TIN MỪNG CHÚA NHẬT - LỄ TRỌNG

Chúa Nhật XXV Thường Niên -Năm A

“Hay mắt bạn ganh tị, vì tôi nhân lành chăng”. (Mt 20, 1-16a)
Đọc các tin khác ➥
TÌM KIẾM

Truyện ngắn: Đưa Người Về Đất

Thứ bảy - 19/09/2026 23:29 | Tác giả bài viết: Phạm Đình Duy |   32
Qua hình ảnh ‘nắm đất’, tác phẩm gợi lên suy tư về thân phận con người: trước cái chết, mọi sang hèn đều trở nên bình đẳng.

#265 Bước Từng Bước | Truyện ngắn: Đưa Người Về Đất

va200926a


“Đưa người về đất” là một truyện ngắn rất sâu sắc và giàu tính nhân văn, kể về ông Thương – người gắn bó cả đời với việc tiễn đưa người chết. Truyện nổi bật ở cách khắc họa một con người từng bị xem thường nhưng lại mang trong mình lòng trắc ẩn lớn lao. Qua hình ảnh ‘nắm đất’, tác phẩm gợi lên suy tư về thân phận con người: trước cái chết, mọi sang hèn đều trở nên bình đẳng. Đây là một câu chuyện để lại nhiều suy ngẫm và dư âm lắng đọng trong lòng người đọc.

 

Truyện ngắn: ĐƯA NGƯỜI VỀ ĐẤT
Tác giả: Phạm Đình Duy

trong tuyển tập các tác phẩm vào vòng chung khảo giải truyện “Hy vọng và Hòa Giải” của Vatican News Tiếng Việt. 

Sau Thánh Lễ đưa chân, từng người bắt đầu xếp hàng đưa tiễn người quá cố về đất. Xếp đầu, Thánh Giá đèn hầu, rồi đến đoàn người thân thuộc, nhỏ trước lớn sau hàng lối. Quan tài người quá cố phía sau và cuối cùng là thân hữu bạn bè kề cận. Trước khi ngôi mộ lấp phủ, từng người bốc nắm đất nhỏ rải xuống mộ phần từ biệt. Không biết từ đâu khơi sinh tập tục này. Tuy vậy, ta cứ nhìn và ngẫm. Nó ý nghĩa vô cùng. Nắm đất vô hồn trong tay ai đó rải rắc như nhắc về thân phận người. Nắm đất không phân biệt sang hèn, tội nhân hay thánh thiện. Nắm đất luôn công bằng.

Theo truyền thống, người Công Giáo trước lúc an táng thì phải đưa quan tài đến nhà thờ. Thánh Lễ an táng được coi như Thánh Lễ cuối cùng mà người quá cố tham dự trên gian trần. Biểu tượng như thế, chứ người chết rồi thì tham dự Thánh Lễ thế nào được. Thánh Lễ ấy mang ơn ích cho người sống nhiều hơn.

Người chết đều như nhau. Tuy nhiên, vì lý do gì không rõ và từ lúc nào, giáo xứ Hòa Hiệp này phân chia nhiều quy định cụ thể lắm. Giáo dân bình thường mất thì quan tài đặt cuối nhà thờ. Cha mẹ tu sĩ và linh mục thì được đặt giữa nhà thờ. Linh mục và tu sĩ mất thì quan tài đặt trên cùng, gần Cung Thánh.

Đó là phần trong nhà thờ. Phần chôn cất ở nghĩa trang cũng được quy định hẳn hoi. Linh mục, tu sĩ được an táng nơi trung tâm, sát bên Thánh Giá chính. Phía gần bên là nơi dành cho những người “có công” với giáo xứ. Còn người bình thường thì cứ theo thứ tự phân chia của người quản trang. Dù mới nhìn vào, hàng hàng lớp lớp ngôi mộ thẳng ngay tiếp nối, nhưng bên trong có sự phân chia ranh giới ngầm.

Thực ra, người chết đều như nhau. Chuyện hơn thua bởi người sống so bì mà ra. Các tiêu chuẩn đời thường được người ta mang từ chợ búa lên tận nghĩa địa. Một người nằm xuống, nhiều người chứng tỏ; đặc biệt trước cái chết những con người có chút tiếng tăm. Con người vốn giả tạo lắm. Câu ví von “mồ mả tô vôi” được Chúa Giêsu nhắc trong Kinh Thánh càng lúc càng thấm đẫm hơn mỗi khi tĩnh tâm rà soát con người mình.

Ông Thương, người được mệnh danh là “ân nhân của người chết”, thấm thía nhất điều này. Ông chứng kiến trăm ngàn cái chết và cuộc đưa tiễn. Ông nghe hàng khối bài điếu văn sướt mướt, cùng lớp lớp vòng hoa đắt tiền. Người thương mến gọi ông là ân nhân “đưa người về đất”. Kẻ bàng quan mỉa mai ông “sống nhờ kẻ chết”. Biệt danh ấy gắn với ông vài chục năm nay, kể từ khi ông đưa gia đình về vùng đất này lập nghiệp, chọn công việc kề cận nghĩa trang và xác chết để mưu sinh.

Giáo xứ Hòa Hiệp thành lập từ thập niên 1960, khi từng đoàn người miền Trung di cư vào Khánh Hòa lập nghiệp. Lớp người ban đầu được vị linh mục tiên khởi đưa vào. Họ quy hoạch và phân chia đất đai; cùng nhau dựng nhà, canh tác và tá túc nơi vùng đất mới. Sau năm 1975, đoàn người kế tiếp di cư đến, cùng sáp nhập vào. Đợt này, có vài gia đình Phật Giáo. Người đợt đầu được phân chia nhiều đất canh tác hơn. Họ chọn sống nơi thuận tiện hơn, như: gần nhà thờ, gần chợ, gần trường... Người đến sau bị đẩy lùi xa trung tâm, gần sát chân núi. Người Công Giáo chọn nơi sinh sống xung quanh nhà thờ. Người Phật Giáo và bên Lương dạt ra xa, tách biệt; gọi nhóm Xóm Đồi. Tuy vậy, khi chết, tất cả cùng chung về một nơi: nghĩa trang Hòa Hiệp.

Vùng đất mới này trước đây rừng rú, gồm một ít gia đình bản xứ sống rải rác. Đa phần, họ gốc người Chàm. Khi người Kinh tới ở, người Chàm co cụm lại. Họ bị đẩy dần, đẩy dần tới khi mất hẳn. Họ ra đi và chỉ còn lưu sót vỏn vẹn cái nghĩa địa với mấy ngôi mộ cổ nằm kế bên nghĩa trang Hòa Hiệp.

Giáo dân Hòa Hiệp trình bày với cha sở:

- Mình nên tôn trọng họ, đừng phá và chiếm nghĩa trang của họ. Dù sao, mình cũng chỉ là người kế thừa, còn mảnh đất này vốn dĩ của tổ tiên họ gầy dựng và để lại. Chúng ta cần làm hàng rào bao quanh giữ gìn, tỏ lòng tôn trọng và biết ơn.

Tâm tình giáo dân rất hợp lý và cha sở đồng thuận. Thế là mảnh đất chọn làm nghĩa trang giáo xứ được quy hoạch rộng lớn, đối diện mấy ngôi mộ Chàm cũ. Diện tích khoảng bốn hecta, được phát bằng, đóng cọc, phân ranh bài bản. Nó tiếp giáp tới tận chân núi.

Sinh hoạt cộng đồng thời ấy hình thành sơ bộ, kéo mãi tới thập niên 1990, gần như tất cả đã vào quy củ. Người di cư đợt đầu lẫn đợt sau đều gầy dựng kinh tế tương đối ổn định. Người ít kẻ nhiều có nhà cửa đất đai canh tác. Đất cát thời ấy hoang vu. Người tới trước khai thác và chiếm hữu nhiều hơn. Người khỏe mạnh và chăm chỉ được nhiều hơn. Sổ sách và ranh giới bắt đầu định hình. Đất phải có sổ đỏ. Ranh giới phải có cọc dây hẳn hoi. Các hàng kẽm gai giăng nối phân chia. Chỉ còn khu vực nghĩa trang gần chân núi hoang vu khô cằn, vì nó là vùng đất chết, chẳng ai muốn chiếm. Số đất đai bao quanh bên ngoài hàng rào nghĩa trang vẫn để yên cho cỏ tranh và cây dại mọc vô lối. Vài ngôi mộ chôn vội, chen lấn với đám cỏ tranh này.

Gia đình ông Thương từ đâu mới tới sau này, ít ai biết. Họ nói giọng miền Trung phía ngoài, lai giữa vùng Quảng Bình và Hà Tĩnh. Họ lâm cảnh khó khăn và đùm túm rày đây mai đó. Thời ấy, ông bà Thương chừng ngoài 30 tuổi và có tới sáu mặt con. Đứa lớn nhất trên dưới 10 tuổi nhưng nhỏ thó, đen đủi. Mấy đứa sau chẳng khá hơn, tóc quắn riết. Xương sườn xương xẩu lòi ra như dây nhợ kẽm gai hàng rào giăng mắc.

Lúc đầu, gia đình họ trú ngụ ở ngôi nhà nhỏ bỏ hoang ngay bờ suối ngang. Được một tuần, chủ đất không cho ở nữa. Nhà dù bỏ trống, họ cũng không muốn cho người lạ, đặc biệt người miền ngoài mới vào.

Ông bà Thương lân la tìm hết chỗ này tới chỗ kia cho mấy nhóc tá túc mà không có. Họ đã dừng bao nhiêu bến đỗ mới tới được vùng này. Gia đình họ túng cực không lối thoát, nên tùm húm đèo nhau lên tàu lửa vô Nam tìm đường sống. Họ đi vô chừng, chứ không định dừng chân chốn nào cả. Họ như dân du mục thời xưa, thấy chỗ nào tạm tạm thì ở.

Nay, họ tới Khánh Hòa. Chuyến tàu dừng nghỉ ở ga Suối Cát, ông Thương đưa mắt nhìn quanh, ngó thấy thấp thoáng tháp chuông nhà thờ và xóm nhà lá xung quanh nên tất tả kéo vội gia đình nhảy xuống tàu. Hai vợ chồng với sáu đứa con bươn chải mọi cách kiếm ăn. Chồng vợ phụ quán xá, con cái lượm ve chai và xin ăn khắp chốn… Ban đêm, họ tá túc lúc ở hiên nhà thờ, lúc ở sạp chợ hoang vắng. Cuối cùng, họ tìm được căn nhà hoang bên suối nhưng không bền lâu.

Ông Thương đành bấm bụng đưa gia đình lên khu nghĩa địa, sát sườn núi. Lúc đầu, ông chọn mấy ngôi mộ lớn trong nghĩa trang Hòa Hiệp trải chiếu nằm đỡ. Dần dần, ông phát hiện phía đối diện có mấy ngôi mộ người Chàm được lấp sâu trong đám cây cối và cỏ tranh. Ông mò mẫm tìm đường tới và phát quang rộng rãi, kéo gia đình tới cắm lều. Mớ cỏ khô và tấm bạt chắp vá được giăng lên che nắng mưa. Nó trở thành nhà.

Tổng cộng khu đất này tầm 20 ngôi mộ lớn nhỏ, nhưng để ý kỹ, chỉ ba ngôi mộ lớn với hoa văn đặc thù. Ba ngôi mộ này nằm gần nhau. Nền móng kiên cố và rộng hơn rất nhiều. Ông Thương tận dụng lớp xi măng ấy làm giường ngủ cho hai vợ chồng và tụi nhỏ. Vậy là, họ đã có nơi ở, tạm gọi là nhà.

Thời ấy, chẳng ai quan tâm, kể cả chính quyền. So ra, phần lớn người ta vừa đủ ăn đủ mặc, chứ ít giàu có như bây giờ. Cho nên, việc một gia đình ra nghĩa trang sống hay lang thang chợ trời, rất bình thường. Vùng núi đồi cát trắng Khánh Hòa phù hợp với loài nhông đất. Chúng đục hang chui rúc nơi các phần mộ; và làm thức ăn cho gia đình ông Thương lúc mưa gió hay thời điểm khan hiếm. Ông Thương dẫn mấy đứa con gài nhông, làm bẫy bắt cá. Mấy con dế, thậm chí thằn lằn, mối, châu chấu, chuột, ễnh ương… cũng được làm thực phẩm; kể cả cóc với nhái bầu. Mấy cây keo quéo trái chưa kịp chín, lớp vỏ còn xanh um và chát ngầm; tụi nhỏ hái ăn ngon lành. Cây dại bờ rào, từ cò ke, chùm rụm, chùm chày, chùm bao cho tới táu nhơn, dầu lai… tụi nó chẳng bỏ qua.

Mỗi lần nghe tiếng bùm beng chiêng trống đưa ai đó về lòng đất, mấy đứa nhỏ nhao nháo chực chờ. Bởi vì sau đám tang, người ta cúng kiếng và để lại nhiều thứ. Đám tang người Công Giáo ít ra cũng lượm được các vòng hoa đem bán ve chai. Đám tang người Phật Giáo làm tụi nhỏ thích thú hơn. An táng xong, họ cúng nhiều đồ ăn thức uống. Rồi, ba ngày sau, họ làm lễ “mở cửa mả”. Điều thu hút nhất là việc thả con gà hay con chim. Họ lùa chúng chạy mấy vòng ngôi mộ, rồi thả ra. Tụi nhỏ dí theo chụp bắt, đem về nuôi. Mấy con gà, con chim được “thả phóng sinh” kiểu này yếu lắm.

Có lần, gia đình nọ thả ba con chim chích chòe lửa. Thầy chùa tụng kinh, ba con chim nhảy tới nhảy lui trên sàn chiếu. Mắt chúng lờ đờ. Lông cánh chưa đủ mạnh và xù lên run rẩy. Mấy đứa con ông Thương đứng bên ngoài canh chừng. Một con nhảy ra, chụp. Hai con nhảy ra, chụp. Con cuối cùng yếu sức, hay vì khôn hơn không biết, nó cứ lảng vảng bên chiếc chiếu mâm cúng. Nó nhảy từ đĩa trái cây sang chậu hoa trắng, rồi đậu trên lọ cắm nhang. Thằng lớn con ông Thương len lỏi băng qua đám người đang quỳ gối cúi lạy, nhảy vào chụp con chim, chạy vụt ra xa. Nó đem mấy con chim ấy về nuôi, chúng chết ngay đêm hôm đó. Tụi nhỏ xách ra chỗ bụi tre, nhổ lông và nướng vội. Mấy con chim ốm nhom trơ xương sườn bén lậy lăn qua lăn lại trên mớ lửa ngọn. Và, anh em chúng nó chụm đầu hít hà khen thơm. Nước miếng nước dãi chảy ra thèm thuồng. Bữa ấy, tụi nhóc được món ngon hơn thường ngày.

Tâm trạng mấy đứa nhỏ đói khát thực tế lắm. Chúng thích đám tang người Phật Giáo hơn Công Giáo, cơ bản vì lẽ ấy. Gia đình tang quyến thấy tụi nhỏ tội nghiệp, họ cúng xong liền vẫy tay gọi tới cho; hoặc cúng thì ít mà cho thì nhiều. Tụi nhỏ có lần nhảy vô lượm đồ ăn, gia chủ và thầy chùa dừng gõ mõ, để yên cho chúng tha hồ. Mấy lúc không thấy tụi nhỏ, người ta gói thức ăn vô bịch nilon, đem sang hàng rào đặt trên mộ mấy người Chàm, nơi ngôi nhà ông Thương sinh sống.

Càng về sau, ông Thương biến các ngôi mộ ấy thành nơi trú ngụ vững chãi hơn. Ông dựng cột, làm mái, tráng nền. Ông tận dụng dãy tre và mớ cỏ tranh đan lợp mái nhà. Ngôi nhà tranh vách đất được dựng lên, ôm ấp các ngôi mộ bên trong làm tường vách.

Sau này, các ngôi mộ cũ xung quanh nghĩa trang Hòa Hiệp được người phương xa tìm về hốt cốt, di dời. Đất đá vứt bỏ thì ông Thương và tụi nhỏ lượm về dựng nhà. Ông mang các tấm bê tông xếp lớp và lót sân nhà sạch sẽ. Vài miếng to lớn, rộng hơn một mét vuông, ông đặt phía xa, nơi đám tre già, ràng mấy phông bạt làm nhà tắm. Mấy cục tấp lô còn nguyên vẹn, ông dùng xi măng trét nối làm vách, kê giường… Nói chung, thứ của người chết bỏ đi thì ông đem về tái sinh lại, làm phương tiện sinh sống cho gia đình mình. Điều thú vị, sáu đứa con của ông càng lớn càng khỏe mạnh và lanh lợi.

Nghĩa trang Hòa Hiệp dù được quy hoạch tổng thể từ đầu, nhưng cách thức chôn cất và xây dựng chưa bài bản quy củ. Thời ấy, người ta chôn cất tứ tung. Ai thấy nơi nào thuận tiện thì “xí phần” chôn cất người thân của mình. Cho nên, sau năm 1995, cha sở mới về. Ngài thống nhất lại. Phía Tây và Nam dành riêng cho người Công Giáo, phải chôn theo hàng lối. Phía Đông vốn trước giờ chôn cất tự do thì nay không được chôn nữa, mà giữ yên hiện trạng. Bởi vì đa phần khu này là các ngôi mộ bằng ụn đất, chỉ gắn tấm bia nhỏ tên tuổi lờ mờ. Mưa gió trụt trồi nên không còn biết đâu là mộ thật, đâu là đất ùn nữa. Phía Bắc dành cho người Phật Giáo và người Lương. Còn đối diện cổng chính là mấy chục ngôi mộ Chàm, không thuộc phạm vi quản lý của nhà thờ. Nay, nó là không gian sinh hoạt của gia đình ông Thương đang ở. Nó sạch sẽ và ấm áp hơi người sống.

Cũng vì ở khu nghĩa trang, ông Thương chọn công việc liên quan tới người chết để sinh sống. Người nào mất, ông đào mộ và lấy tiền công. Người nào cần hốt cốt di dời, ông lãnh luôn phận việc. Ai cần xây cất mộ phần mới, ông làm không sót. Ông còn kiêm luôn việc tẩn liệm. Ông không bán quan tài, mà chỉ tẩn liệm và lo phần ở nghĩa trang. Ông “đánh hơi nghe mùi” xác chết còn nhanh hơn loài quạ. Đôi chân ông nhanh nhảu hơn loài sói rừng. Bàn tay ông cẩn thận và ấm êm chẳng khác mẹ hiền. Ông làm tận tụy, chăm chỉ và say mê công việc ấy tới lạ thường.

Ông làm nghiêm túc và đàng hoàng. Dần dần, người ta trao cho ông quản luôn cái nghĩa trang Hòa Hiệp ấy. Từng ngôi mộ, từng tấm bia lớn nhỏ, ông rành rọt. Cứ tới tháng 11, tháng Các Đẳng Linh Hồn, là có sự xáo trộn. Điều này thật thú vị khó ai biết.

Phần phía Tây và phía Nam gồm các ngôi mộ mới chôn, nên ít xáo động. Phần của người Phật và người Lương cũng vậy. Chỉ còn phần phía Đông là các mộ cũ. Nhiều ngôi mộ hiện diện từ thời chiến tranh, nó bị thay đổi và xê dịch liên tục. Các mộ này bằng đất, được dựng phía trước tấm bia mong manh. Nhiều tấm bị bể và lạc mất tên tuổi, chỉ còn mô đất trồi. Người ta đặt lên đó cục đá như làm dấu chỉ đây là ngôi mộ.

Tháng 11 hàng năm, người ta làm cỏ và cào đốt rác, dọn dẹp nghĩa trang. Vị trí các mô đất cứ xê dịch tới lui không còn chính xác. Mấy lần, ông Thương hốt mộ cải táng. Ông phải đào rất xa mới phát hiện xương cốt bên dưới. Nhiều ngôi mộ không tìm được cốt, ông bất lực, đành gợi ý với người nhà:

Thời gian lâu quá rồi, nay tìm không được xương cốt nữa; hay tôi nghĩ chúng ta nên lấy một ít đất ở đây làm dấu chỉ thay thế.

Và đa phần, họ đồng ý với đề nghị của ông. Thực ra, xác người và đất, khác gì nhau. Người “từ đất mà ra và trở về đất”. Cho nên, việc lấy một chút đất như dấu chỉ sự hiện tồn của ai đó cũng dễ hiểu.

Sau tháng Các Đẳng Linh Hồn hàng năm, nhiều “ngôi mộ mới” được “dựng” nên. Các em nhỏ giẫy cỏ, cào cỏ và ùn đống đốt. Vài lớp đất mới nhô lên, người ta thấy ngờ ngợ giống ngôi mộ nên cắm vài cây nhang. Dần dần, các mô đất ấy thành mộ thật. Chuyện này tương tự việc ông Thương hốt cốt. Các khối đất được đào lên, gió mưa hun đúc, cát đất tài bồi dựng nên vài ụ mộ mới. Hóa ra, mộ thật mộ giả nơi phần phía Đông nghĩa trang này thật khó biết được. Việc này giông giống cảnh người ta kể ở Ấn Độ vậy. Cục đá bên vệ đường. Một người qua cắm cây nhang và cúi lạy. Hai người qua cắm nhang cúi lạy… Bỗng chốc, nơi ấy trở thành thánh địa. Đây là tâm lý bình thường nơi kiếp người. Cũng vì sự yếu ớt này mà nhiều người trong xã hội hôm nay tận dụng và lợi dụng sự linh thiêng để lường gạt, mưu cầu cho lợi ích cá nhân.

Nơi nghĩa địa Hòa Hiệp này, ông Thương chứng kiến bao trường hợp tương tự. Một người bị tai nạn, mất đột ngột. Ngôi mộ mới đắp xong đầy nhang khói, thuốc lá, cà phê, bánh trái, thức ăn… Đêm về, hàng loạt người kéo tới cúng vái xin số. Vài lời đồn, nơi đó trở thành linh thiêng và hấp dẫn bao kẻ mưu cầu tìm đến.

Một ngôi mộ hốt cốt có sự khác biệt vài dấu hiệu, đại loại: miếng nắp hòm còn nguyên, hay vị trí xương cốt nằm hình thù khác lạ, màu đất dị thường… cũng làm người ta lần mò tới. Hài cốt cải táng đi rồi, chỉ còn ngôi mộ trống vắng. Vậy mà nhiều người vẫn rỉ tai kéo tới nhang khói, hì hục cầu xin, khấn vái.

Nghĩa trang phần phía Đông cát nóng. Nhông đất đào hang trú ngụ. Mấy đứa trẻ chận bò lân la gài bẫy. Chúng bắt về cho gà ăn, bởi vì tụi nuôi gà đá đồn rằng gà ăn nhông nghĩa địa đá rất hay. Riêng nhà ông Thương, nhông ấy dùng làm thức ăn thời còn gian khó.

Khi nhông quen bẫy rồi, không dính nữa. Tụi nhỏ dùng cuốc đào. Mấy hang nhông lớn nằm bên cạnh ngôi mộ, tụi nhỏ vẫn đào. Bắt nhông xong, chúng lấp đất vội. Vài nơi ụn lên thành từng cụm cát. Người đi qua tránh né vài lần, nơi ấy bỗng chốc thành mộ. Ai đó cắm thêm cây nhang, người tới sau liền cúi đầu.

Chuyện nơi nghĩa trang này nhiều thứ khó nói lắm. Từ “không không” trở thành mộ, từ mộ trở thành đất bằng. Riêng ông Thương và gia đình ông, hằng ngày sống với từng hơi thở nghĩa trang, ông biết rõ ngôi mộ nào “thật”, ngôi mộ nào mới “dựng lên” sau này. Cho nên, thời gian rảnh, ông thường vác cuốc lang thang và “bang” hết những ngôi mộ “giả” ấy. Công việc đó, ông thường dí dỏm gọi là “giải thiêng”. Người ta vô tình dựng lên mộ và thắp nhang thờ bái, ông Thương từng bước san bằng và giải gỡ nhầm lẫn ấy.

Việc làm ông Thương nhiều người lúc đầu không muốn và không thích. Họ tỏ vẻ nghi ngại và chống đối:

Lỡ dưới đó có mộ thật thì sao? Ổng lấp như vậy lỡ nhầm lẫn thì chết, thà tin có còn hơn tin không có.

Vài người khác thêm vào:

Ông ấy và con cái ổng chẳng biết linh thiêng gì cả. Nhông nằm dưới mộ ăn xác người, mà cha con ổng cũng bắt ăn hết; thiệt là…

Chuyện người ta nói, vẫn cứ nói; ông làm việc của ông, vẫn tiếp tục làm. Cho tới một hôm, có người tất tả gọi ông đi “hốt” một xác chết vừa bị tai nạn khó lường xảy ra. Anh thanh niên chở mẹ già trên chiếc xe máy đi chợ. Đường gập ghềnh bởi xe lu đang lăn tráng, sửa chữa. Anh thanh niên vô tình đảo tay lái, người mẹ rớt xuống trước bánh xe lu. Tình thế quá bất ngờ, xe lu vô tình cán qua thân thể người mẹ.

Trước cảnh đó, kẻ bịt mắt, kẻ che mặt không dám nhìn. Ông Thương một mình cầm chiếc bay xây nhà, hốt từng miếng đất quyện lẫn xác người và máu đỏ. Chiếc quan tài lạnh lùng đặt giữa đường. Ông Thương từng chút, từng chút hốt vào và liệm xác nghiêm túc. Có thể trong đời, ông chưa liệm con người nào mà tay chân rã rời như thế. Mồ hôi và nước mắt ông thấm vào từng thớ đất quyện lẫn với máu đỏ xác người. Quan tài đóng nắp. Người ta khiêng về, rất nặng. Chiếc quan tài nặng vì đất quyện lẫn với xác người. Nó nặng vì sự đau đớn khó lường: nặng về tình người.

Sau vụ ấy, người ta không còn than phiền và lên án về việc ông Thương làm nữa. Thay vào đó, họ bắt đầu khen ngợi và tán dương ông. Lúc ấy, họ đứng hai bên đường nhìn cảnh ông cẩn thận đưa từng miếng đất vào quan tài. Tay ông run run múc từng ca nước rửa sạch bánh xe lu. Người ta càng quý ông.

Ông vẫn tiếp tục duy trì cuộc sống nhờ vào người chết. Việc này, hôm nay, người ta càng xót xa và nể trọng. Quá khứ xa xưa và sự nghèo đói của gia đình ông trở thành niềm an ủi. Sự hất hủi và xa lánh bớt dần. Họ bắt đầu thông cảm và quý mến.

Vào buổi sáng nọ, những người làm đồng chạy tất tả hô hoán trước nhà ông:

Có người tự tử, treo cổ ở cây xoài trên Bến Hai. Ông Thương ơi, lên giúp đưa xác xuống với…

Ông theo hướng đoàn người chỉ điểm, chạy tới nơi ấy. Trên nhánh xoài âm u sà xuống phía hố sâu, một xác chết treo lơ lửng. Người ta đứng xa xa dòm ngó, ông Thương tới gần. Xác chết đã cứng đơ. Ông lấy cái liềm cột vào cáng cuốc. Ông đứng dưới giữ chân xác chết, tay còn lại đưa lên cắt đứt sợi dây. Xác chết ngã xuống đè trên người ông. Cả ông lẫn xác chết lăn tròn xuống dưới hố. Người ta chạy tới thì ông đã lồm cồm vác ngược xác người xấu số ấy lên rồi. Ông đặt nằm trên cỏ, tháo dây, phủi hết đất cát dính vào mặt mũi người chết… rồi nói người ta gọi xe đưa về gia đình an táng.

Ngoài hai trường hợp đặc biệt đó, còn bao nhiêu cảnh huống khác không đếm xuể việc ông Thương làm cho người chết. Người tai nạn giao thông, ông đưa về. Người chết trôi, ông vớt xác. Ông quen với máu me, chết chóc và mùi thân xác con người.

Giáo dân Hòa Hiệp thương ông, quý ông và chọn bầu ông làm trưởng ban Tôbia. Ông từ chối. Ông nói rằng bây giờ phải lo kiếm tiền nuôi các cháu ăn học, nên chưa tập trung được. Từ đó, ông đóng vai trò như cộng tác viên đắc lực và ngoại thường mà thôi. Bà con bắt đầu nghĩ tốt về ông, nào là:

Ừ, thì hồi đó nghèo khổ, việc con nhông ăn xác người cũng biến thành thịt nhông rồi. Thế gian này bao nhiêu xác người trở thành phân bón cho cây cối; và người ta vẫn ăn hoa trái đó sao. Bao nhiêu người chết ngoài đại dương, cá tôm ăn, rồi người ta vẫn ăn cá tôm ấy thôi. Chuyện cá ăn người và người ăn cá là lẽ thường.

Ý kiến khác thêm vào, tỏ vẻ bênh vực theo hướng đạo đức:

Nói gì nói, lót miếng bê tông cho tụi nhỏ đứng lên tắm rửa, kê đồ đạc vẫn sạch sẽ và tốt hơn đứng dưới bùn đất dơ dáy nhớp nhem. Miếng bê tông ấy là bia mộ hay gì gì thì cũng là bê tông ấy mà. Thời ấy, họ khổ quá phải dùng như thế, chứ có phải của cải vật chất đầy đủ mà làm vậy đâu. Có tội hay không tội phụ thuộc rất nhiều hoàn cảnh riêng.

Điều người ta suy nghĩ dần dần hợp lý. Bên cạnh đó, ông Thương cứ âm thầm làm công việc không ai muốn làm. Công việc tầm thường và ghê rợn chỉ mỗi ông làm và làm nghiêm túc. Nhiêu đó cũng đủ minh chứng ông sống trọn vẹn với kiếp người.

Đời ưu ái, mấy đứa con ông lớn lên không học hành khoa bảng nhưng thông minh và chịu khó vượt bậc. Đứa mở quán ăn thành công. Đứa chuyên trồng xoài đạt đỉnh. Đứa làm nghề xây dựng nhà cửa vượt trội hẳn hoi. Con gái làm thợ may đông khách. Và, đứa út đi tu cũng âm thầm như cảnh nghĩa trang vắng lặng.

Nếu trước kia, đất đai xung quanh khu nghĩa trang không ai thèm lấn chiếm và ngó ngàng quan tâm. Hễ cứ ai bán đất, ông mua. Ai bán bao nhiêu, ông cũng mua hết. Không có tiền, ông mua nợ, rồi trả góp dần. Ông mua bất chấp và không trả giá.

Khu mộ người Chàm trước giờ im tiếng, một hôm nọ có người dò la hỏi thăm. Đoàn sáu người mon men tìm tới nhà ông Thương. Sau ba ngày đêm lảng vảng tìm hiểu, đo đạc, họ đặt vấn đề trao đổi:

Thưa ông, đây là ngôi mộ gia tộc chúng tôi. Nay, chúng tôi muốn bốc lên đưa về Ninh Thuận. Thực ra, toàn khu này chỉ có ba ngôi mộ thật thôi. Các mộ khác xung quanh là giả. Gia đình làm vậy hòng đánh lạc hướng, hầu bảo vệ mộ phần tổ tiên. Nay chúng tôi tìm về, muốn khai quật và đưa đi. Nếu ông chịu giúp thì chúng tôi sẽ tặng ông lô đất này và trả công xứng đáng. Chúng tôi rất biết ơn ông.

Ông Thương nghe thế, liền nhanh nhảu xua tay:

Bốc mộ là công việc của tôi. Tôi sẽ làm. Còn về phần quà biếu thì ý tôi thế này: Lúc tôi đói rách, không nơi tá túc thì nơi đây là nhà. Nên bây giờ, các ông cần thì tôi giúp. Tôi không tính tiền công.

Sau khi khai quật các ngôi mộ cho đoàn người Chàm, ông Thương gom tất cả tiền bạc mà vợ chồng dành dụm trước giờ, đưa cho đoàn người ấy, thưa:

Phần đất này vốn của các ông. Tôi còn ít tiền đây, các ông bán cho tôi lô đất này nhé, coi như tôi mua lại.

Người đàn ông lớn tuổi, đại diện gia đình người Chàm nắm chặt tay ông Thương, mắt rưng rưng lên tiếng:

Thay vì bán thì chúng tôi tặng anh, coi như tiền công bao năm anh chăm sóc phần mộ gia đình tôi. Chúng tôi cầu chúc anh và gia đình luôn hạnh phúc trong sứ mệnh “đưa người về đất”.

Thế là, lô đất ấy chính thức thuộc về sở hữu của gia đình ông Thương. Thêm nữa, ngôi mộ nào khai quật trong phần đất rẻo bên ngoài nghĩa trang Hòa Hiệp, ông Thương mua hết. Đa phần người ta cho không, vì ông tận tình giúp đỡ. Một ngôi mộ cũ khai quật là đất nhà ông rộng thêm vài mét. Trong vòng vài chục năm, diện tích đất rộng lắm, lên tới mấy ngàn mét vuông, với chiều dài mặt tiền cả trăm mét.

Nay, vùng Cam Lâm và Cam Ranh được quy hoạch dự án đắt địa. Các đường mòn xung quanh nghĩa trang được mở rộng và tráng nhựa bằng phẳng. Đất nhà ông Thương tự khắc trở thành mặt tiền đường lớn và giá trị rất cao. Ông trở nên giàu có. Cuộc đời vốn thế.

Ông bỏ công việc liệm xác chết vì thời nay các đơn vị phục vụ mai táng làm chuyên nghiệp hơn. Nghĩa trang Hòa Hiệp cũng không còn cho phép chôn cất nữa. Vùng quê lên thành thị, người chết được đưa đi hỏa táng và đem về nghĩa đường Phục Sinh ở nhà thờ. Nghĩa trang cũ chỉ còn lưu dấu vết và hiện tồn của lịch sử.

Ông Thương quyết định bán hết đất đai xung quanh nghĩa địa. Ông chỉ giữ mấy trăm mét đất của người Chàm. Ông trồng vườn keo gai và nuôi mấy con nhông đất. Ông mua căn nhà trước cổng nhà thờ, sát vách tường nghĩa đường Phục Sinh. Căn nhà này, người ta đồn đại ma mị đủ kiểu. Ông tìm đến và mua đúng giá thị trường. Mỗi lần có người chết, đưa vô nhà Phục Sinh an táng, ông Thương lặng lẽ chở vợ lên thăm vườn keo với mấy con nhông đất. Ông âm thầm bốc nắm đất lên nhìn, rồi rải xuống phía xa. Vợ ông hỏi lý do? Ông cười cười:

Nhớ nghề! Nghề đưa người về đất.

 

Truyện ngắn: Đưa Người Về Đất

 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây