Giáo Phận Ban Mê Thuộthttps://gpbanmethuot.net/assets/images/logo.png
Thứ tư - 25/02/2026 09:45 |
Tác giả bài viết: Gb. Nguyễn Thái Hùng |
27
Tác phẩm Ngôn sứ Giô-na cũng cho ta biết con người phải vâng phục Thiên Chúa trong mọi hoàn cảnh và sự sám hối chân thành của dân thành Ni-ni-vê để xin ơn tha thứ.
NGÔN SỨ GIÔ-NA
I. KINH THÁNH
“Khi ấy, thấy dân chúng từng đoàn lũ tụ tập lại, Chúa Giê-su phán rằng: “Dòng giống này là dòng giống gian ác. Chúng đòi điềm lạ, nhưng sẽ không ban cho chúng điềm lạ nào, ngoài điềm lạ của tiên tri Giô-na. Vì Giô-na đã nên điềm lạ cho dân thành Ni-ni-vê thế nào, thì Con Người cũng sẽ là điềm lạ cho dòng giống này như vậy. Ðến ngày phán xét, nữ hoàng phương nam sẽ đứng lên tố cáo và lên án dòng giống này, vì bà đã từ tận cùng trái đất mà đến nghe sự khôn ngoan của Sa-lô-môn. Nhưng ở đây còn có người hơn Sa-lô-môn. Dân thành Ni-ni-vê cũng sẽ đứng lên tố cáo và lên án dòng giống này, vì họ đã sám hối theo lời Giô-na giảng, nhưng ở đây còn có người hơn Giô-na nữa”.(Lc 11, 29-32 ss Mt 12, 38-42; Mc 8, 11 -12)
Đoạn Tin mừng của ngày thứ Tư tuần 1 Mùa Chay nhắc tới ngôn sứ Giô-na đến 4 lần. Nhưng ngôn sứ Giô-na là ai?
II. NGÔN SỨ GIÔ-NA
Ngôn sứ Giô-na mà Chúa Giê-su nhắc đến là Giô-na thần học trong tác phẩm văn chương ‘Ngôn sứ Giô-na’ được viết vào thời kỳ hậu lưu đầy. Còn Giô-na lịch sử thi hành sứ vụ của mình dưới triều đại vua triều vua Gia-róp-am II (khoảng năm 786 – 746 TCN) của vương quốc Ít-ra-en, miền Bắc.
A. Ngôn sứ Giô-na lịch sử
“Chính vua đã tái lập biên giới Ít-ra-en từ Cửa Ải Kha-mát cho đến biển A-ra-va, như lời Đức Chúa, Thiên Chúa của Ít-ra-en, đã dùng tôi trung của Người là ngôn sứ Giô-na, con ông A-mít-tai, quê ở Gát Khê-phe, mà phán” (2V 14, 25).
1. Thân thế
Giô-na / Jonah (tiếng Do Thái : יוֹנָה Yōnā) trong tiếng Do Thái có nghĩa là “chim bồ câu”, biểu tượng của bình an.
Giô-na, con của A-mít-tai, quê Gát-khê-phe, thuộc chi tộc Giơ-vu-lun, vùng Ga-li-lê. Điều này thú vị vì sau này người Pha-ri-sêu nói “không có ngôn sứ nào xuất thân từ Ga-li-lê”, nhưng thực tế Giô-na chính là người Ga-li-lê.
Ông thi hành sứ vụ dưới triều vua Gia-róp-am II (khoảng năm 786 – 746 TCN) của vương quốc Ít-ra-en, miền Bắc.
2.Sự nghiệp
Trong lịch sử, Giô-na không xuất hiện với vẻ "ngang bướng" như trong sách mang tên ông, mà ông là một ngôn sứ có tinh thần dân tộc mạnh mẽ.
- Lời sấm về biên cương: Theo 2 Vua 14,25, Giô-na đã tiên báo rằng vua Gia-róp-am II sẽ khôi phục lại biên giới của Israel từ lối vào Kha-mát cho đến biển A-ra-ba.
- Thành công rực rỡ: Lời tiên báo này đã ứng nghiệm. Thời Gia-róp-am II là thời kỳ hoàng kim về mặt quân sự và lãnh thổ của vương quốc miền Bắc. Israel bấy giờ mở rộng bờ cõi, kinh tế phát triển mạnh mẽ.
- Vị thế: Giô-na lúc bấy giờ là một ngôn sứ “triều đình” có uy tín, được dân chúng yêu mến vì những lời sấm của ông mang lại sự thịnh vượng và chiến thắng cho quốc gia.
3.Bối cảnh Ni-ni-vê (Á-su-rê / Assyria) thế kỷ VIII tCN
Để hiểu tại sao có câu chuyện Giô-na đi Ni-ni-vê, ta cần nhìn vào lịch sử Á-su-rê lúc đó:
- Đế quốc Á-su-rê, với thủ đô Ni-ni-vê, là nỗi khiếp sợ của vùng Trung Đông. Tuy nhiên, vào khoảng giữa thế kỷ VIII tCN, thời Giô-na sống, Á-su-rê rơi vào một giai đoạn suy yếu tạm thời do nội loạn và dịch bệnh.
- Đây có thể là “cửa sổ cơ hội” mà bản văn Kinh Thánh nhắc đến: một đế quốc đang khủng hoảng sẽ dễ dàng lắng nghe lời kêu gọi sám hối hơn khi đối diện với nguy cơ diệt vong.
B. Ngôn sứ Giô-na thần học
1. Thân thế
Giô-na / Jonah có nghĩa là “Chim bồ câu”. Ông là con của ông A-mít-tai, quê ở Gát-khê-phe, thuộc chi tộc Giơ-vu-lun, miền Ga-li-lê.
2. Sứ vụ
Chúa gọi Giô-na đi đến Ni-ni-vê, thủ đô của đế quốc Á-su-rê, kẻ thù không đội trời chung của dân Ít-ra-en thời bấy giờ, để kêu gọi họ sám hối.
- Cuộc trốn chạy: Thay vì đi về phía Đông đến Ni-ni-vê, Giô-na lại xuống tàu đi Tát-si (Tây Ban Nha) ở phía Tây để trốn mặt Chúa. Ông không muốn kẻ thù của dân mình được Chúa tha thứ.
- Biến cố bụng cá: Thiên Chúa cho một cơn bão nổi lên. Giô-na bị ném xuống biển để cứu con tàu, và một con cá lớn đã nuốt ông vào bụng. Sau 3 ngày đêm cầu nguyện trong bụng cá, ông được nhả ra trên đất liền.
- Sự sám hối kỳ diệu: Giô-na miễn cưỡng đi rao giảng tại Ni-ni-vê. Thật bất ngờ, từ vua chí dân đều ăn chay nằm trên tro bụi để sám hối. Thiên Chúa đã nguôi giận và không tiêu diệt thành phố.
- Cơn giận của ngôn sứ: Giô-na tức giận vì Chúa “quá nhân hậu”. Ông ngồi dưới bóng một cây thầu dầu và trách móc Chúa. Câu chuyện kết thúc bằng việc Chúa dùng bài học về cây thầu dầu để dạy ông về lòng thương xót bao la của Ngài dành cho mọi dân tộc, không riêng gì Ít-ra-en.
3. Sách Ngôn sứ Giô-na
Tác giả sách Ngôn sứ Giô-na, người ta tin rằng không phải do ngôn sứ Giô-na sống vào thế kỷ thứ VIII tCN thời vua Gia-róp-am II viết. Dựa trên ngôn ngữ và bối cảnh thần học, sách Giô-na được viết muộn hơn rất nhiều, khoảng thế kỷ V hoặc IV tCN, sau thời lưu đày.
Sách Giô-na không phải là tập hợp các lời sấm (như sách I-sai-a hay Giê-rê-mi-a), mà là một truyện kể mang tính giáo huấn.Tác giả ẩn danh đã dùng nhân vật lịch sử Giô-na để viết nên một bài học thần học sâu sắc.
III. SỨ ĐIỆP
Trong Tân Ước, chính Chúa Giê-su đã nhắc đến “dấu lạ ngôn sứ Giô-na”. Việc Giô-na ở trong bụng cá 3 ngày rồi trở ra là hình bóng tiên báo về việc Chúa Giê-su sẽ nằm trong mồ 3 ngày rồi phục sinh (Mt 12,39-41).
Tác phẩm Ngôn sứ Giô-na cho ta thấy lòng thưong xót của Thiên Chúa dành cho toàn thể nhân loại và dấu lạ Giô-na tiên báo về mầu nhiệm phục sinh của Chúa Giê-su Ki-tô.
Tác phẩm Ngôn sứ Giô-na cũng cho ta biết con người phải vâng phục Thiên Chúa trong mọi hoàn cảnh và sự sám hối chân thành của dân thành Ni-ni-vê để xin ơn tha thứ.
Còn tôi, Mùa Chay đã về, tôi phải làm gì? Còn bạn thì sao? Lạy Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi!