08/3/2026
CHÚA NHẬT III MÙA CHAY – A

Ga 4,5-42
chúa giê-su giải cơn khát tâm hồn
“Ai uống nước tôi cho, sẽ không bao giờ khát nữa.” (Ga 4,5-42)
Suy niệm: Người phụ nữ Sa-ma-ri đi lấy nước vào lúc giữa trưa, lúc không ai ra lấy nước. Phải chăng chị bị mọi người xa lánh hay chính chị tự xa lánh mọi người? Nhưng dù sao, chị vẫn đang đơn độc! Có vẻ như chị đang kéo dài một cuộc sống cố làm cho ra vẻ bình thường nhưng nội tâm chị không hạnh phúc với một quá khứ năm đời chồng mà chị muốn quên đi, cùng với người hiện đang chung sống với chị như vợ chồng. Chị đi lấy nước nhưng chị đang khát cơn khát sâu kín của tâm hồn: Khát chân lý, khát hạnh phúc. Như một bản năng, chị co cụm, khép kín trong một phản ứng tự vệ khi gặp Chúa Giê-su bên bờ giếng Gia-cóp xin chị cho miếng nước: “Ông là người Do-thái, mà lại xin tôi, một phụ nữ Sa-ma-ri, cho ông nước uống sao?” Chị rất bất ngờ vì có người cần chị giúp đỡ thay vì xa lánh. Cuối cùng, chị đã có thể mở lời. Như nắng hạn gặp mưa rào, chị cũng cởi mở được tấm lòng và bước vào cuộc đối thoại. Giờ đây, chính Chúa mới là Đấng ban cho chị nước hằng sống và làm cho vọt lên từ tâm hồn chị “một mạch nước đem lại sự sống đời đời”.
Bạn thân mến, mỗi chúng ta đều có những cơn khát như người phụ nữ Sa-ma-ri: khát được hiểu, được yêu thương và tôn trọng… Mời bạn đến với Chúa, nghe Lời Chúa, trò chuyện với Ngài, để được Ngài giải cơn khát tâm hồn bạn.
Sống Lời Chúa: Mỗi ngày bạn dành 5 phút để suy niệm Lời Chúa.
Cầu nguyện: Lạy Chúa Giê-su, Chúa biết những cơn khát sâu kín nhất của chúng con. Xin cho chúng con biết đến với Ngài, để được tái sinh trong sống cuộc sống mới với phẩm giá là con cái Thiên Chúa. Amen.
BÀI ĐỌC TRONG THÁNH LỄ
Dẫn vào Thánh Lễ
Anh chị em thân mến,
Mùa chay cho chúng ta một cơ hội quí báu để nhìn lại chính mình: Có những an toàn giả tạo mà chúng ta cứ khư khư giữ lấy, không chịu vất bỏ trên con đường lữ hành. Mùa Chay nhắc nhở chúng ta rằng: muốn sống tốt, cần phải duyệt xét lại đời mình. Để Mùa Chay này tràn đầy ơn phúc, giúp chúng ta trở thành những người dễ thương, quảng đại và chân thực, chúng ta phải chết đi cho những lối sống trần tục, bằng cách hi sinh và từ bỏ chính mình, để có một cuộc hoán cải thực sự như người đàn bà Samaria mà Tin Mừng hôm nay thuật lại cho chúng ta. Muốn trở về thật sự cần phải có ơn Chúa giúp, chúng ta sẽ kín múc ơn thánh ấy nơi bàn tiệc Thánh Thể.
Ca nhập lễ
Mắt tôi luôn hướng nhìn về Chúa, vì chính Người gỡ chân tôi khỏi lưới dò. Xin Chúa đoái nhìn và thương xót tôi, vì tôi cô đơn và thân tôi đau khổ.
Lời nguyện nhập lễ
Lạy Chúa là Ðấng rất từ bi nhân hậu, Chúa đã từng chỉ dạy chúng con cách chữa lành những vết thương tội lỗi: là ăn chay hãm mình, siêng năng cầu nguyện và chia cơm sẻ áo cho kẻ khó nghèo. Này chúng con nhận biết mình yếu hèn lầm lỗi, và hết lòng sám hối ăn năn; xin Chúa thương đoái nhìn chúng con và đưa tay nâng đỡ. Chúng con cầu xin…
Bài Ðọc I: Xh 17, 3-7
“Xin cho chúng tôi nước để chúng tôi uống”.
Trích sách Xuất Hành.
Trong những ngày ấy, dân chúng khát nước, nên phàn nàn với ông Môsê rằng: “Tại sao ông dẫn dắt chúng tôi ra khỏi Ai-cập, để cho chúng tôi cùng con cái và đoàn súc vật chúng tôi phải chết khát như vầy”. Môsê kêu lên cùng Chúa rằng: “Con sẽ phải làm gì cho dân này? Còn một chút nữa là họ ném đá con rồi”. Chúa liền phán bảo Môsê: “Ngươi hãy tiến lên, đi trước dân chúng và dẫn các bậc kỳ lão Israel đi theo, tay ngươi cầm gậy mà ngươi đã dùng mà đánh trên nước sông. Này đây, Ta sẽ đứng trước mặt ngươi, trên tảng đá Horeb, ngươi sẽ đánh lên tảng đá, từ tảng đá nước sẽ chảy ra cho dân uống”. Môsê làm các điều nói trên trước mặt các bậc kỳ lão Israel. Ông đặt tên nơi đó là “Thử Thách”, vì con cái Israel đã phàn nàn và thách thức Chúa mà rằng: “Chúa có ở với chúng tôi hay không?”
Ðó là lời Chúa.
Ðáp Ca: Tv 94, 1-2. 6-7. 8-9
Ðáp: Ước chi hôm nay các bạn nghe tiếng Người: “Các ngươi đừng cứng lòng!”
Xướng: Hãy tới, chúng ta hãy reo mừng Chúa, hãy hoan hô Ðá Tảng cứu độ của ta! Hãy ra trước thiên nhan với lời ca ngợi, chúng ta hãy xướng ca để hoan hô Người!
Xướng: Hãy tiến lên, cúc cung bái và sụp lạy, hãy quỳ gối trước nhan Chúa, Ðấng tạo thành ta. Vì chính Người là Thiên Chúa của ta, và ta là dân Người chăn dẫn, là đoàn chiên thuộc ở tay Người.
Xướng:Ước chi hôm nay các bạn nghe tiếng Người: “Ðừng cứng lòng như ở Mêriba, như hôm ở Massa trong khu rừng vắng, nơi mà cha ông các ngươi đã thử thách Ta, họ đã thử Ta mặc dầu đã thấy công cuộc của Ta”.
Bài Ðọc II: Rm 5, 1-2. 5-8
“Lòng mến Chúa đổ xuống lòng chúng ta, nhờ Thánh Thần là Ðấng đã được ban cho chúng ta”.
Trích thư Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Rôma.
Anh em thân mến, khi được đức tin công chính hoá, chúng ta được hoà thuận với Chúa nhờ Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, Ðấng cho chúng ta nhờ đức tin mà tiến đến ân sủng, đứng vững ở đó, và được hiển vinh trong niềm hy vọng vinh quang của con cái Chúa. Nhưng cậy trông không làm hổ thẹn, vì lòng mến Chúa đổ vào lòng chúng ta nhờ Thánh Thần là Ðấng đã được ban cho chúng ta. Ngay từ khi chúng ta còn yếu hèn, Chúa Kitô theo kỳ hẹn mà chịu chết vì chúng ta là kẻ tội lỗi. Ít có ai chết thay cho người công chính, hoạ chăng mới có người dám chết vì kẻ lành. Nhưng Thiên Chúa chứng tỏ tình yêu của Người đối với chúng ta, nghĩa là trong lúc chúng ta còn là tội nhân, thì theo kỳ hẹn, Chúa Kitô đã chết vì chúng ta.
Ðó là lời Chúa.
Câu Xướng Trước Phúc Âm
Lạy Chúa, Chúa thật là Ðấng cứu chuộc thế gian; xin ban cho con nước hằng sống, để con không còn khát nữa.
PHÚC ÂM: Ga 4,5-42 (Bài dài)
“Mạch nước vọt đến sự sống đời đời”.
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.
Khi ấy, Chúa Giêsu tới một thành gọi là Sykar thuộc xứ Samaria, gần phần đất Giacóp đã cho con là Giuse, ở đó có giếng của Giacóp. Chúa Giêsu đi đường mệt, nên ngồi nghỉ trên miệng giếng, lúc đó vào khoảng giờ thứ sáu.
Một người đàn bà xứ Samaria đến xách nước, Chúa Giêsu bảo: “Xin bà cho tôi uống nước” (lúc ấy, các môn đệ đã vào thành mua thức ăn). Người đàn bà Samaria thưa lại: “Sao thế! Ông là người Do-thái mà lại xin nước uống với tôi là người xứ Samaria?” (Vì người Do-thái không giao thiệp gì với người Sa-ma-ri-a).
Chúa Giêsu đáp: “Nếu bà nhận biết ơn của Thiên Chúa ban và ai là người đang nói với bà: “Xin cho tôi uống nước”, thì chắc bà sẽ xin Người, và Người sẽ cho bà nước hằng sống”.
Người đàn bà nói: “Thưa Ngài, Ngài không có gì để múc, mà giếng thì sâu, vậy Ngài lấy đâu ra nước? Phải chăng Ngài trọng hơn tổ phụ Giacóp chúng tôi, người đã cho chúng tôi giếng này và chính người đã uống nước giếng này cũng như các con cái và đoàn súc vật của người?”
Chúa Giêsu trả lời: “Ai uống nước giếng này sẽ còn khát, nhưng ai uống nước Ta sẽ cho thì không bao giờ còn khát nữa, vì nước Ta cho ai thì nơi người ấy sẽ trở thành mạch nước vọt đến sự sống đời đời”. Người đàn bà thưa: “Thưa Ngài, xin cho tôi nước đó để tôi chẳng còn khát và khỏi phải đến đây xách nước nữa”. Chúa Giêsu bảo: “Bà hãy đi gọi chồng bà rồi trở lại đây”. Người đàn bà đáp: “Tôi không có chồng”. Chúa Giêsu nói tiếp: “Bà nói “tôi không có chồng” là phải, vì bà có năm đời chồng rồi, và người đàn ông đang chung sống với bà bây giờ không phải là chồng bà, bà đã nói đúng đó”.
Người đàn bà nói: “Thưa Ngài, tôi thấy rõ Ngài là một tiên tri. Cha ông chúng tôi đã thờ trên núi này, còn các ông, các ông lại bảo: phải thờ ở Giêrusalem”.
Chúa Giêsu đáp: “Hỡi bà, hãy tin Ta, vì đã đến giờ người ta sẽ thờ phượng Chúa Cha, không phải ở trên núi này hay ở Giêrusalem. Các người thờ Ðấng mà các người không biết, còn chúng tôi thờ Ðấng chúng tôi biết, vì ơn cứu độ từ dân Do-thái mà đến. Nhưng đã đến giờ, và chính là lúc này, những kẻ tôn thờ đích thực, sẽ thờ Chúa Cha trong tinh thần và chân lý, đó chính là những người tôn thờ mà Chúa Cha muốn. Thiên Chúa là tinh thần, và những kẻ tôn thờ Người, phải tôn thờ trong tinh thần và trong chân lý”.
Người đàn bà thưa: “Tôi biết Ðấng Messia mà người ta gọi là Kitô sẽ đến, và khi đến, Người sẽ loan báo cho chúng tôi mọi sự”. Chúa Giêsu bảo: “Ðấng ấy chính là Ta, là người đang nói với bà đây”.
Vừa lúc đó các môn đệ về tới. Các ông ngạc nhiên thấy Ngài nói truyện với một người đàn bà. Nhưng không ai dám hỏi: “Thầy hỏi bà ta điều gì, hoặc: tại sao Thầy nói truyện với người đó?” Bấy giờ người đàn bà để vò xuống, chạy về thành bảo mọi người rằng: “Mau hãy đến xem một ông đã nói với tôi tất cả những gì tôi đã làm. Phải chăng ông đó là Ðấng Kitô?” Dân chúng tuôn nhau ra khỏi thành và đến cùng Ngài, trong khi các môn đệ giục Ngài mà rằng: “Xin mời Thầy ăn”. Nhưng Ngài đáp: “Thầy có của ăn mà các con không biết”. Môn đệ hỏi nhau: “Ai đã mang đến cho Thầy ăn rồi chăng?” Chúa Giêsu nói: “Của Thầy ăn là làm theo ý Ðấng đã sai Thầy và chu toàn công việc Ngài. Các con chẳng nói: còn bốn tháng nữa mới đến mùa gặt đó ư? Nhưng Thầy bảo các con hãy đưa mắt mà nhìn xem đồng lúa chín vàng đã đến lúc gặt. Người gặt lãnh công và thu lúa thóc vào kho hằng sống, và như vậy kẻ gieo người gặt đều vui mừng. Ðúng như câu tục ngữ: Kẻ này gieo, người kia gặt. Thầy sai các con đi gặt những gì các con không vất vả làm ra; những kẻ khác đã khó nhọc, còn các con thừa hưởng kết quả công lao của họ”.
Một số đông người Samaria ở thành đó đã tin Người vì lời người đàn bà làm chứng rằng: “Ông ấy đã nói với tôi mọi việc tôi đã làm”. Khi gặp Người, họ xin Người ở lại với họ. Và Người đã ở lại đó hai ngày, và vì nghe chính lời Người giảng dạy, số những kẻ tin ở Người thêm đông hẳn, họ bảo người đàn bà: “Giờ đây, không phải vì những lời chị kể mà chúng tôi tin, nhưng chính chúng tôi đã được nghe lời Người và chúng tôi biết Người thật là Ðấng Cứu Thế”.
Ðó là lời Chúa.
Hoặc đọc bài ngắn này: Ga 4, 5-15. 19b-26. 39a. 40-42
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.
Khi ấy, Chúa Giêsu tới một thành gọi là Sykar thuộc xứ Samaria, gần phần đất Giacóp đã cho con là Giuse, ở đó có giếng của Giacóp. Chúa Giêsu đi đường mệt, nên ngồi nghỉ trên miệng giếng, lúc đó vào khoảng giờ thứ sáu.
Một người đàn bà xứ Samaria đến xách nước, Chúa Giêsu bảo: “Xin bà cho tôi uống nước” (lúc ấy, các môn đệ đã vào thành mua thức ăn). Người đàn bà Samaria thưa lại: “Sao thế! Ông là người Do-thái mà lại xin nước uống với tôi là người xứ Samaria?” (vì người Do-thái không giao thiệp gì với người Samaria).
Chúa Giêsu đáp: “Nếu bà nhận biết ơn của Thiên Chúa ban và ai là người đang nói với bà: “Xin cho tôi uống nước”, thì chắc bà sẽ xin Người, và Người sẽ cho bà nước hằng sống”.
Người đàn bà nói: “Thưa Ngài, Ngài không có gì để múc, mà giếng thì sâu, vậy Ngài lấy đâu ra nước? Phải chăng Ngài trọng hơn tổ phụ Giacóp chúng tôi, người đã cho chúng tôi giếng này, và chính người đã uống nước giếng này cũng như các con cái và đoàn súc vật của người?”
Chúa Giêsu trả lời: “Ai uống nước giếng này sẽ còn khát, nhưng ai uống nước Ta sẽ cho thì không bao giờ còn khát nữa, vì nước Ta cho ai thì nơi người ấy sẽ trở thành mạch nước vọt đến sự sống đời đời”. Người đàn bà thưa: “Thưa Ngài, xin cho tôi nước đó để tôi chẳng còn khát, và khỏi phải đến đây xách nước nữa”.
Và người đàn bà nói với Chúa Giêsu: “Thưa Ngài, tôi thấy rõ Ngài là một tiên tri. Cha ông chúng tôi đã thờ trên núi này, còn các ông, các ông lại bảo: phải thờ ở Giêrusalem”. Chúa Giêsu đáp: “Hỡi bà, hãy tin Ta, vì đã đến giờ người ta sẽ thờ phượng Chúa Cha, không phải ở trên núi này hay ở Giêrusalem. Các người thờ Ðấng mà các người không biết, còn chúng tôi thờ Ðấng chúng tôi biết, vì ơn cứu độ từ dân Do-thái mà đến. Nhưng đã đến giờ, và chính là lúc này, những kẻ tôn thờ đích thực, sẽ thờ Chúa Cha trong tinh thần và chân lý, đó chính là những người tôn thờ mà Chúa Cha muốn. Thiên Chúa là tinh thần, và những kẻ tôn thờ Người, phải tôn thờ trong tinh thần và trong chân lý”.
Người đàn bà thưa: “Tôi biết Ðấng Messia mà người ta gọi là Kitô sẽ đến, và khi đến, Người sẽ loan báo cho chúng tôi mọi sự”. Chúa Giêsu bảo: “Ðấng ấy chính là Ta, là người đang nói với bà đây”.
Một số đông người Samaria ở thành đó đã tin Người vì lời người đàn bà làm chứng. Khi gặp Người, họ xin Người ở lại với họ. Và Người đã ở lại đó hai ngày, và vì nghe chính lời Người giảng dạy, số những kẻ tin ở Người thêm đông hẳn, họ bảo người đàn bà: “Giờ đây, không phải vì những lời chị kể mà chúng tôi tin, nhưng chính chúng tôi đã được nghe lời Người và chúng tôi biết Người thật là Ðấng Cứu Thế”.
Ðó là lời Chúa.
Lời nguyện tín hữu
MẪU 1
Chủ tế: Anh chị em thân mến, chúng ta đang cùng nhau cử hành mầu nhiệm cứu chuộc của Chúa Kitô. Chúng ta hãy xin Cha nhân từ khai mở nguồn suối cứu độ và sự sống sung mãn cho mọi người như Chúa Kitô đã hứa với người phụ nữ xứ Samaria.
1. Xin cho Hội Thánh luôn hăng say loan báo và giúp mọi người tin rằng, Đức Giêsu là Đấng cứu độ duy nhất mang đến ơn cứu độ cho trần gian.
2. Xin cho những ai đang khao khát công bằng và chân lý được Thánh Thần hướng dẫn đến nguồn mạch ơn cứu độ là Chúa Kitô.
3. Xin cho những anh chị em dự tòng đang chuẩn bị lãnh nhận các bí tích khai tâm Kitô giáo trong Đêm Thánh sắp tới được thật lòng trở về với Chúa, chuyên cần học hỏi và sống theo đức tin.
4. Xin cho mỗi người trong cộng đoàn chúng ta luôn khám phá niềm vui của Tin Mừng cứu độ khi gặp gỡ Chúa Kitô và hăng hái đưa người khác đến cùng Chúa Kitô.
Chủ tế: Lạy Chúa, như người phụ nữ xứ Samaria, xin cho chúng con luôn hân hoan kín múc dòng nước cứu độ nơi mạch suối thương xót của Chúa và trở nên những mạch suối cho thế giới khô cằn vì thiếu niềm tin vào Chúa. Chúng con cầu xin nhờ Đức Kitô Chúa chúng con.
MẪU 2
Chủ tế: Anh chị em thân mến! Bên bờ giếng Gia-cóp, Chúa Giê-su đã tỏ cho người phụ nữ Sa-ma-ri-a biết chính Người là Nước Hằng Sống. Trong niềm tin tưởng và cậy trông, chúng ta cùng dâng lên Chúa những lời nguyện xin:
1. “Ai uống nước Tôi cho, sẽ không bao giờ khát nữa”. Chúng ta cùng cầu xin Chúa cho các vị mục tử trong Hội Thánh, luôn nhiệt thành rao giảng Lời Chúa và cử hành các bí tích, để dẫn đưa mọi người đến cùng Chúa Giê-su là suối nguồn hạnh phúc trường sinh.
2. “Những kẻ thờ phượng Người phải thờ phượng trong thần khí và sự thật”. Chúng ta cùng cầu xin Chúa cho các nhà lãnh đạo quốc gia, biết đem quyền bính để phục vụ và xây dựng hòa bình trong chân lý và sự thật.
3. “Người thật là Đấng cứu độ trần gian”. Chúng ta cùng cầu xin Chúa cho những người đang sống trong tình trạng tội lỗi, biết vững tin vào lòng thương xót của Chúa và sám hối trở về, để được tái sinh trong tình yêu Chúa.
4. “Xin ông cho tôi thứ nước ấy, để tôi hết khát”. Chúng ta cùng cầu xin Chúa cho mỗi người trong cộng đoàn chúng ta, luôn khao khát tìm gặp Chúa qua việc cầu nguyện và lãnh nhận các bí tích, để được sống trong ơn nghĩa Chúa.
Chủ tế: Lạy Thiên Chúa là Cha giàu lòng thương xót, xin cho chúng con trong mùa Chay này biết sám hối, can đảm đổi mới đời sống. Nhờ đó, chúng con biết thờ phượng và phụng sự Cha cho xứng hợp. Chúng con cầu xin nhờ Đức Ki-tô, Chúa chúng con.
Lời nguyện tiến lễ
Lạy Chúa, nhờ những của lễ này, xin tha thứ tội lỗi chúng con đã phạm, và giúp chúng con biết thật tình tha thứ mọi lỗi lầm cho anh chị em chúng con. Chúng con cầu xin…
Lời tiền tụng (Năm A)
Lạy Chúa là Cha chí thánh là Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, chúng con tạ ơn Chúa mọi nơi mọi lúc, thật là chính đáng phải đạo và sinh ơn cứu độ cho chúng con, nhờ Ðức Ki-tô, Chúa chúng con. Khi người phụ nữ xứ Sa-ma-ri cho nước uống, Người đã ban cho bà đức tin. Vì Người tha thiết ước mong bà tin vững mạnh, nên đã đốt lên trong lòng bà ngọn lửa yêu mến Chúa. Vì thế, chúng con xin dâng lời tri ân cảm tạ, và hợp với các thiên thần, các thánh, chúng con lớn tiếng ca ngợi uy quyền Chúa, và tung hô rằng:
Thánh! Thánh! Thánh!…
Ca hiệp lễ
Chúa phán: “Ai uống nước Ta sẽ cho, thì nơi người ấy sẽ trở thành mạch nước vọt đến sự sống đời đời.
Lời nguyện hiệp lễ
Lạy Chúa, Chúa đã cho chúng con, tuy còn ở dưới thế, được nếm thử lương thực trên trời. Xin cho mọi người chúng con biết đem cả cuộc đời hiện tại biểu dương những kỳ công tuyệt vời mà bí tích Thánh Thể vừa thực hiện nơi chúng con. Chúng con cầu xin…
Suy niệm
Thiên Chúa ở đâu?
Phải thờ phượng Thiên Chúa ở Sichem hay ở Giêrusalem?
Chúa Giêsu đã đưa ra một lời giải đáp. Ngài khẳng định rằng Thiên Chúa không bao giờ bị khoanh vùng, Ngài cũng không bao giờ là Chúa riêng của một người hay một dân tộc nào, bởi vì Ngài là Cha chung của mọi người ở mọi nơi và trong mọi lúc. Không một người nào, không một dân tộc nào và không một tôn giáo nào được độc quyền chiếm giữ Ngài cho riêng mình, hay nghĩ rằng Thiên Chúa chỉ hiện diện trên đất nước của mình hay trong đền thờ của mình.
Không. Chúa Giêsu đã khẳng định với người thiếu phụ Samaria: Đã đến giờ ác ngươi sẽ thờ phượng Thiên Chúa, không phải trên núi này hay tại Giêrusalem, nhưng sẽ thờ phượng Thiên Chúa trong thần khí và sự thật.
Thiên Chúa là thần khí, mà thần khí thì vô hình nên ở đâu cũng có. Thiên Chúa hiện diện ở khắp mọi nơi: Trời là ngai toà của Ngài còn đất là bệ chân của Ngài. Ngài không cần nhà để ở và hơn nữa, không một nơi nào dù nguy nga tráng lệ đến đâu chăng nữa xứng đáng với Ngài. Trái lại Ngài có thể hiện diện ở bất kỳ nơi nào, nhất là qua mầu nhiệm nhập thể, Ngài có thể hiện diện trong chuồng bò tại Bêlem, tạm trú bên Ai Cập, vất vả tại xưởng thợ Nadarét, để rồi sau đó rảo bước khắp nơi trên mọi nẻo đường Palestine, đến với mọi người Do Thái, Hy Lạp, cũng như Rôma. Kẻ có đạo cũng như người ngoại đạo, người đạo đức cũng như kẻ tội lỗi.
Thiên Chúa là thần khí nên Ngài tự do tuyệt đối, không ai có thể giam hãm Ngài được. Thánh Phaolô khi đến Athen, đã gián tiếp nói cho dân Hy Lạp biết rằng họ cũng thờ phượng một Thiên Chúa như thánh nhân, tuy họ không biết Thiên Chúa ấy là Đấng nào và thánh nhân còn nhìn nhận rằng họ cũng thuộc dòng giống của Thiên Chúa, bởi vì chính nhờ nơi Thiên Chúa mà tất cả chúng ta được sống và hiện diện.
Một khi đã xác tín Thiên Chúa là Cha chung của mọi người, chúng ta không được nhân danh Ngài mà gây chia rẽ và hận thù, trái lại phải nhân danh Ngài mà yêu thương đoàn kết với nhau. Thực vậy đối với Chúa Giêsu thì cách thế diễn tả lòng kính mến Thiên Chúa một cách sâu xa và trọn vẹn nhất, đó là yêu thương anh em của mình. Cách thế phụng thờ Thiên Chúa đúng theo ý Ngài muốn, đó chính là phục vụ anh em. Bởi vì yêu mến Chúa thì phải tuân giữ điều răn của Ngài, mà điều răn Ngài truyền dạy đó là chúng ta phải yêu thương nhau như Ngài đã yêu thương chúng ta.
Bởi vậy, không phải khi chúng ta xây dựng những ngôi thánh đường hay những gian cung thánh nguy nga tráng lệ là chúng ta có thể làm cho mọi người nhận ra chúng ta là những kẻ thờ phượng Thiên Chúa đích thực, nhất là khi chúng ta dùng những đồng tiền bất chính để xây dựng nhà thờ. Trái lại chỉ có tình yêu thương anh em bằng tinh thần phục vụ, nhất là đối với những người khổ đau và nghèo túng, mới là cách thế chứng minh rằng Thiên Chúa hiện diện ở khắp nơi, và nhất là ở những nơi nào con người biết yêu thương và phục vụ lẫn nhau.
Qua đoạn Tin Mừng vừa nghe, chúng ta cùng nhau chia sẻ hai ý tưởng:
Ý tưởng thứ nhất đó là nước
Mỗi khi đi làm thuỷ lợi giữa đồng không mông quạnh với cái nắng như thiêu như đốt, chúng ta mới thấy quý những giọt nước hiếm hoi.
Dân Do Thái trong Cựu Ước cũng đã trải qua kinh nghiệm ấy. Khi băng qua sa mạc cát nóng để trở về miền đất Hứa, họ đã hiểu được nước gắn liền với sự sống của họ như thế nào. Đồng thời qua dòng nước vọt lên từ tảng đá Horeb dưới cây gậy của Maisen, Chúa đã chứng tỏ Ngài là Đấng đem lại sự sống cho họ.
Với Chúa Giêsu thì khác, từ thứ nước bình thường dưới lòng giếng, Ngài đã giới thiệu với người phụ nữ Samaria một thứ nước đem lại sự sống vĩnh cửu. Thực vậy, đã từ lâu người Do Thái và người Samaria coi nhau như những kẻ thù truyền kiếp. Dưới mắt dân Do Thái thì người Samaria bị coi như một thứ ngoại đạo và uế tạp cần phải xa tránh, thế mà qua đoạn Tin Mừng vừa nghe Chúa Giêsu đã vượt qua ranh giới thù hận như một dòng nước tràn bờ đem lại sự xanh tươi cho những mảnh đất khô cằn. Ngài đã xin người phụ nữ Samaria chút nước uống. Hành động của Ngài đã gây nên sửng sốt và từ sự sửng sốt ấy, Ngài đã làm trổi dậy một sự sống mới.
Chúa Giêsu đã chứng tỏ sứ mạng của mình là được sai đến với những con chiên lạc. Cuộc đối thoại của Chúa Giêsu đã giúp người phụ nữ nhận ra tình trạng bất chính của mình, để rồi cuối cùng nàng đã xác tín Ngài chính là Đấng cứu thế. Chúa Giêsu đã khởi đầu bằng cách xin nàng cho Người uống nước, nhưng rồi cuối cùng chính nàng lại là người được lãnh nhận nước ban sự sống.
Ý tưởng thứ hai đó là nơi thờ phượng Chúa.
Người Samaria có đền thờ của mình tại núi Sichem. Trong khi đó người Do Thái lại khẳng định đền thờ của họ tại Giêrusalem mới là nơi thờ phượng Thiên Chúa đích thật, bởi vì đó mới chính là nơi Thiên Chúa ngự trị giữa dân Ngài. Vậy ai đúng. Người Samaria hay người Do Thái? Cuộc tranh luận có lẽ đã kéo dài nhiều tháng và nhiều năm, nhưng vẫn không có kết luận. Họ không phải chỉ tranh luận suông, mà hơn thế nữa, người Do Thái còn khích bác dân Samaria là đã theo đuổi một thứ tôn giáo lai căng. Còn người Samaria thì có lần đã chơi khăm bằng cách rắc xương người chết vào nơi thờ kính của dân Do Thái, để làm cho nơi đó ra uế tạp, không còn thích hợp cho công việc tế tự.
Người phụ nữ Samari hẳn muốn nhờ Chúa Giêsu đứng ra làm trọng tài giải quyết vì nàng nhìn nhận Ngài là người của Thiên Chúa, đã biết được những chuyện thầm kín của đời nàng. Thế nhưng, Chúa Giêsu đã nhân dịp này, mạc khải cho nàng biết phải thờ phượng Thiên Chúa trong tinh thần và trong chân lý, bằng cách nhận biết Thiên Chúa là Cha. Chính sự thờ phượng Thiên Chúa là Cha và việc đặt mình vào trong mối quan hệ cha con với Thiên Chúa mới là việc thờ phượng mà Thiên Chúa hằng mong mỏi.
Còn chúng ta thì sao? Liệu chúng ta đã thực sự yêu mến Chúa bằng tất cả trái tim và tâm hồn của mình, hay chúng ta đang còn mải mê chạy theo những nghi thức và những biểu dương bên ngoài?
MẠCH NƯỚC VỌT LÊN
(CHÚA NHẬT TUẦN 3 MÙA CHAY NĂM A)
Emmanuel Nguyễn Thanh Hiền, OSB
Qua Lời Tổng Nguyện của Chúa Nhật Tuần 3 Mùa Chay Năm A, các nhà phụng vụ muốn chúng ta ý thức rằng: Chúa là Đấng rất từ bi nhân hậu, Chúa đã từng chỉ dạy chúng ta cách chữa lành những vết thương tội lỗi: là ăn chay hãm mình, siêng năng cầu nguyện và chia cơm sẻ áo cho kẻ khó nghèo. Chúng ta nhận biết mình yếu hèn lầm lỗi, và hết lòng sám hối ăn năn, xin Chúa thương đoái nhìn chúng ta và đưa tay nâng đỡ.
Chúa thương đoái nhìn, và đưa tay nâng đỡ những ai hèn mọn, những khách ngoại kiều, cô nhi, quả phụ, như trong bài đọc một Kinh Sách, trích sách Xuất Hành: Phải sống công chính, từ những nguồn gốc xa xưa nhất, các điều khoản làm thành luật Giao Ước cho ta thấy: Thiên Chúa quan tâm thế nào, để làm cho Dân Người thành một cộng đoàn anh em, sống tình bác ái chân thật. Tuy các Lề Luật đó đã hàm chứa những giá trị của Tin Mừng, nhưng, lịch sử cho thấy rằng Ítraen đã không luôn sống theo luật đó… Hãy bênh quyền lợi kẻ mồ côi, người hèn mọn, minh oan cho người khốn khổ, kẻ bần cùng. Hãy giải phóng ai hèn mọn, ai nghèo túng, cứu khỏi nanh vuốt bọn ác nhân. Thiên Chúa đã chọn những người nghèo khó trên đời này, để họ trở nên người giàu đức tin và thừa hưởng vương quốc.
Chúa thương đoái nhìn, và đưa tay nâng đỡ những ai tin tưởng, đến với Chúa để lãnh nhận Thần Khí, như trong bài đọc hai Kinh Sách, trích Khảo Luận của thánh Âutinh: Người phụ nữ Samari đến lấy nước… Đức Giêsu lớn tiếng nói rằng: “Ai khát, hãy đến với tôi, ai tin vào tôi, hãy đến mà uống. Từ lòng người ấy sẽ tuôn chảy những dòng nước đem lại sự sống.” Đức Giêsu muốn nói về Thần Khí mà những kẻ tin vào Người sẽ lãnh nhận. Ai uống nước tôi cho sẽ không bao giờ khát nữa.
Chúa thương đoái nhìn, và đưa tay nâng đỡ những ai mở lòng ra với những tác động của Thánh Thần, như trong bài đọc một Thánh Lễ, trích sách Xuất Hành: Cho chúng tôi nước uống đi. Trong bài Đáp Ca, Thánh Vịnh 94: Ngày hôm nay, ước gì anh em nghe tiếng Chúa! Người phán: “Các ngươi chớ cứng lòng.” Hãy đến đây ta reo hò mừng Chúa, tung hô Người là Núi Đá độ trì ta, vào trước Thánh Nhan dâng lời cảm tạ, cùng tung hô theo điệu hát cung đàn. Trong bài đọc hai Thánh Lễ, trích thư của thánh Phaolô tông đồ gửi tín hữu Rôma: Thiên Chúa đã đổ tình yêu của Người vào lòng ta, nhờ Thánh Thần Người ban cho ta.
Câu Tung Hô Tin Mừng, mà các nhà phụng vụ đã chọn cho ngày lễ hôm nay là: Lạy Chúa, Chúa thật là Đấng cứu độ trần gian, xin ban cho con nước hằng sống, để con không bao giờ khát nữa. Trong bài Tin Mừng, Đức Giêsu nói: Mạch nước vọt lên, đem lại sự sống đời đời. Ai tin và uống nước Chúa cho, thì, nơi người ấy, nước đó sẽ trở thành một mạch nước chảy vọt, mang lại sự sống đời đời. Chúng ta là Hội Thánh, là khách ngoại kiều, là người phụ nữ Samari ngoại giáo, nhưng, vì ta tin, nên, Đức Giêsu đã mở lối cho ta vào hưởng ân sủng của Thiên Chúa, trông cậy như thế, ta sẽ không phải thất vọng, vì Thiên Chúa đã đổ tình yêu của Người vào lòng ta, nhờ Thánh Thần mà Người ban cho ta. Ước gì ta nghe tiếng Chúa, chớ cứng lòng, như tại Mêriba và Maxa, nơi tổ phụ ta đã từng thách thức Chúa. Ước gì mắt ta nhìn Chúa không biết mỏi, vì chính Người sẽ gỡ chân ta khỏi dò lưới. Thiên Chúa đã chọn những người nghèo khó, để, họ trở nên người giàu đức tin. Chúa khao khát ơn cứu độ cho chúng ta hơn cả chúng ta ước ao cho mình. Chúa cần, Chúa khát, Chúa xin một chút “nước đức tin” của ta, để, Chúa tuôn đổ nguồn nước ơn cứu độ cho ta. Chúng ta hãy cho Chúa chút “nước đức tin” bằng cách nghe theo lời Chúa dạy: là ăn chay hãm mình, siêng năng cầu nguyện và chia cơm sẻ áo cho kẻ khó nghèo, nhìn nhận mình yếu hèn lầm lỗi, và hết lòng sám hối ăn năn, để, Chúa thương đoái nhìn và đưa tay nâng đỡ chúng ta. Ước gì được như thế!
Tải về:PowerPoint-CN3MC-A
Những tin mới hơn
Những tin cũ hơn
Đến nhà thờ… để được ngời sáng như Chúa
Ba Kinh Kính Mừng và Anh Bộ Đội
Lịch mục vụ tháng 03.2026 của Đức Giám Mục
Ý nghĩa và bài học từ sự kiện Chúa Giêsu hiển dung
Lược sử Mùa Chay: Hành trình 2000 năm
Xin dựng ba lều
Kẻ thù là ai?
Viết cho tình bạn: Hết thân nhưng còn thương
Hiệu Ứng Cánh Bướm
Giáo Huấn của Giáo hội về sự sống con người
Bài suy niệm Chúa Nhật II Mùa Chay -A
Bài hát cộng đồng Chúa nhật 4 mùa Chay -A
Thành lập Giáo xứ Nghĩa Thiên
Quy chế tổng quát Sách lễ Rôma
Sám hối dưới ánh sáng Tin Mừng
Run như cầy sấy - Mỗi tuần một thành ngữ
Biến Hình (Mt 17, 1-9)
Thánh Lễ Thành Lập Giáo xứ Nghĩa Thiên
277 Câu Trắc Nghiệm GIÁO LÝ DỰ TÒNG
Nghi thức lễ Gia Tiên
Thánh lễ Truyền chức Linh Mục -2023
Vui Học Giáo Lý 531 Câu Trắc Nghiệm XƯNG TỘI & RƯỚC LỄ 1
Khai mạc Hội nghị thường niên kỳ I/2023
Biên bản Hội nghị thường niên kỳ I/2023
Tân linh mục Phêrô Nguyễn Tiến Đạt: Thánh lễ tạ ơn
Việt Nam và Tòa Thánh ký kết Thỏa thuận
Giáo xứ Phúc Lộc -Mừng lễ Thánh Đa Minh
Giáo xứ Phúc Lộc: Lễ Chúa Ba Ngôi