chuộc đoàn chiên mẹ:

Ðức Kitô vô tội đã hoà giải tội nhân với Chúa Cha.

Sống và chết hai bên song đấu cách diệu kỳ,

tướng lãnh sự sống đã chết đi, nhưng vẫn sống mà cai trị.

Hỡi Maria, hãy nói cho chúng tôi nghe

bà đã thấy gì trên quãng đường đi?

Tôi đã thấy mồ Ðức Kitô đang sống

và vinh quang của Ðấng Phục Sinh,

thấy các thiên thần làm chứng,

thấy khăn liệm và y phục.

Ðức Kitô là hy vọng của tôi đã phục sinh,

Người đi trước chư vị tới xứ Galilêa.

Chúng tôi biết Ðức Kitô đã sống lại thật từ cõi chết!

Lạy Chúa, Vua chiến thắng, xin thương xót chúng con.

Alleluia

Alleluia, alleluia! - Lễ Vượt Qua của chúng ta là Ðức Kitô đã hiến tế vậy chúng ta hãy mừng lễ trong Chúa. - Alleluia.

PHÚC ÂM: Ga 20, 1-9

"Người phải sống lại từ cõi chết".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.

Ngày đầu tuần, Maria Mađalêna đi ra mồ từ sáng sớm khi trời còn tối và bà thấy tảng đá đã được lăn ra khỏi mồ, bà liền chạy về tìm Simon-Phêrô và người môn đệ kia được Chúa Giêsu yêu mến, bà nói với các ông rằng: "Người ta đã lấy xác Thầy khỏi mồ, và chúng tôi không biết người ta đã để Thầy ở đâu". Phêrô và môn đệ kia ra đi đến mồ. Cả hai cùng chạy, nhưng môn đệ kia chạy nhanh hơn Phêrô, và đến mồ trước. Ông cúi mình xuống thấy những khăn liệm để đó, nhưng ông không vào trong. Vậy Simon-Phêrô theo sau cũng tới nơi, ông vào trong mồ và thấy những dây băng nhỏ để đó, và khăn liệm che đầu Người trước đây, khăn này không để lẫn với dây băng, nhưng cuộn lại để riêng một chỗ. Bấy giờ môn đệ kia mới vào, dù ông đã tới mồ trước. Ông thấy và ông tin, vì chưng các ông còn chưa hiểu rằng, theo Kinh Thánh, thì Người phải sống lại từ cõi chết.

Ðó là lời Chúa.

Lời nguyện tín hữu (GP.BMT)

CHỦ TẾ: Anh chị em thân mến, Thiên Chúa là Cha Toàn Năng đã làm cho Đức Kitô sống lại từ cõi chết, để phá tan quyền lực tử thần và ban cho chúng ta sự sống mới. Trong niềm tin tưởng hân hoan, chúng ta cùng dâng lên Người những lời nguyện xin:

1. “Người truyền cho chúng tôi phải rao giảng cho dân. Chúng ta cùng cầu xin Chúa cho các Chủ chăn của Hội Thánh, luôn vững tin vào mầu nhiệm Vượt Qua của Đức Kitô, để nhiệt tâm loan báo Tin Mừng Phục Sinh cho con người hôm nay, bằng lời rao giảng và gương sáng của mình.

2. “Phàm ai tin vào Người thì sẽ nhờ Danh Người mà được ơn tha tội.” Chúng ta cùng cầu xin Chúa cho những tâm hồn đang chìm đắm trong vũng lầy tội lỗi và đam mê thấp hèn, biết can đảm đứng lên trở về với Chúa và Hội Thánh, để tìm lại nguồn ơn tha thứ và vui sống bình an.

3. “Anh em hãy hướng lòng trí về những gì thuộc thượng giới.” Chúng ta cùng cầu xin Chúa cho những anh chị em vừa được thanh tấy và gia nhập gia đình Hội Thánh, biết luôn hướng về những điều thánh thiện và tốt lành, để mỗi ngày được vui sống bình an và ân sủng đầy tràn.

4. “Ông thấy và ông tin.” Chúng ta cùng cầu xin Chúa củng cố đức tin của mỗi người trong cộng đoàn chúng ta, để nhờ đó, chúng ta có thể can đảm tuyên xưng đức tin trong mọi nghịch cảnh của cuộc đời và trở nên chứng nhân của Đấng Phục Sinh cho thế giới hôm nay.

CHỦ TẾ: Lạy Chúa, chúng con hân hoan mừng kính Con Chúa đã chịu chết và sống lại để cứu độ chúng con. Xin nhậm lời chúng con cầu nguyện, và cho niềm vui Chúa sống lại hôm nay, biến đổi chúng con trở nên những nhân chứng hăng say loan báo Tin Mừng Phục Sinh giữa lòng thế giới hôm nay. Chúng con cầu xin nhờ Đức Kitô, Chúa chúng con.

Lời nguyện tín hữu
Chủ tế: Anh chị em thân mến, Thiên Chúa Cha đã làm cho Đức Giêsu từ cõi chết sống lại. Trong Ngày cực thánh này, chúng ta hãy nâng tâm hồn lên với Chúa dâng lời cầu nguyện, để niềm vui Phục Sinh của Con Chúa lan tỏa khắp trần gian.

1. Xin cho niềm vui Phục Sinh làm cho Hội Thánh được đổi mới và hăng hái dấn thân như bà Maria Ma-đa-lê-na, Thánh Phêrô và Thánh Gioan trong việc làm chứng và loan báo Tin Mừng Đức Giêsu Phục Sinh.

2. Xin cho cuộc chiến thắng tội lỗi và sự chết của Chúa Kitô trở nên nguồn an ủi và hy vọng cho những ai đang đau khổ vì bệnh tật, nghèo đói, bị bỏ rơi hay chịu bất công xã hội.

3. Xin cho sự Phục Sinh của Chúa Kitô trở nên nguồn hòa giải và phúc bình an cho những ai đang sống trong hận thù, bạo lực và chiến tranh.

4. Xin cho Tin Mừng Phục Sinh biến đổi tâm hồn chúng ta, đặc biệt là các anh chị em tân tòng vừa được tháp nhập vào Thân thể mầu nhiệm của Chúa Kitô, để chúng ta luôn bước đi trong ánh sáng Phục Sinh và từ khước bóng tối tội lỗi.

Chủ tế: Lạy Cha chí thánh, trong sự Phục Sinh của Con Cha, Cha đã xóa tan mọi sợ hãi và làm hiện thực hóa những gì chúng con không dám hy vọng. Xin nghe lời chúng con cầu nguyện để chúng con luôn sống trong niềm vui của đoàn dân đã được Con Cha cứu chuộc. Người hằng sống và hiển trị muôn đời.

Lời nguyện tiến lễ

Lạy Chúa, hôm nay mừng đại lễ Vượt Qua, chúng con hoan hỷ dâng lên Chúa lễ tế này, là lễ tế làm cho Giáo Hội được tái sinh vào đời sống mới, và được nuôi dưỡng cách lạ lùng. Chúng con cầu xin...

Lời tiền tụng Phục Sinh I: "nhất là trong ngày cực thánh này"

Khi dùng kinh Tạ Ơn I thì đọc kinh "Cùng hiệp thông..." và kinh "Vậy, lạy Cha..."

Ca hiệp lễ

Chiên Vượt qua của chúng ta là Đức Kitô đã hiến tế, vì thế chúng ta hãy mừng lễ với bánh không men tinh tuyền và chân chính - Alleluia.

Lời nguyện hiệp lễ

Lạy Chúa rất từ bi nhân hậu, nhờ mầu nhiệm Vượt Qua, Chúa đã thương đổi mới Hội Thánh; xin Chúa cũng luôn che chở giữ gìn, để Hội Thánh được thấy ngày sống lại vinh quang. Chúng con cầu xin...

Ðể giải tán, phó tế hoặc chính linh mục nói:

X. Lễ đã xong, chúc anh chị em đi bình an. Ha-lê-lu-ia. Ha-lê-lu-ia

Ð. Tạ ơn Chúa. Ha-lê-lu-ia. Ha-lê-lu-ia.

Câu giải tán này dùng cho đến hết Chúa Nhật II Phục Sinh.

 

Suy niệm

Chứng nhân Phục sinh
Gm Giuse Vũ Văn Thiên

Trong thời sơ khai của Giáo Hội, những lời giảng dạy của các tông đồ mang nội dung chính yếu là sự phục sinh của Đức Giêsu. Nội dung giảng dạy này được gọi là Kerygma, Đó cũng là chủ đề trọng tâm các cuộc tranh luận giữa thánh Phaolô với người Do Thái cũng như với dân ngoại. Tại Xêdarê, ông Phéttô báo cáo vua Ác-ríp-pa nhân dịp vua đến thăm: "Họ chỉ tranh luận với ông ta về một số vấn đề liên quan đến tôn giáo riêng của họ, và liên quan đến một ông Giêsu nào đó đã chết, mà Phaolô quả quyết là vẫn sống" (Cv 25, 19). Giảng về Đức Giêsu phục sinh cũng là một điều gây vấp phạm đối với cử tọa, như trường hợp ở Athena, vừa khi thánh Phaolô nói đến Chúa Giêsu sống lại, thì nhiều người nhạo cười và bỏ về (x. Cv17, 22-32).

Thực ra, khi Chúa bước ra khỏi mồ, không có môn đệ nào chứng kiến. Ngôi mộ trống là khởi điểm cho những câu hỏi được đặt ra, khiến họ hồi tưởng quá khứ để suy tư những lời Chúa đã nói trước. Thế rồi, họ được gặp Chúa phục sinh. Lúc đầu họ còn ngờ vực, nhưng rất nhanh sau đó, họ đã nhận ra Người. Họ còn được đàm đạo và ăn uống với Người. Nhờ đó mà họ có cảm nhận rất sâu sắc về Đấng Phục sinh.

Sự phục sinh của Chúa giúp các tông đồ kiên vững lòng tin vào Thày mình. Trường hợp hai môn đệ trên đường Emmaus là một chứng minh. Trước khi gặp Chúa, các ông mệt mỏi, thất vọng và đang tính bỏ cuộc, nhưng sau khi nhận ra Thày mình, họ tìm lại nghị lực, vui tươi, phấn khởi và lên đường về Giêrusalem ngay trong đêm ấy. Biến cố phục sinh cũng giúp cho họ hiểu hơn về giáo huấn của Chúa Giêsu. Quan niệm của họ về Chúa Giêsu được nhìn với nhãn giới "hậu-phục-sinh" và nhờ đó, họ có một chân dung xác thực về Đấng Thiên Sai.

Chính chứng từ của các tông đồ đã làm nên sức mạnh của cộng đoàn tín hữu tiên khởi và đem lại hiệu quả nhanh chóng của công cuộc truyền giáo. Những người đương thời với tông đồ không nhìn thấy Đấng Phục Sinh, nhưng qua cử chỉ, lời nói và nhất là qua niềm xác tín của những người dân chài chất phác này, họ thấy được Chúa Giêsu đang hiện diện. Họ thấy rằng sự kiện một người đã chết rồi sống lại không thể lý giải được bằng lý trí, nhưng cũng không phải là chuyện tầm phào, vì chứng nhân sẵn sàng lấy mạng sống của mình để làm chứng. Đối diện với các nhà chức trách đạo cũng như đời, những người dân chài hiền lành này lại rất can đảm, không phải bằng một thứ lý luận uyên thâm, nhưng rất đơn giản và chắc chắn: "Phần chúng tôi, những gì tai đã nghe, mắt đã thấy, chúng tôi không thể không nói ra" (Cv 4,20).

Những chứng nhân phục sinh là ai? Đầu tiên, phải kể đến Maria Mađalêna, một người đã nghe lời Chúa giáo huấn mà rũ bỏ quá khứ tội lỗi. Kế đến là những tông đồ, những người đã cùng sống với Chúa, đã chứng kiến những phép lạ Người làm. Các tông đồ là những người dân chài ít học. Họ không lý luận uyên thâm thông thái. Họ chỉ nói điều họ đã nghe, đã thấy và đã cảm nhận.

Khi mừng lễ Phục sinh, tôi được mời gọi trở thành chứng nhân của sự kiện Chúa sống lại. Tuy vậy, để có thể làm chứng về Đấng Phục Sinh, tôi phải biết Người, phải gặp Người và cảm nhận được sự hiện diện của Người trong đời tôi. Tôi không thể làm chứng về một người hay một sự việc mà tôi không biết chắc. Làm chứng nhân cho Đấng Phục Sinh hôm nay đôi khi phải chấp nhận là kẻ "ngược dòng" trong một xã hội xô bồ, phức tạp. Các tông đồ và các thánh tử đạo sau này đã những người dám đem mạng sống mình để "đặt cược" cho lời chứng về Chúa Giêsu, Đấng đã chết và đã sống lại. Một chứng từ được cam kết bằng mạng sống sẽ có tính thuyết phục mạnh mẽ và làm cho người khác tin. Xác tín nơi Đấng Phục Sinh, các tông đồ khi bị đánh đòn và bạc đãi, lại "hân hoan bởi được coi là xứng đáng chịu khổ nhục vì danh Đức Giêsu" (Cv 5,41).

"Bà Maria ơi, trên đường bà thấy những gì? Xin kể cho chúng tôi nghe" (Ca Tiếp liên lễ Phục Sinh). Ngày hôm nay, xung quanh tôi, có biết bao người đang đặt câu hỏi này cho tôi. Tôi đã thấy những gì? Tôi có gặp Đấng Phục Sinh giữa đời tôi hay không? Sự hiểu biết Chúa của tôi có thâm sâu đến mức tôi có thể kể cho mọi người nghe về Người? Hay tôi chỉ biết Chúa như một nhân vật của huyền thoại hoặc một nhân vật của lịch sử. Sự hiểu biết Chúa phải dẫn tôi đến việc biến đổi canh tân cuộc đời, để tôi được sống lại với Chúa. Nói cách khác, chính Chúa Phục Sinh sống trong tôi và làm đổi mới tận căn cuộc đời tôi, đến mức "tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Kitô sống trong tôi" (Gl 2,20). Đối với những người đang đau khổ vì bệnh tật, vì đói nghèo, vì bất công, tôi làm thế nào để kể cho họ nghe về Đấng Sống Lại đã đến nâng đỡ hai môn đệ trên đường Emmaus, giúp họ tìm lại nghị lực và niềm tin? Với những người đang sống trong chia rẽ bất hòa, tôi làm thế nào để kể cho họ nghe về Đấng Sống Lại đang yêu thương tha thứ? Chứng từ phục sinh phải đến từ cuộc sống an bình, vui tươi và thấm đượm ân sủng.

Hiểu được như trên, mỗi tín hữu sẽ trở thành một chứng nhân của Đấng Phục Sinh giữa đời thường. Họ sẽ làm lan tỏa đến mọi môi trường cuộc sống niềm vui của Tin Mừng và tình yêu thương của Thiên Chúa là Cha của gia đình nhân loại.

Gm Giuse Vũ Văn Thiên
 

CHÚA NHẬT PHỤC SINH
Lm. Phêrô Trần Bảo Ninh
 
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan (Ga 20, 1-9).
 
Ngày đầu tuần, Maria Mađalêna đi ra mồ từ sáng sớm khi trời còn tối và bà thấy tảng đá đã được lăn ra khỏi mồ, bà liền chạy về tìm Simon-Phêrô và người môn đệ kia được Chúa Giêsu yêu mến, bà nói với các ông rằng: “Người ta đã lấy xác Thầy khỏi mồ, và chúng tôi không biết người ta đã để Thầy ở đâu”. Phêrô và môn đệ kia ra đi đến mồ. Cả hai cùng chạy, nhưng môn đệ kia chạy nhanh hơn Phêrô, và đến mồ trước. Ông cúi mình xuống thấy những khăn liệm để đó, nhưng ông không vào trong. Vậy Simon-Phêrô theo sau cũng tới nơi, ông vào trong mồ và thấy những dây băng nhỏ để đó, và khăn liệm che đầu Người trước đây, khăn này không để lẫn với dây băng, nhưng cuộn lại để riêng một chỗ. Bấy giờ môn đệ kia mới vào, dù ông đã tới mồ trước. Ông thấy và ông tin, vì chưng các ông còn chưa hiểu rằng, theo Kinh Thánh, thì Người phải sống lại từ cõi chết.
 
Suy niệm
 
Hôm nay, toàn thể Giáo hội Công giáo đón mừng đại lễ Phục sinh, Đức Giêsu đã bị giết chết, đã được an táng trong mồ ba ngày, và hôm nay đã sống lại trong quyền năng và vinh quang của Thiên Chúa.
 
Biến cố Đức Giêsu phục sinh đã làm cho các môn đệ, những người lãnh đạo tôn giáo và cộng đoàn dân chúng thay đổi hoàn toàn về sự hiện diện của chàng thanh niên vô danh nơi gia đình Ông Bà Giuse. Sự phục sinh của Đức Giêsu được hiểu như là một cuộc trở về với địa vị ban đầu của Ngài là ngai toà của Con Thiên Chúa trên trời. Dù là Con Thiên Chúa, Ngài đã vâng lời Chúa Cha, đi vào lịch sử nhân loại, nơi đó Ngài đã bị chối từ ngay từ lúc chào đời, đặc biệt trong thời gian Ngài xuất hiện công khai. Thế nhưng, những ai được Ngài tuyển chọn và cho đồng hành với Ngài trong suốt thời gian công khai đó, họ sẽ là những chứng nhân cho mầu nhiệm phục sinh của Ngài. Họ được mời gọi lên đường, đem tin vui phục sinh đó đến tận cùng trái đất. Bài đọc 1 trong sách Tông Đồ Công Vụ tường thuật cho chúng ta đôi nét về ơn gọi của các môn đồ Đức Giêsu: “Và chúng tôi, chúng tôi là chứng nhân tất cả những gì Người đã làm trong nước Do-thái, và tại Giêrusalem, Người là Ðấng người ta đã giết treo Người trên thập giá. Nhưng ngày thứ ba, Thiên Chúa đã cho Người sống lại và hiện ra không phải với toàn dân, mà là với chúng tôi là nhân chứng Thiên Chúa đã tuyển chọn trước, chính chúng tôi đã ăn uống với Người sau khi Người từ cõi chết sống lại. Và Người đã truyền cho chúng tôi rao giảng cho toàn dân và làm chứng rằng chính Người đã được Thiên Chúa tôn làm quan án xét xử kẻ sống và kẻ chết”. Các môn đệ là những người làm chứng cho mầu nhiệm phục sinh, họ được mời gọi đi theo Ngài, được sống bên cạnh Ngài, được chứng kiến mầu nhiệm tử nạn và phục sinh của Thầy mình, và sau khi được chứng kiến tất cả, họ được Chúa Thánh Thần sai đi. Tiếp bước các môn đệ, Giáo hội nay lên đường để loan báo Tin Mừng phục sinh cho thế giới. Lời loan báo luôn đi kèm là lời chứng, các môn đệ đã dùng chính mạng sống mình làm lời chứng sống động và hùng hồn nhất, để nói về một tình yêu của Thiên Chúa dành cho con người, tình yêu đó được cụ thể hoá qua mầu nhiệm nhập thể của Người Con là Đức Giêsu. Người Con đó đã chấp nhận bản án bất công, chấp nhận bị treo trần trụi trên thập giá để cứu độ con người.
 
Các môn đệ đã lên đường, rảo khắp mọi lối nẻo của thế trần, rồi bước chân được tiếp nối là các nhà truyền giáo, các Kitô hữu mọi thời, tất cả đều được mời gọi tiếp nối sứ mạng đó. Lời nhắc của vị tông đồ dân ngoại trong lá thư gởi giáo đoàn Coloxe cũng là lời nhắc gởi đến mỗi người tín hữu hôm nay: “nếu anh em đã sống lại với Ðức Kitô, anh em hãy tìm những sự trên trời, nơi Ðức Kitô ngự bên hữu Thiên Chúa. Anh em hãy nghĩ đến những sự trên trời, chứ đừng nghĩ đến những sự dưới đất”. Để tìm được những sự trên trời, người chứng nhân phải sống theo tinh thần của Tin Mừng, phải cố gắng để lau sạch khuôn mặt của Thầy Chí Thánh mình đang bị nhơ nhớp, đang bị xoá nhoà bởi những xu hướng của thế tục hoá, của những trào lưu thực dụng, của những suy nghĩ lệch lạc về niềm tin, về các bí tích, về đời sống phụng vụ của giáo hội, đặc biệt là quyền làm người, là sự sống của các thai nhi, là vị thế của những người già cả, tàn tật, cô đơn và bất hạnh. Nơi những con người đó, khuôn mặt của Đức Giêsu bị dơ bẩn, bị ô uế, và đang cần những chiếc khăn sạch đến từ những Veronica để được rửa, được lau và được xứng đáng gọi là con người. Có phải lúc đó, người môn đệ của Đức Giêsu đang sống mầu nhiệm phục sinh với Thầy của mình, đang mừng mừng tủi tủi được gặp lại Thầy sau những ngày bị chôn vùi, sau những thất bại và sau những nấm mồ lạnh.
 
Câu chuyện bà Maria Madala ra viếng mồ Thầy mình khi vừa tảng sáng, được thánh Gioan kể lại rất thật. Tâm trạng sợ hãi, nghi ngờ, hoang mang trong tinh thần của người phụ nữ đã dẫn đến sự hoài nghi, hoài nghi có phải đó là Thầy mình không? Hoài nghi Thầy mình có sống lại như lời đã loan báo trước khi bước vào cuộc khổ nạn không? Sự hoài nghi đó làm tăng thêm nỗi hoảng loạn, dẫn đến chỗ đã không nhận ra được Thầy mình đã sống lại. Câu chuyện được kể tiếp về chuyến thăm mộ của hai môn đồ là Phêrô và Gioan, hai ông chạy ra mồ, kẻ vào trước, người vào sau, thấy tất cả những thứ liên quan đến việc tống táng cho Thầy, nhưng đặc biệt là không thấy thân xác Thầy. Trở ra, các ông bắt đầu hoài nghi, băn khoăn về sự lạ này. Có hay không Thầy mình đã sống lại: “Ngày đầu tuần, Maria Mađalêna đi ra mồ từ sáng sớm khi trời còn tối và bà thấy tảng đá đã được lăn ra khỏi mồ, bà liền chạy về tìm Simon-Phêrô và người môn đệ kia được Chúa Giêsu yêu mến, bà nói với các ông rằng: “Người ta đã lấy xác Thầy khỏi mồ, và chúng tôi không biết người ta đã để Thầy ở đâu”. Phêrô và môn đệ kia ra đi đến mồ. Cả hai cùng chạy, nhưng môn đệ kia chạy nhanh hơn Phêrô, và đến mồ trước. Ông cúi mình xuống thấy những khăn liệm để đó, nhưng ông không vào trong. Vậy Simon-Phêrô theo sau cũng tới nơi, ông vào trong mồ và thấy những dây băng nhỏ để đó, và khăn liệm che đầu Người trước đây, khăn này không để lẫn với dây băng, nhưng cuộn lại để riêng một chỗ”. Có thể nói những chứng nhân đầu tiên khi ra mộ và thấy trống trải đó đã trải qua những phút giây hoài nghi về sự biến mất kỳ lạ của Thầy. Trước khi bước vào cuộc khổ nạn, Đức Giêsu đã báo trước cho họ không chỉ một lần mà tới ba lần. Con số ba là con số được coi là đầy đủ và mạnh mẽ nhất trong lời chứng. Họ đã nghe tới ba lần, thế mà, lúc này lại hoài nghi và hoài nghi cách hoang mang. Thầy đã sống lại như lời tiên báo, vậy mà các môn đệ đã hoài nghi là chưa sống lại. Một sự thử thách lớn trong niềm tin vào Chúa phục sinh.
 
Khi còn tại thế, Đức Giêsu đã loan báo cho các đồ đệ của mình về kế hoạch của Chúa Cha muốn nơi Ngài, là Ngài sẽ đi vào cuộc khổ nạn với những lời kết tội vô lý đến từ sự cố chấp và kiêu căng, vậy mà ít có ai trong đám môn đệ kia đã hiểu và đã chấp nhận đó là sự thật. Tất cả được hiển lộ khi Đức Giêsu sống lại. Sống bên cạnh Chúa, nghe Chúa nói, theo chân Chúa mỗi ngày, thế mà niềm tin của các môn đệ trong cộng đoàn sơ khai vẫn nông cạn và hơn nữa là hoài nghi. Thử hỏi ngày hôm nay, các tín hữu Kitô là môn đệ của Đức Giêsu, niềm tin của họ có nông cạn, có hoài nghi như các môn đệ ngày xưa không? Trong mọi biến cố cuộc đời, trong những nghịch cảnh của thế giới, chúng ta có tin nhận là vẫn có sự hiện diện của Chúa phục sinh nơi đó không? Giữa cơn đại dịch, khuôn mặt và phẩm giá của người nghèo, người già có được nhìn nhận và chăm sóc như đang chăm sóc khuôn mặt và phẩm giá của Chúa phục sinh không? Giá trị của con người luôn được đặt đúng chỗ và là ưu tiên nhất, hay giá trị của tiền bạc, quyền lực và thế lực được ưu tiên hơn, và như thế có phải là lúc con người đang hoài nghi không Thầy mình là Đức Giêsu chưa phục sinh, chưa sống lại và không hiện diện giữa lòng nhân loại, trong lòng Giáo hội đó. Sống trong một thế giới được mệnh danh là hiện đại nhưng rất thực dụng, thì niềm tin tôn giáo có phải là một điều gì đó mơ hồ và viễn vông không? Niềm tin tôn giáo đó lại tin vào một Đấng gọi là Giêsu đã chết và nay đã sống lại, liệu có quá mơ hồ, thiếu thực dụng và thiếu bằng chứng không? Để chấp nhận một vị Thiên Chúa làm người đã chết và đã sống lại, đang hiện diện trong thế giới này, đòi hỏi người tin phải vượt lên trên mọi rào cản của thế giới như mọi người đang chứng kiến hôm nay. Chính những rào cản đó đang làm cho người tin trở nên những người nhẹ dạ, những người mê tín, thậm chí là hoang tưởng. Trong bối cảnh đó, người tín hữu Kitô phải mạnh dạn làm chứng rằng Đức Giêsu, Con Thiên Chúa làm người, đã chết và đã sống lại, đang hiện diện giữa thế giới hôm nay qua những con người dám hy sinh, dám chấp nhận khổ đau, dám quên mình để phục vụ tha nhân, dám chia sẻ cả sự sống của mình cho tha nhân, dám vượt qua mọi thách đố để lau khuôn mặt của Thầy Chí Thánh đang vấy bùn đất trong một xã hội nhiễu nhương và đầy bất công. Người tín hữu Kitô có sẵn sàng nắm tay nhau để bảo vệ công lý, bảo vệ đức tin khi kẻ thù của Thiên Chúa đang tìm đủ mọi cách để tấn công, để xoá sổ Giáo hội và đang tìm mọi thủ đoạn để bóp nghẹt sự sống thiêng liêng của các linh hồn.
 
Lắm lúc chúng ta chấp nhận sự an phận và an toàn để sống dù rằng mang trên mình chiếc áo là Kitô hữu, nhưng thực sự có Chúa trong tâm hồn không thì không biết, họ tìm sự an toàn cho bản thân, lảng tránh những đói khát của các linh hồn, lảng tránh những đau khổ của tha nhân. Họ thu mình lại trong vỏ ốc với nhiều lý do để được an phận. Thế thì Tin Mừng phục sinh làm sao được loan đi khi bao người đang đói, đang khát và đang lạnh đây? Các tông đồ ngày xưa đã làm chứng cho Tin Mừng phục sinh không chỉ bằng lời nói, bằng kiến thức uyên thâm, bằng tài năng xuất chúng, nhưng hơn đó nhiều là bằng sự sống và những giọt máu đào của mình. Chứng nhân Tin Mừng phục sinh sẽ là thế, và sẽ đòi hỏi rất nhiều trong hoàn cảnh cuộc sống hôm nay, đặc biệt trong đại dịch đang hoành hành khắp thế giới.
 
Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã phục sinh, đã đem đến cho nhân loại một tin vui là con người nếu tin vào Thiên Chúa, đi theo con đường Ngài giới thiệu, sẽ được sống lại và sống bên cạnh Thiên Chúa, xin cho mỗi người luôn xác tín lại niềm tin của mình, đặc biệt là cho niềm tin đó luôn sống động trong mọi hoàn cảnh, để loan tin vui phục sinh cho tha nhân, cho thế giới. Chúa đã hiện ra với các môn đệ, với những người thân để củng cố niềm tin mong manh của họ, xin Chúa hãy đánh thức lương tâm chúng con, đánh thức tình người nơi chúng con, để chúng con dám quay trở lại với thế giới đang khổ đau, để loan tin vui, Chúa phục sinh đang ở bên cạnh mỗi người, đặc biệt là những người khổ đau, bệnh tật và tuổi già. Amen.

 

Suy niệm Tin Mừng Lễ Phục sinh -Năm A
Lm. Phêrô Trần Bảo Ninh

cnPSa 2

 

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan. (Ga 20, 1-9)

Ngày đầu tuần, Maria Mađalêna đi ra mồ từ sáng sớm khi trời còn tối và bà thấy tảng đá đã được lăn ra khỏi mồ, bà liền chạy về tìm Simon-Phêrô và người môn đệ kia được Chúa Giêsu yêu mến, bà nói với các ông rằng: “Người ta đã lấy xác Thầy khỏi mồ, và chúng tôi không biết người ta đã để Thầy ở đâu”. Phêrô và môn đệ kia ra đi đến mồ. Cả hai cùng chạy, nhưng môn đệ kia chạy nhanh hơn Phêrô, và đến mồ trước. Ông cúi mình xuống thấy những khăn liệm để đó, nhưng ông không vào trong. Vậy Simon-Phêrô theo sau cũng tới nơi, ông vào trong mồ và thấy những dây băng nhỏ để đó, và khăn liệm che đầu Người trước đây, khăn này không để lẫn với dây băng, nhưng cuộn lại để riêng một chỗ. Bấy giờ môn đệ kia mới vào, dù ông đã tới mồ trước. Ông thấy và ông tin, vì chưng các ông còn chưa hiểu rằng, theo Kinh Thánh, thì Người phải sống lại từ cõi chết.

Suy niệm Tin Mừng Lễ Phục Sinh -Năm A
Tác giả: Lm. Phêrô Trần Bảo Ninh
Giọng đọc: Nguyễn Trinh

 

 

Suy niệm

Trước một sự kiện lớn lao chưa từng xảy ra trên đất Do-thái nói riêng và trên thế giới nói chung, lời chứng của những người đã sống bên cạnh nhân vật chính rất là quan trọng, đồng thời, những người đã chứng kiến toàn bộ câu chuyện xảy ra cũng cần thiết, tất cả để củng cố niềm tin cho người đọc, người nghe và toàn thể anh chị em. Đức Giêsu Kitô đã sống lại, các nhân chứng đã gặp Ngài, họ đã được Ngài gọi đúng tên, họ đã được trò chuyện với Ngài, hơn nữa, họ đã tới nấm mồ, tất cả đã thay đổi hoàn toàn. Phụng vụ Lời Chúa ngày lễ Phục sinh như là những lời chứng của những người được chọn vào vai đó, lời chứng đó giúp Giáo hội và con cái hôm nay vững niềm tin là mình đã được tái sinh, được sống và được trở nên con Đấng đã chết nay đã sống và đang sống.

Khi cộng đoàn tập trung về Giê-ru-sa-lem để dự lễ truyền thống, các Tông đồ đã được thúc đẩy, bước ra khỏi phòng kín của sự sợ hãi, công bố tin vui cho toàn thế giới và nhân loại, các ngài đã thực hiện vai trò của người chứng sống động và chính xác trong câu chuyện Đức Giêsu sống lại. Cộng đoàn sẽ nghe trong bài đọc 1 từ sách Tông Đồ Công Vụ: “Trong những ngày ấy, Phêrô lên tiếng nói rằng: “Như anh em biết điều đã xảy ra trong toàn cõi Giuđêa, khởi đầu từ Galilêa, sau khi Gioan rao giảng phép rửa: ấy là Chúa Giêsu thành Nadarét. Thiên Chúa đã dùng Thánh Thần và quyền năng mà xức dầu cho Người. Người đi khắp nơi, ban bố ơn lành và chữa mọi người bị quỷ ám, bởi vì Thiên Chúa ở cùng Người. Và chúng tôi, chúng tôi là chứng nhân tất cả những gì Người đã làm trong nước Do-thái, và tại Giêrusalem, Người là Ðấng người ta đã giết treo Người trên thập giá. Nhưng ngày thứ ba, Thiên Chúa đã cho Người sống lại và hiện ra không phải với toàn dân, mà là với chúng tôi là nhân chứng Thiên Chúa đã tuyển chọn trước, chính chúng tôi đã ăn uống với Người sau khi Người từ cõi chết sống lại”. Thánh Phêrô được coi là nhân chứng đặc biệt nhất bởi nơi ngài có một trái tim đủ lớn, luôn dành chỗ nhất cho Thầy mình, ngài còn có một đức tin đủ mạnh, dù có phạm những sai lầm lớn, cuộc đời của ngài luôn dành trọn vẹn cho Thiên Chúa. Chúa Thánh Thần đã sai ngài bước ra khỏi sự sợ hãi, công bố tin vui cho nhân loại, môt tin vui không chỉ cho người thời đó, mà cho muôn dân qua muôn thế hệ.

Một lời nhắc rất tinh tế của thánh Phaolô trong lá thư gởi con cái thành Co-rin-to được công bố trong bài đọc 2, lời nhắc đó đòi hỏi mỗi người hãy thay đổi hình ảnh Thiên Chúa trong tâm thức, trong trái tim và trong từng ngày sống của mình, sự thay đổi tích cực đó sẽ giúp mỗi người gặp lại Đấng đã chết và nay đã sống lại: “Anh em thân mến, anh em không biết sao?: chỉ một tí men là đã đủ làm dậy men cả khối bột! Anh em hãy tẩy trừ men cũ để nên bột mới anh em là bánh không men. Vì Chiên Vượt Qua của ta, là Ðức Kitô, đã chịu sát tế. Cho nên ta hãy mừng lễ, đừng với men cũ, và men gian tà, ác độc, nhưng là với Bánh không men của lòng tinh tuyền và chân thật”. Chỉ một tí men thôi nhưng làm cho cả khối bột dậy men, nhưng đó phải là men mới. Lời nhắc nhẹ nhưng đòi hỏi sự quyết liệt và tinh tế trong đó, sự thay đổi là cần thiết để có thể cảm nghiệm được chiều sâu của tình yêu cứu độ, khởi đi từ sự cúi xuống, rồi trao ban và cứu độ, tất cả đem lại sự sống mới cho con người.

Thánh Gioan được gọi là vị Tông đồ của tình yêu, ngài đã thuật lại câu chuyện chính mình vừa là người trong cuộc, vừa là chứng nhân của câu chuyện, đó là ngôi mộ trống. Bài Tin mừng kể lại cho người nghe hình ảnh ngôi mộ trống, một  dấu chứng cụ thể về biến cố Đức Giêsu đã sống lại: “Ngày đầu tuần, Maria Mađalêna đi ra mồ từ sáng sớm khi trời còn tối và bà thấy tảng đá đã được lăn ra khỏi mồ, bà liền chạy về tìm Simon-Phêrô và người môn đệ kia được Chúa Giêsu yêu mến, bà nói với các ông rằng: “Người ta đã lấy xác Thầy khỏi mồ, và chúng tôi không biết người ta đã để Thầy ở đâu”. Phêrô và môn đệ kia ra đi đến mồ. Cả hai cùng chạy, nhưng môn đệ kia chạy nhanh hơn Phêrô, và đến mồ trước. Ông cúi mình xuống thấy những khăn liệm để đó, nhưng ông không vào trong”. Ngôi mộ đã chôn Thầy mình nay bỗng chốc cửa được mở ra, ai sẽ là tác nhân câu chuyện này. Tính hiếu kỳ và sự khao khát được gặp lại Thầy đã thôi thúc các ông tới nơi. Chứng kiến những dấu lạ từ mộ trống, các ông tin rằng Thiên Chúa đã dùng quyền năng cho người Con của Ngài sống lại, ra khỏi mồ và đang hiện diện bên cạnh họ. Niềm tin có thể đến từ lòng mến cùng với những dấu lạ cụ thể, tất cả giúp con người xác tín hơn về tình yêu sẽ cứu con người khỏi chết đời đời.

Thánh Gioan là con người rất tinh tế khi kể về biến cố Đức Giêsu tử nạn và phục sinh. Khởi đi từ câu chuyện trên thập giá, sau khi lính canh quan sát thấy hai tên trộm đã chưa chết, chúng đánh giập ống chân của họ. Cái chết đến tức thì. Còn Đức Giêsu thì không đánh giập ống chân vì Ngài đã chết, nhưng họ đã lấy giáo đâm vào cạnh sườn Ngài, tức thì máu và nước chảy ra: “một tên lính lấy giáo đâm cạnh sườn Người; tức thì máu cùng nước chảy ra. Kẻ đã xem thấy thì đã minh chứng, mà lời chứng của người đó chân thật, và người đó biết rằng mình nói thật để cho các người cũng tin nữa”. Hình ảnh máu và nước chảy ra tức thì sau khi bị đâm, là hình ảnh báo trước đứa bé sẽ bước ra khỏi cung lòng mẹ, nó mang theo một hình hài, một sự sống và một phẩm vị là một con người. Máu và nước luôn đi kèm với sự sống, máu và nước từ người mẹ chảy ra đã đem lại cho đứa con một niềm vui lớn, thì máu và nước từ cạnh sườn của Đức Giêsu cũng đem lại cho con người một niềm vui mới, từ nay, họ đã được tái sinh trong máu và nước của Thiên Chúa, của Thánh Thần, trở thành người con đích thực của Thiên Chúa, họ mang lấy sự sống của Thiên Chúa, mang lấy vị thế mới trong thế giới, đặc biệt là trước mặt Thiên Chúa. Lời chứng từ thập giá về sự sống giúp các tín hữu xác tín hơn về sự sống của con người không dừng lại nơi cái chết thể lý, nhưng là viên mãn trong Nước Trời, khởi đi từ mầu nhiệm thập giá.

Hai Tông đồ chạy đến mộ thấy tất cả như các bà kể lại, phiến đá nặng lấp cửa đã được đẩy sang bên cạnh, các dây băng được cuốn lại cẩn thận, khăn liệm và khăn trùm đầu được để riêng ra. Tất cả rất gọn gàng. Khi Đức Giêsu cho người bạn Lazaro sống lại, Ngài bảo mọi người hãy đẩy phiến đá cửa mồ ra bên cạnh, sau đó bảo mọi người cởi các dây trói và các tấm khăn trên người cho anh ta, giúp anh ta trở thành con người tự do. Sự hữu hạn của con người vẫn còn đâu đó sau sự hồi sinh của Lazaro, anh ta không thể tự mình đẩy phiến đá cửa ra, cũng như cởi các dây trên thân thể, một sự ràng buộc của tội và hình bóng cái chết vẫn còn đâu đó. Đức Giêsu, là Thiên Chúa, Ngài đã trở thành một người tự do, quyền năng Thiên Chúa đã đẩy phiến đá cửa ra khỏi sự ngăn cách giữa sự chết và sự sống, mọi dây băng và khăn trên thân thể không ràng buộc Ngài lại, tất cả đã được xếp gọn, Thiên Chúa đã dùng quyền năng của mình dẹp tan mọi rào cản của tội lỗi và sự chết, đưa con người từ vị thế nô lệ tội lỗi trở thành con người tự do, không bị ràng buộc do tội. Quyền năng Thiên Chúa là vậy, có khi nào con người bằng niềm tin đơn sơ của mình, dám chân nhận và tuyên xưng về quyền năng của Thiên Chúa, Đấng tôi đã và đang tin.

Lạy Chúa, là một tạo vật hữu hạn, xin giúp chúng con đẩy xa những phiến đá che chắn đôi mắt và tâm hồn mỗi người, để tất cả biết dành chỗ nhất trong tâm hồn cho Thiên Chúa, và không còn bị trói buộc trong tội và sự chết nữa. Xin tác động vào mỗi người để tất cả biết giúp nhau cởi bỏ những dây băng của ích kỷ, hẹp hòi và ganh tị, để được bước ra khỏi ngôi mộ của sự chết, được tự do, được bình an trong sự quan phòng của Thiên Chúa tình yêu. Chúa đã sống lại, chúng con đã được cứu, xin dâng lên Ngài lời tạ ơn chân thành và yêu mến của mỗi người chúng con khi được Thiên Chúa đưa về gia đình của Ngài. Amen.



Tải về:PowerPoint-CNPS-A

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây