TIN MỪNG CHÚA NHẬT - LỄ TRỌNG

Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời

“Ðấng toàn năng đã làm cho tôi những sự trọng đại”. (Lc 1, 39-56)
Đọc các tin khác ➥
TÌM KIẾM

Lời Chúa THỨ SÁU TUẦN 20 THƯỜNG NIÊN

Thứ sáu - 14/08/2026 14:47 |   13
“Phải yêu mến Đức Chúa… và phải yêu thương người thân cận như chính mình.” (Mt 22,37.39)

21/08/2026
Thứ sáu tuần 20 THƯỜNG NIÊN
Thánh Piô X, giáo hoàng

t6 t20 TN

Mt 22,34-40


cốt tu đời sng ki-tô hữu
“Phả
i yêu mến Đức Chúavà phi yêu thương người thân cn như chính mình. (Mt 22,37.39)

Suy niệm: Hai gii răn ct ty này không th tách ri nhau, nhưng phi đi đôi vi nhau như hình vi bóng. C hai làm nên căn tính ca người Ki-tô hu, nghiêng v mt bên s làm cho bên kia sp đổ, ngã nhào. Có th ví lòng mến Chúa là thượng tng kiến trúc và yêu mến tha nhân là h tng. Thượng h phi gn kết đồng b ngôi nhà mi kiên vng. Thi nay người ta có khuynh hướng nghiêng v làm vic t thin bác ái, mà b qua vic kính mến Thiên Chúa. Tình yêu thương lúc đó b gii hn vào nhng mc đích đời này và có nguy cơ thoái hoá thành nhng hành vi v li thay vì là cho đi, dâng hiến vô v li, bi vì ch mong được đáp đền nơi Thiên Chúa và trong cuc sống mai sau.

Mời Bn: Động lc cho mi n lc kiến to s hip nht, sng hài hòa gia Chúa vi bn và gia bn vi tha nhân là lòng yêu mến. Nếu yêu mến Chúa, bn cũng s biết cách yêu người, vì Ngài là Thy dy bn cũng như là mu gương cho lòng yêu mến y. Bn có đang tách bit hai điu răn này khi ch yêu mến Chúa mà thiếu lòng yêu thương tha nhân, hay ch chú trng yêu mến người khác, mà quên vic dành tình yêu cho Ngài?

Sống Li Chúa: Tôi s để Chúa chi phi, nh hưởng li suy nghĩ, li ng x c th ca mình. Chng hn như trong trường hp đây và lúc này ca tôi, thì Chúa s x trí thế nào.

Cầu nguyn: Ly Chúa, cm t Chúa luôn yêu thương con mi ngày. Xin giúp con biết yêu tha nhân như Chúa yêu, nh vy tình yêu đó giúp nâng cao phm giá tha nhân và chính con hơn. Amen.


BÀI ĐỌC TRONG THÁNH LỄ
Thứ sáu tuần 20 THƯỜNG NIÊN

Ca nhập lễ

Lạy Chúa là khiên thuẫn của chúng tôi, xin hãy trông xem, hãy nhìn tới dung mạo người được Chúa tấn phong. Thực một ngày sống trong hành lang nhà Chúa, đáng quí hơn ngàn ngày ở nơi đâu khác.

Lời nguyện nhập lễ

Lạy Chúa, Chúa dành muôn ân huệ thiêng liêng cho những người mến Chúa xin đổ tràn tình yêu nồng nhiệt xuống tâm hồn chúng con, giúp chúng con một niềm mến Chúa trong mọi sự và hơn mọi loài, hầu được hưởng gia nghiệp Chúa hứa, là gia nghiệp cao quý hơn những gì lòng người dám ước mong. Chúng con cầu xin…

Bài Ðọc I: (Năm I) R 1, 1. 3-6. 14b-16. 22

Bà Nôêmi cùng nàng dâu người Moab là bà Ruth, từ nơi di cư trở về thành Bêlem”.

Khởi đầu sách truyện Bà Ruth.

Khi các quan án cầm quyền, thì dưới thời một quan án kia, trong xứ xảy ra nạn đói kém. Có một người thành Bêlem, thuộc chi tộc Giuđa, đem vợ và hai con sang cư ngụ trong miền Môab.

Và Elimêlech, chồng bà Nôêmi, qua đời, để bà lại với hai con. Hai con bà cưới hai thiếu nữ Môab làm vợ: một tên là Orpha, còn người kia tên là Ruth. Họ chung sống ở đó được mười năm, thì cả hai người chồng là Mahalon và Kêlion cũng qua đời, còn lại mình bà Nôêmi không chồng con. Bấy giờ bà Nôêmi cùng với hai nàng dâu định bỏ đất Môab trở về quê hương, vì nghe nói Chúa thương dân Người, và ban cho họ lương thực.

Bà Orpha hôn mẹ chồng và ở lại đó. Còn bà Ruth thì đi theo mẹ chồng. Bà Nôêmi bảo bà Ruth rằng: “Kìa, chị dâu con đã ở lại với dân mình và các thần minh của họ, con hãy ở lại với chị con”. Bà Ruth thưa lại rằng: “Xin mẹ đừng bắt con bỏ mẹ mà ở lại, vì mẹ đi đâu thì con cũng đi theo đó. Dân tộc của mẹ là dân tộc của con, và Thiên Chúa của mẹ là Thiên Chúa của con”.

Vậy bà Nôêmi cùng nàng dâu người Môab là bà Ruth, từ nơi di cư trở về thành Bêlem, vào đầu mùa gặt lúa.

Ðó là lời Chúa.

Ðáp Ca: Tv 145, 5-6. 7. 8-9a. 9bc-10

Ðáp: Linh hồn tôi ơi, hãy ngợi khen Chúa

Hoặc đọc: Alleluia.

Xướng: Phúc thay người được Thiên Chúa nhà Giacóp phù trợ, người đặt hy vọng vào Chúa là Thiên Chúa của mình: Người là Ðấng đã tạo thành trời đất, biển khơi và muôn vật chúng đang chứa đựng.

Xướng: Người là Ðấng trả lại quyền lợi cho người bị ức, và ban cho những người đói được cơm ăn. Thiên Chúa cứu gỡ những người tù tội.

Xướng: Thiên Chúa mở mắt những kẻ đui mù. Thiên Chúa giải thoát những kẻ bị khòm lưng khuất phục, Thiên Chúa yêu quý các bậc hiền nhân, Thiên Chúa che chở những khách kiều cư. 

Xướng: Thiên Chúa nâng đỡ những người mồ côi quả phụ, và làm rối loạn đường lối đứa ác nhân. Thiên Chúa sẽ làm vua tới muôn đời. Sion hỡi, Thiên Chúa của ngươi sẽ làm vua tự đời này sang đời khác. 

Bài Ðọc I: (Năm II) Ed 37, 1-14

“Hỡi các bộ xương khô, hãy nghe lời Chúa. Ta sẽ dẫn các ngươi ra khỏi mồ, và dẫn dắt các ngươi vào nhà Israel”.

Trích sách Tiên tri Êdêkiel.

Trong những ngày ấy, tay Chúa đặt trên tôi, và dẫn tôi đi trong thần trí của Chúa: Người để tôi giữa cánh đồng đầy hài cốt; Người đem tôi đi vòng quanh những hài cốt ấy, có rất nhiều bộ xương khô nằm la liệt trên cánh đồng. Và Chúa phán cùng tôi rằng: “Hỡi con người, ngươi nghĩ các xương này sẽ có thể được sống chăng?” Tôi thưa: “Lạy Chúa là Thiên Chúa, Chúa đã biết”. Người liền phán cùng tôi: “Ngươi hãy nói tiên tri về các bộ xương này, và bảo chúng rằng: ‘Hỡi các bộ xương khô, hãy nghe lời Chúa. Chúa là Thiên Chúa phán cùng các bộ xương như thế này: Ðây Ta sẽ khiến hồn nhập vào các ngươi và các ngươi sẽ được sống. Ta sẽ đặt gân trên các ngươi, sẽ khiến thịt mọc ra trên các ngươi, và cho da bọc các ngươi: Ta sẽ ban hồn cho các ngươi, các ngươi sẽ được sống và biết rằng Ta là Chúa’ “. Tôi đã nói tiên tri như Chúa đã truyền cho tôi.

Ðang lúc tôi nói tiên tri, thì có tiếng ồn ào, và tôi thấy chuyển động: các bộ xương họp lại với nhau, xương ăn khớp với nhau. Tôi quan sát, và này đây, gân và thịt mọc trên các bộ xương: có da bọc lại, nhưng chưa có hồn. Và Chúa phán cùng tôi rằng: “Ngươi hãy nói tiên tri về hồn, hỡi con người, hãy nói tiên tri và bảo hồn rằng: ‘Chúa là Thiên Chúa phán như thế này: Hỡi hồn, hãy từ bốn phương tiến đến’, và thổi hơi trên những kẻ bị giết này, để chúng sống lại”. Tôi đã nói tiên tri như Chúa đã truyền cho tôi. Hồn liền nhập vào chúng và chúng được sống. Chúng đứng thẳng lên làm thành một đạo quân cực kỳ đông đảo.

Và Chúa phán cùng tôi rằng: “Hỡi con người, các bộ xương này là toàn thể nhà Israel. Chúng nói rằng: ‘Xương chúng tôi đã khô đét, chúng tôi mất hết hy vọng, chúng tôi đã bị tiêu diệt’. Bởi đó, ngươi hãy nói tiên tri cho chúng rằng: ‘Chúa là Thiên Chúa phán như thế này: Hỡi dân Ta, này Ta sẽ mở các cửa mồ các ngươi, Ta sẽ kéo các ngươi ra khỏi mồ, và dẫn dắt các ngươi vào đất Israel. Hỡi dân Ta, các ngươi sẽ biết Ta là Chúa, lúc Ta mở cửa mồ các ngươi, và kéo các ngươi ra khỏi mồ, Ta sẽ cho các ngươi thần trí của Ta, và các ngươi sẽ được sống; Ta sẽ cho các ngươi an cư trên đất các ngươi, các ngươi biết rằng: Ta là Chúa, chính Ta đã phán và sẽ thi hành’ “.

Ðó là lời Chúa.

Ðáp Ca: Tv 106, 2-3. 4-5. 6-7. 8-9

Ðáp: Hãy chúc tụng Chúa, vì đức từ bi Người còn muôn thuở (c. 1).

Hoặc đọc: Alleluia.

Xướng: Hãy xướng lên, hỡi những người được Chúa thục mạng cho, những người Chúa đã thục mạng khỏi tay quân thù: những người Chúa đã họp lại từ muôn đất nước; từ đông sang tây và từ bắc chí nam. – Ðáp.

Xướng: Xưa họ lạc lõng trong chốn cô liêu hoang địa, không biết đường đi tới thành trì có thể định cư. Lúc bấy giờ họ đói khát, và sinh lực trong người họ hao mòn.

Xướng: Họ kêu cầu cùng Chúa trong lúc khốn cùng, Người đã cứu họ thoát cảnh gian truân. Người dẫn họ đi trên con đường thẳng, để họ tới được thành trì có thể định cư.

Xướng: Những người đó hãy cảm ơn Chúa vì lòng nhân hậu, và những điều kỳ diệu của Người đối với con người ta. Bởi Người đã cho người đói khát được no đủ, người cơ hàn được tràn trề thiện hảo.

Alleluia: Mt 11, 25

Alleluia, alleluia! – Lạy Cha là Chúa trời đất, Con xưng tụng Cha, vì Cha đã mạc khải những mầu nhiệm nước trời cho những kẻ bé mọn. – Alleluia.

Phúc Âm: Mt 22, 34-40

“Ngươi hãy yêu mến Chúa là Thiên Chúa ngươi, và yêu thương kẻ khác như chính mình ngươi”.

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.

Khi ấy, những người biệt phái nghe tiếng Chúa Giêsu đã làm cho những người Sađốc câm miệng, thì họp nhau lại. Ðoạn một người thông luật trong nhóm họ hỏi thử Người rằng: “Thưa Thầy, trong lề luật, giới răn nào trọng nhất?” Chúa Giêsu phán cùng người ấy rằng: “Ngươi hãy yêu mến Chúa là Thiên Chúa ngươi hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi. Ðó là giới răn thứ nhất và trọng nhất. Nhưng giới răn thứ hai cũng giống giới răn ấy, là: Ngươi hãy yêu thương kẻ khác như chính mình ngươi. Toàn thể lề luật và sách các tiên tri đều tóm lại trong hai giới răn đó”.

Ðó là lời Chúa.

Lời nguyện tiến lễ

Lạy Chúa, xin chấp nhận lễ vật của chúng con và thực hiện cuộc trao đổi kỳ diệu trong thánh lễ này: là cho chúng con được đón nhận chính Chúa khi chúng con dâng tiến của lễ do Chúa tặng ban. Chúng con cầu xin…

Ca hiệp lễ

Chúa rộng lượng từ bi, và Chúa rất giàu ơn cứu độ.

Hoặc đọc:

Chúa phán: Ta là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này, sẽ sống đời đời.

Lời nguyện hiệp lễ

Lạy Chúa, Chúa đã ban bí tích Thánh Thể cho chúng con được tham dự vào sự sống của Ðức Kitô; xin cho chúng con được trở nên giống như Người, để mai sau được vào thiên quốc cùng Người chung hưởng phúc vinh quang. Người hằng sống và hiển trị muôn đời.

Suy niệm

ĐIỀU RĂN TRỌNG NHẤT (Mt 22,34-40)
Lm. Giuse Đinh Lập Liễm

1. Người Do thái có quá nhiều luật đến độ họ không hiểu khoản luật nào là cốt yếu. Vì thế họ đưa vấn đề ra để thử Chúa Giê-su. Câu trả lời của Chúa Giê-su vừa gọn gàng, minh bạch, vừa súc tích. Chúa Giê-su vạch ra cho họ thấy cái mấu chốt, điều cốt lõi của lề luật, đồng thời Người nâng cao khoản luật “Yêu tha nhân” tiếp ngay sau luật “Kính Thiên Chúa”. Kính Chúa yêu người là hai giới răn phải luôn đi đôi với nhau, như thánh Gio-an đã khẳng định: “Kẻ nói kính Chúa mà không yêu người là kẻ nói dối”.

2. Tuần báo Newsweek số ra ngày 10/8/1993 đã ghi lại một sáng kiến mới lạ tại Nhật, đó là “Sư máy”. Vị sư máy này, mới nhìn qua, không khác gì vị tu hành thực thụ: đầu cúi xuống, mắt khép lại, môi và các cơ bắp đến gương mặt cử động theo nhịp cầu kinh ghi sẵn, một tay cầm chuỗi đưa lên một tay thì gõ mõ. Mỗi vị sư máy có thể cầu kinh không biết mỏi mệt, và có thể thuộc toàn bộ kinh kệ của mười giáo phái Phật giáo khác nhau tại Nhật. Sáng kiến này được đưa ra nhằm đáp ứng nhu cầu ơn gọi sư sãi ngày càng khan hiếm trong các Giáo hội Phật giáo tại Nhật. Tuy nhiên, như tác giả bài báo ghi nhận: những cái máy làm được mọi sự, duy chỉ một điều chúng không thể làm được, đó là chúng không biết yêu thương.

3. Trong bài Tin Mừng hôm nay, khi trả lời cho nhà thông luật, Chúa Giê-su cũng tóm lược giáo huấn yêu thương của Ngài: Thưa Thầy, trong lề luật, giới răn nào trong nhất”? Câu nói mà người thông luật đặt ra cho Chúa Giê-su vừa là cái bẫy gài Ngài, vừa phản ánh tâm thức vụ hình thức của họ. Họ tuân giữ mọi lề luật, họ phân chia bậc thang giá trị của mỗi lề luật, họ đánh giá con người theo sự trung thành của người đó đối với lề luật, họ sẵn sàng hy sinh tất cả để trung thành với từng chi tiết của lề luật, thế nhưng họ lại không màng đến cái cốt lõi của lề luật là tình yêu thương.

4. Trả lời cho người thông luật, Chúa Giê-su nói: Tất cả lề luật và lời các tiên tri đều quy về hai giới răn: mến Chúa và yêu người”. Điều đó có nghĩa là nếu loại bỏ tình thương ra khỏi lề luật, thì toàn bộ lâu đài của lề luật sẽ sụp đổ. Người thông luật và những Biệt phái hẳn phải ngạc nhiên về giáo huấn của Chúa Giê-su. Đối với họ, điều quan trọng là tuân giữ lề luật, chứ không phải sống theo tinh thần của lề luật là tình thương: họ sẵn sàng loại bỏ và khước từ tình thương đối với tha nhân để trung thành với lề luật, cụ thể là giữ ngày Hưu lễ. Chúa Giê-su gọi giáo huấn của Ngài là một điều răn mới: mới vì Ngài đặt tình thương vào trọng tâm của lề luật, mới vì Ngài xem tình yêu đối với tha nhân như một thể hiện của lòng mến Chúa (Mỗi ngày một tin vui).

5. Yêu thương là kiện toàn lề luật; yêu thương là cốt lõi của Đạo. Đi Đạo, sống Đạo, giữ Đạo, xét cho cùng chính là yêu thương, không yêu thương thì con người chỉ còn là một thứ người máy vô hồn. Thánh Gio-an Tông đồ, người đã suốt đời sống và suy tư về tình yêu, vào cuối đời, ngài đã tóm tắt tất cả thành một công thức: Thiên Chúa là tình yêu”, và ngài dẫn giải: “Ai nói mình yêu mến Thiên Chúa mà lại ghét anh em thì đó là kẻ nói dối, bởi vì kẻ không yêu thương người anh em nó thấy trước mắt, tất không thể yêu mến Đấng nó không thấy”.

6. Trong thực hành, chúng ta không muốn đưa ra những câu định nghĩa trừu tượng về tình yêu Chúa và tha nhân mà chỉ muốn đi vào thực hành trong cuộc sống.

Chúng ta có thể nhận định về câu nói của Đức cha Arthur Tonne: “Yêu Chúa là gì? Yêu mến Chúa là “ao ước làm vui lòng Chúa”. Lệnh truyền của Chúa Ki-tô có thể đọc là: “Con hãy ao ước làm vui lòng Chúa”.

Yêu tha nhân có nghĩa là “ao ước làm điều thiện hảo cho họ”. Chúng ta không thể “làm điều thiện hảo cho Chúa, nhưng chúng ta có thể ao ước làm vui lòng Ngài. Chúng ta có thể  và phải làm điều thiện hảo cho tha nhân. Một trong những cách tốt nhất để làm vui lòng Chúa là làm điều thiện hảo cho tha nhân. Đã có những lần Chúa Giê-su nói với chúng ta rằng ai yêu mến Chúa thì tuân giữ giới răn của Ngài. Cách đây vài Chúa nhật, chúng ta đã thấy rằng giới răn của Chúa là bằng chứng tình yêu của Ngài đối với chúng ta. Tuân giữ điều răn Chúa là bằng chứng tình yêu của chúng ta  đối với Ngài (Gm Arthtur Tonne, Bài giảng Tin Mừng, năm A, tr 130).

7. Truyện: Đi tìm chén thánh

Có một câu chuyện huyền thoại về “người Samaritanô tốt lành” có tên là Sir Launfal, một hiệp sĩ trẻ hào hùng. Một ngày nọ chàng hiệp sĩ lên đường đi truy tìm chiếc chén thánh mà Chúa Giê-su đã sử dụng trong bữa Tiệc ly. Khi chàng bắt đầu rời khỏi thành phố ra đi thì gặp ngay một người cùi đang ngồi ăn xin bên vệ đường. Chạnh lòng thương, chàng đã giúp cho người cùi một đồng, rồi ra đi. Chàng tìm mãi chẳng thấy chén thánh đâu! Thất bại, chàng hiệp sĩ bèn lên ngựa quay trở về nhà. Lúc này chàng đã già hơn xưa sau cuộc hành trình  tìm kiếm thật gian khổ.

Còn người cùi vẫn ngồi ăn xin ở chỗ cũ. Chàng hiệp sĩ chẳng còn tiền bạc gì nữa để cho, anh chia sẻ với người cùi mảnh bánh vụn còn lại trong cuộc đời. Ăn xong, họ chẳng có gì để uống. Chàng hiệp sĩ bèn lấy cái tô của người cùi đi tìm nước cho người cùi uống. Khi chàng bưng tô nước quay trở lại đưa cho người cùi thì người cùi đã biến thành Chúa Giê-su và tô nước hóa nên chén thánh mà chàng đang đi tìm kiếm.
 

BÀI ĐỌC TRONG THÁNH LỄ
Thánh Piô X, giáo hoàng

Ca nhập lễ

Chúa đã chọn người làm thượng tế, và khi mở kho tàng của Ngài, Ngài đã làm cho người được sung mãn muôn ơn.

Lời nguyện nhập lễ

Lạy Chúa, Chúa đã ban cho thánh giáo hoàng Pi-ô X trí khôn ngoan siêu việt và lòng dũng cảm xứng bậc Tông Ðồ, để người bênh vực đức tin công giáo và quy tụ tất cả về Ðức Kitô. Xin rộng ban cho chúng con biết nghe lời thánh nhân giảng dạy và noi gương sáng của người hầu mai ngày đạt tới phúc trường sinh. Chúng con cầu xin…

Bài đọc

Phụng vụ Lời Chúa – (theo ngày trong tuần)

Lời nguyện tiến lễ

Lạy Chúa, xin mở lòng nhân hậu chấp nhận của lễ chúng con dâng, và giúp chúng con thực hành những lời thánh Pi-ô giảng dạy là đem lòng thành kính mến yêu mà cử hành các mầu nhiệm thánh và thông hiệp với tất cả lòng tin. Chúng con cầu xin

Ca hiệp lễ

Đấng chăn chiên lành đã thí mạng sống mình vì con chiên.

Lời nguyện hiệp lễ

Lạy Chúa, là Thiên Chúa chúng con, nhân ngày lễ thánh Pi-ô giáo hoàng, Chúa đã dùng bí tích Thánh Thể bồi dưỡng chúng con. Xin làm cho lòng tin của chúng con thêm vững mạnh, và giúp chúng con sống với Chúa cho trọn tình con thảo, để có thể sống với nhau như anh em một nhà. Chúng con cầu xin…

Ghi nhận lịch sử – phụng vụ

Đức thánh giáo hoàng Piô X, qua đời tại Roma ngày 21 tháng tám năm 1914, phong thánh năm 1954, nhắc ta nhớ tới một giai đoạn rối rắm và đau thương trong lịch sử Giáo hội. Các lý thuyết duy lý, duy tân và Jansenis đe dọa đức tin nguyên truyền trong lúc lửa chiến tranh thế giới thứ nhất trên đà bộc phát.

Giuseppe Sarto sinh năm 1835 tại Riese, một làng nhỏ miền Vénétie, là con một gia đình nông dân tầm thường. Sau những năm học chủng viện ở Padoua, thầy Giuseppe Sarto thụ phong linh mục, rồi lần lượt làm phó xứ, cha sở, giám mục Manton, giáo chủ Venise và hồng y năm 1893. Tại hội nghị hồng y năm 1903, Ngài được bầu kế vị Đức Lêô XIII. Triều giáo hoàng của Ngài nổi bật với những cải tổ phụng vụ liên quan đến sách nhật tụng, Phép Thánh thể, bình ca và việc rước lễ thường xuyên. Ngài cũng cho ấn hành một cuốn giáo lý mới mà đích thân Ngài giải thích nó mỗi ngày Chúa nhật. Ngài bắt đầu công việc sửa đổi bộ Giáo luật. Việc quản trị Giáo hội đặc biệt Giáo triều Roma, cũng được sửa đổi. Thế nhưng vị giáo hoàng hiền lành đạo đức này lại gặp nhiều khó khăn, trái ý; Ngài cũng bị vướng vào nhũng rối rắm chính trị và giáo lý của một thời đại nhiều xáo trộn. Hơn nữa, Ngài linh cảm sự đe dọa của chiến tranh thế giới thứ nhất sắp bùng nổ năm 1914. Ngài qua đời hai mươi ngày sau chiến tranh bùng nổ. Ngài nói: “Các con yêu dấu, cha hiến dâng mạng sống của cha. Hằng triệu người chết … Cha muốn giúp tránh nó, nhưng lực bất tòng tâm”. Trong chúc thư để lại, Ngài viết: “Tôi sinh ra trong cảnh nghèo và tôi muốn chết nghèo”. Thân xác Ngài vẫn còn nguyên vẹn, được tôn kính nơi Đền thờ thánh Phêrô ở Vatican

Thông điệp và tính thời sự

Chúa đã ban cho thánh Piô X được tràn đầy sự khôn ngoan thần linh và đức can đảm tông đồ (lời nguyện trong ngày). Ngài biểu lộ rõ rệt các đức tính đó trong suốt triều đại giáo hoàng của mình. Trước hết Ngài bãi bỏ luật Veto (phủ quyết) mà một số quốc gia vẫn còn giữ về vấn đề bầu chọn giáo hoàng, tiếp theo Ngài giải tán Opera dei Congressi, đồng thời các phong trào mà sau này, dưới đời Đức Piô XI sẽ lấy tên là công giáo tiến hành. Tại Pháp, Ngài lên án chính sách bài giáo sỹ của Combes và phản đối luật tách biệt Giáo hội khỏi Quốc gia. Cuối cùng là vụ kết án thuyết duy tân, ban đầu bằng sắc lệnh Lamentabili, sau là thông điệp Pascendi (1907).

Lời nguyện trên lễ vật thúc đẩy chúng ta học “theo các bài học của thánh Piô X hầu hết các mầu nhiệm thần linh với lòng kính cẩn, thông hiệp với chúng bằng đức tin”. Trong công cuộc của vị thánh giáo hoàng này, cải tổ phụng vụ là trọng tâm. Chính Ngài tuyên bố: “Từ nguồn suối duy nhất không thể thiếu đó tức là việc tham dự các mầu nhiệm thần linh, chúng ta có thể múc được tinh thần Kitô hữu đích thực” (Motu propio ngày 22-11-1903). Một cách nào đó, Ngài đã mở đường cho việc canh tân phụng vụ của Vatican II khi nhấn mạnh việc tham gia tích cực của giáo dân vào thánh lễ, việc canh tân âm nhạc thánh và cổ võ việc hát bình ca truyền thống. Ngài cũng thực hiện việc sửa đổi sách thần vụ bằng cách đặt ưu tiên cho việc đọc toàn bộ thánh vịnh (Hiến chế Divino Afflatu 1911) như trong phụng vụ bài đọc có nhắc lại. Trên lãnh vực thánh kinh, Đức Piô X đã có một số biện pháp như thành lập Ủy ban giáo hoàng nghiên cứu Thánh kinh (1907), lập viện kinh thánh (1909), rà soát lại bản phổ thông.

Lời nguyện tạ lễ khẩn cầu Chúa, nhân ngày lễ thánh Piô X, cho chúng ta “kiên vững trong đức tin”. Vào một giai đoạn nhiễu nhương khi các Kitô hữu cần được bảo vệ trong đức tin, thánh Piô X đã chứng tỏ sự vững chắc trong lãnh vực giáo lý công giáo, ý thức trách nhiệm chủ chăn tối cao của mình. Nhưng vị bảo vệ chính thống nồng nhiệt đó trước hết là một con người “nghèo khó, hiền lành và khiêm nhường trong lòng”. Phản ứng chống lại các luồng do phái Jansenius, quá khắc khổ và duy lý của thời đại, Ngài dần nổ lực để minh chứng Chúa là yêu thương. Chính vì thế Ngài đã cho tái lập việc thường xuyên đến với các bí tích, việc cử hành thánh lễ có sự tham gia tích cực của giáo dân và việc rước lễ thường xuyên. Đặc biệt, qua sắc lệnh Quam singulari (1910). Người cho phép trẻ đến tuổi có lý trí được rước lễ.

Đức Piô X khi chấp nhận làm giáo hoàng, đã thốt lên: “In crucem = đến với thánh giá”. Quả thế, các khó khăn đã chỉ gia tăng trên bước đường của Ngài, nhưng lại trở thành nguồn gốc cho tính khiêm nhu, thậm chí hiền lành trong công việc mục vụ của Ngài. Mộ chí Đức Piô X tóm tắt sâu sắc sự thánh thiện cao cả của vị thánh giáo hoàng này: “nghèo nhưng phong phú, hiền lành và khiêm nhường trong lòng, bảo vệ nhiệt thành chân lý công giáo, Người đã hiến trọn nổ lực để cải tạo lại tất cả trong Chúa Kitô”.

Enzo Lodi

PowerPoint-t6-t20-TN

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây