TIN MỪNG CHÚA NHẬT - LỄ TRỌNG

Chúa Nhật II Mùa Vọng – Năm C

“Mọi người sẽ thấy ơn cứu độ của Thiên Chúa”. (Lc 3, 1-6)
Đọc các tin khác ➥
TÌM KIẾM

Mây Bay Về Ngàn (tiếp theo và hết)

Thứ năm - 25/11/2021 20:18 | Tác giả bài viết: Lm Lã Mộng Thường |   38
Cuốn truyện Mây Bay Về Ngàn rất khó đọc bởi nó là tổng hợp một số “Informations” từ các đạo học, chẳng hạn Phật học, Ấn học, Lão học, Điểm Đạo Ai Cập, và Phúc Âm.
Mây Bay Về Ngàn (tiếp theo và hết)

Mây Bay Về Ngàn (tiếp theo và hết)
 


CHƯƠNG 4
 
Bố mẹ Thanh thuộc dân “Bắc kỳ 54” sinh sống tại khu Bãi Dâu, Vũng Tàu. Năm 1975, anh đang học đệ nhất (lớp 12), theo gia đình gồm bố mẹ và hai em sang Mỹ, và được một gia đình kỹ sư người Công giáo bảo lãnh về tiểu bang Virginia vùng Đông Bắc Hoa Kỳ. Dẫu chân ướt chân ráo nơi đồng đất nước người, Thanh đã phải trở nên đầu tàu của gia đình bởi vì bập bẹ được đôi tiếng Anh, tiếng u. Và chỉ một tuần sau, dù vẫn chưa quen với khí hậu cũng như thời giờ thay đổi, bố của Thanh đã được giới thiệu đi làm nơi một hãng thịt heo với nhiệm vụ đánh rửa những chiếc nồi to lớn kềnh càng dùng để nấu nướng các loại thịt gần hết hạn nơi siêu thị được gom trở lại để làm thành “Hot dog, Balony,” xúc xích, và quét dọn những chuồng nhốt heo trước khi được làm thịt, kể là cũng may mắn. Thanh được giới thiệu vô hãng ống nước của thành phố với chân phụ thợ, bảo sao làm vậy, bao gồm những công việc đào đất, cắt ống nước, lấp đất, khuân vác những vật dụng lẩm cẩm lỉnh kỉnh cần thiết theo lệnh của tên cai.

 
Đang sống nơi miền nhiệt đới bỗng rơi ngay vùng ôn đới trong khi công việc đòi hỏi phải giải quyết bất chấp giờ giấc ngày hoặc đêm quả là một cực hình, chẳng những do ảnh hưởng giấc ăn giấc ngủ bất thường mà lại bị cái lạnh như cắt xé da mặt, cóng buốt đôi tay của nhiệt độ nhiều khi xuống tới âm 30 độ C (-50 độ F). Sáu tháng dằng dặc trải qua, nhận thấy tiền lương của ông cụ nơi hãng thịt heo cũng tạm đủ cho gia đình trả tiền thuê nhà, điện nước, và ăn tiêu dè sẻn; trong khi tiền lương, cộng thêm tiền phụ trội những giờ bất thường đã trừ thuế, Thanh còn để dành được gần hai ngàn dollars trong nhà băng. Thanh bàn tính với bố mẹ muốn tiếp tục học và đổi nghề, làm công việc bồi bàn cho một nhà hàng Tàu vào những buổi chiều và tối. Trời không phụ lòng người; làm tại nhà hàng lại không phải lo lắng đến vấn đề ăn uống nên tiền để dành cũng chẳng thua sút khi làm nơi hãng ống nước, lại không phải cực nhọc chịu đựng cảnh giá lạnh đêm hôm bất thường.  

 
Năm năm sau, Thanh tốt nghiệp chương trình kỹ sư điện tử và đã được hãng điện thoại AT&T thuê làm chánh sở cho một chi nhánh tại Mississippi, miền Nam nước Mỹ. Không hiểu số may hoặc do thành tích học lực xuất sắc, hãng điện thoại bằng lòng trả cho Thanh tháng đầu tiền thuê nhà, cộng thêm tiền chi phí xăng dầu xe cộ cũng như thực phẩm ăn uống. Hôm đầu tiên nhận sở làm việc, quen với lối sống đơn giản, tằn tiện, Thanh chỉ bận chiếc áo sơ mi trắng, sọc xanh và chiếc quần Jean đã cũ. Chiếc xe con cóc màu vàng nhạt lá khô lại càng khiêm nhượng hơn; bởi năm năm trước nó chỉ được mua với giá năm trăm Mỹ kim. Vừa bước vô trong cửa văn phòng, chị thư ký xinh như mộng, tóc nâu nhạt óng ánh màu bạch kim, lên tiếng hỏi,

- “What's wrong!”

- Tôi muốn gặp ông Robert Alexandria, cô làm ơn.

- Hôm nay ông ấy bận lắm bởi phải chuẩn bị giấy tờ bàn giao nhiệm sở cho ông chánh sở mới sắp tới.

- Thưa cô, tôi chỉ muốn gặp ông ta để nói lời từ tạ. Tôi nghĩ, ông ta sẽ chấp nhận gặp tôi.

- Tên ông là gì?

- Tôi là Thanh Nguyễn. Cô thư ký nhấc điện thoại xí xố đôi câu, chưa kịp bỏ điện thoại xuống đã hướng về phía Thanh,

- Ông Bob sẽ gặp ông ngay bây giờ. Cô thư ký vừa dứt lời thì đã thấy một người Mỹ, cao ráo, tóc nâu muối tiêu được cắt tỉa gọn gàng, mặc bộ đồ vét xám, thanh lịch; chiếc cà vạt đỏ chói nổi bật giữa nền áo sơ mi xanh nhạt, xuất hiện nơi hành lang nối liền văn phòng đưa tay bắt, lên tiếng,

- Chào ông, ông là Thanh Nguyễn?

- Thưa đúng, chào ông.

Ông Bob đưa tay chỉ cô thư ký nói,

- Cô Dianne Higgobotham, thư ký văn phòng; đoạn ông quay sang cô thư ký nói,

- Đây là ông Thanh Nguyễn, xếp mới của cô từ hôm nay.

- Chào cô. Thanh chỉ thốt một câu ngắn gọn, không đưa tay bắt vì anh vẫn còn cảm thấy hơi bực bởi câu hỏi “What's wrong” của cô. Ngược lại, cô thư ký mặt đỏ bừng im miệng do không được Thanh đưa tay bắt, có lẽ hối hận về hành vi tiếp đón chứng tỏ thái độ coi thường con người mang dáng vẻ khiêm tốn, nghèo nàn, nhưng bất ngờ lại là xếp quyết định số phận công việc của mình từ nay về sau; trong khi Thanh và ông Bob đã khuất bóng theo hành lang.

 
Công việc êm đềm xuôi theo dòng thời gian, mới ngày nao mà đã mười tám năm đằng đẵng lui về quá khứ. Cũng như mọi người, thuở ban đầu Thanh cảm thấy quá ngỡ ngàng với lối làm việc của công ty nói chung và các nhân viên nơi hãng nói riêng. Họ chừng như sợ làm hết việc sẽ bị thất nghiệp nên lãng đãng, cầm chừng, tà tà kéo dài thời gian. Nhất là hệ thống văn phòng, khi đơn đặt hàng hoặc điện thoại gọi tới cần được điều chỉnh đường giây nào đó, thư ký ghi vô sổ địa chỉ, chuyển tới chuyên viên tính toán thời gian để gửi nhân viên trắc nghiệm đường giây xem xét trước, và khi được báo cáo đầy đủ mới sắp xếp nhân viên sửa chữa tới điều chỉnh những trục trặc. Bất cứ những gì sai sót gây trở ngại thuộc lãnh vực nhà riêng của khách hàng, nhân viên điện thoại không có bổn phận chỉnh đốn, nhưng nếu chủ nhà muốn nhân viên điện thoại sửa, sẽ bị trả tiền công khá cao. Chi nhánh này gồm có năm chiếc xe, hai xe để căng những đường dây lớn và ba xe nhỏ cho các nhân viên sửa chữa. Mỗi xe gồm một tài xế và một chuyên viên điện thoại được trang bị đầy đủ dụng cụ cần thiết cho công việc. Nơi trụ sở gồm tám văn phòng riêng biệt; một phòng rộng rãi được ngăn ra các khu nhỏ có bàn ghế và sổ sách cho nhân viên ghi lại báo cáo công việc, và một kho vật dụng.

 
Ngay khi được hãng AT&T chấp nhận thuê, Thanh đã dành thời giờ lấy hẹn và gặp gỡ một số người điều hành những công ty quanh vùng thành phố Roanoke, thuộc tiểu bang Virginia, nơi anh cư ngụ hầu may ra học hỏi một số kinh nghiệm điều hành thực tiễn nơi trường đời. Kể ra vận số của anh được gọi là may mắn, nhưng vận may nào không phải trả giá. Mới ra trường còn chân ướt chân ráo, chưa có thời giờ thực tập lý thuyết chứa đựng nơi sách vở đã được đặt vào vị thế cai quản một chi nhánh của công ty trong khi anh chỉ có hai chứng chỉ tùy chọn (elective) về ngành quản trị. Thực tế minh chứng, kỹ sư điện tử bị điện giật là chuyện thường và chắc chắn không thể nào sửa chữa điện đóm thiện nghệ bằng chuyên viên điện tử. Kỹ sư được chuẩn bị để tính toán phương trình điện năng, điện lượng và thiết kế hệ thống cho các chuyên viên điện tử thực hiện. Thanh là kỹ sư điện tử, lại phải ngồi ghế giám đốc; tất nhiên công ty AT&T đã chẳng tử tế gì khi thuê anh; bởi vai trò của anh bao gồm hai nhiệm vụ, điều hành chi nhánh và thiết kế cũng như điều chỉnh hệ thống điện thoại. Thế nên, nỗi vui mừng vì sẽ có công việc khấm khá chưa kịp nảy nở, sự lo âu đã chợt bùng lên trấn áp. Cũng may, mấy vị giám đốc của các hãng xưởng khác nhau, sau khi nghe anh trình bày nỗi lo âu trước khi nhận việc, đã khá thông cảm giải thích lề lối cũng như khó khăn về việc quản trị nơi hệ thống thương mại ở đất nước này.  

 
Ông John Imergine, chánh sở ống nước của thành phố vẫn còn nhớ anh khi gặp ông năm năm trước, đã thật ngỡ ngàng lúc gặp lại anh. Sau khi nghe anh trình bày sự kiện và ý muốn hỏi, ông không ngớt lời ca tụng ý chí phấn đấu để thăng tiến của anh đoạn kết luận một câu thật đơn giản,

- Ông Nguyễn, nếu ông không muốn phải đối diện với bất kỳ những sự rắc rối nào nơi thời buổi ban đầu cần nhiều thời gian chuẩn bị, tôi đề nghị, trong hai năm đầu từ khi nhận việc, ông đừng làm chi mới, cứ theo lề lối đã sẵn có, theo dõi, nhận định, và suy nghĩ đường hướng giải quyết vấn đề sau này. Ông nhớ ghi lại những nhận định về công việc cần được điều chỉnh, đồng thời đừng quên viết xuống dự đoán sẽ được giải quyết ra sao. Ít nhất, ông cần một thời gian khoảng sáu tháng, tổng hợp và phân định công việc nào nên thực hiện trước, chi tiết nào phải bổ túc cho hợp tình hợp lý, tránh phí phạm thời giờ và ngân khoản theo tiến trình nhất định. Thêm vào đó, bất cứ sự việc hoặc thay đổi nào cũng cần thời gian, âm thầm tìm phương cách sao tránh gây ác cảm, hoặc khiến người khác có ý nghĩ đụng chạm đến quyền lợi của họ.

- Thưa ông, vậy phương pháp nào để cắt bớt nhân viên?

- Cắt bớt nhân viên để làm gì vì ai cũng cần việc làm?

- Nơi trường hợp muốn tăng lương và tận dụng khả năng của nhân viên cũng như thời giờ để công việc hữu hiệu hơn.

- Một điều tuyệt đối đó là không bao giờ nói mình muốn cắt bớt nhân viên cho bất cứ ai, ngay cả vợ mình biết. Chỉ nên mượn lý do tài chánh thiếu hụt; cắt bớt giờ làm việc của nhân viên và như thế sẽ có người tự kiếm việc khác để rồi mình chia nhỏ phận việc của người đó cho các nhân viên khác để tăng lương.

Thời gian dần trôi, công việc nơi công ty mặc dầu càng ngày càng phát triển mà vẫn êm xuôi; dẫu nhân viên được cắt bớt từ tám văn phòng chỉ còn bốn. Chuyên viên sửa chữa đường dây tự lái xe nên thay vì năm chiếc xe mười nhân viên thì nay chỉ cần bẩy nhân viên và mỗi người lái một xe làm việc. Như vậy, nhiều chuyên viên hơn thành ra không chi trắc trở. Sau khi nhận việc được tám năm thì hai em cũng đã học xong và có nghề nghiệp vững vàng nên Thanh mua nhà gần nơi làm việc và di chuyển bố mẹ về ở đồng thời cũng năm đó lập gia đình.

 
Khi đạo luật tách nhỏ các công ty lớn ra đời, chi nhánh nơi Thanh làm việc được bán cho hãng Bellsouth; dẫu tiếp tục làm cho công ty mới hay nghỉ thì ngân khoản được lãnh cũng như nhau theo như giao kèo đã được đồng thuận từ ngày nhận việc; thế là anh được hưởng tiền hưu bổng như đã ký với hãng. Anh chọn vùng Ocean Springs, MS, vì nơi đó gần biển cho ông bà cụ có cơ hội thưởng thức thú câu cá, và cũng gần trường học Công giáo cho con cái theo học sau này. Buồn ngủ gặp chiếu manh, vốn mê âm nhạc, nhân tiện nơi Biloxi, thành phố kế cận Ocean Springs, có cộng đồng Công giáo người Việt, anh tham gia và đờn cho ca đoàn hát lễ.

Tiền hưu bổng tương đối khá đối với một kỹ sư kỳ cựu nên không phải bận tâm lo bề sinh kế cho gia đình do đó anh có nhiều thời giờ rảnh rang; bởi thế nảy sinh ý hướng vui thú điền viên cùng sông nước. Đàng khác, nhân tiện ông cụ cũng quen hoạt động lại được trời ban cho có sức khoẻ dẫu đã có tuổi, Thanh định mua chiếc bo bo du lịch để thỉnh thoảng, năm đôi ba lần, đưa gia đình ra khơi vui với sóng nước. Thoạt đầu, tính toán tới lui, anh thích chiếc thuyền buồm của đôi vợ chồng trung niên người Mỹ, chẳng hiểu cơm không lành, canh không ngọt sao đó, quyết định chia tay, bán tống bán táng nhà cửa, thuyền bè, dõi theo chân trời vô định cuộc đời, nhưng mới mẽ và hồ hởi với những tâm hồn tan nát. Cặp vợ chồng này con cái đã trưởng thành lại mỗi người có công việc lương bổng khá cao nên bất cần với những gì vương mang kỷ niệm cũ. Chiếc thuyền buồm tương đối khá đẹp, xinh xắn, gọn gàng, và rộng rãi, cũng như được trang bị đầy đủ cho năm người ăn ngủ hàng tuần lênh đênh ngoài biển khơi. Nghe đâu nếu mua mới phải gần trăm ngàn vào năm 1993 mà nay chỉ được đề giá bán ba chục ngàn. Thanh đã gặp chủ nhân; ông ta cỡ năm mươi, năm lăm, nét mặt đăm chiêu đượm vẻ chán chường; dẫu thái độ, hình dáng thể hiện đầy vẻ hoạt bát, năng động. Mượn cớ hỏi lý do vì sao phải bán bởi tò mò muốn hiểu nguyên nhân, ông hiếng đôi câu, nói lên lòng nhớ nhung và yêu thương vợ thắm thiết nhưng duyên số đã chẳng đặng đừng đẩy bà vợ ra khỏi tầm tay níu kéo.

Thuyền buồm có thể vượt khơi tới những hải đảo xa xôi nhưng lại khá phiền hà về việc bãi bến cũng như chăm sóc, nên anh tính mua chiếc bo bo mười bẩy bộ dài. Khi tỏ ý, cụ ông phân tích lợi hại cũng như điều kiện có thể và ý muốn riêng tư khiến anh đổi ý và quyết định mua chiếc ghe đúc fiberglass hơn bốn mươi bộ (gần 15 thước), bỏ máy mới vô và sửa sang thành chiếc ghe cào tôm, vừa có thể cùng cả gia đình đi chơi đôi ngày nơi những quần đảo gần bờ chừng hơn kém một trăm hải lý; đồng thời cụ ông cũng muốn hưởng thú lênh đênh kéo tôm dưới màn trời trăng sao vằng vặc, hoặc câu cá nơi những giàn khoan dầu, hay những khu lắm cá hồng, cá thu do muốn thưởng thức lại hương vị cá thu nướng đem kho với rau răm, lá ngổ, tưởng nhớ quê hương ngày cũ. Chiêu một ngụm rượu thuốc, bồi một gắp nem thính Bắc kỳ chấm nước mắm tỏi ớt, kèm thêm ngọn lá thơm theo ý thích; trong khi có được đôi người bạn cùng nhau mạn đàm giữa bầu không khí lành lạnh êm ả, phỏng còn thú nào vui sướng hơn nơi cuộc sống gian trần. Cuốn lá mơ thành chiếc phễu có chứa nhúm lá thơm pha trộn các loại thái nhỏ, gắp đôi miếng cá tươi thái mỏng nhẹ nhàng bỏ vô đoạn rưới một muỗng giấm mẽ đặc biệt đang nóng hổi trong lúc miệng vương vị thơm đầm rượu thuốc; mùi mẽ chua hòa lẫn hương mắm tôm ngấu trộn với chất cay miếng ớt mới cắn, tưởng rằng miếng ngon cuộc đời chẳng đâu hơn được. Tâm tình mến yêu quê hương, dân tộc, truyền thống con dân máu đỏ da vàng còn được gợi nhớ và thể hiện qua từng miếng ăn.

 
Còn gì sung sướng hơn nơi đồng đất nước người lại gặp được đồng hương, vài tháng sau ngày dọn về Ocean Springs, gia đình Thanh đã hòa nhập với cộng đồng người Việt sống tại miền Nam Mississippi và đặc biệt cùng nhóm đồng tuổi tác thân cận sinh hoạt. Bởi hiểu biết và hay thường gặp nhau, chia sẻ, trao đổi từ chuyện đang làm ồn ào dư luận đến những chuyện nhỏ nhoi xảy ra chung quanh, những đề tài dù nhiều đến mấy chăng nữa theo ngày tháng cũng phải cạn. Thế nên, mỗi người trong nhóm kiếm cách bày cơ hội mong có được niềm vui mới.

Nhân thời kỳ đóng cửa hồ, tàu nhỏ không thể ra khơi đánh tôm, chẳng hiểu mò móc nơi đâu kiếm được chiếc lưới bén, Phủ rủ Thanh và Hưng giăng lưới bắt cá ngoài bãi tắm. Lưới cá là ngón nghề của hàng ngư phủ; do đó vào những chiều rảnh rỗi cứ mấy ngày đã thấy họ họp nhau, hôm thì gỏi cá, lúc cá hấp cuốn bánh tráng, rồi cá chiên, cá nấu, và tuyệt hơn nữa là cá nướng. Tuy nhiên, được chừng hơn tháng vào một buổi chiều lúc mấy người đang quen thói lưới cá đối về thái gỏi nhân tiện có cụ thân sinh của Phủ từ California qua thăm, hai chiếc xe cảnh sát, đèn xanh đèn vàng chớp nháy rối lên, và dừng lại nơi mấy tướng đang hí hửng tự thưởng mỗi người một lon bia mừng hơn nửa thùng năm galon cá đối lớn vừa được gỡ lưới. Hai nhân viên công lực, một người kè kè xấp giấy phạt; người kia lủng lẳng chiếc batoong đeo bên hông, vẫn để đèn xe chớp chớp, quay quay, đậu trên lề đường, bệ vệ bước xuôi theo bãi cát tiến đến khiến mọi con mắt của khách du lịch đổ dồn về phía mấy tay lưới cá đầu đen.

- You can not use gill net at tourist beach. Một nhân viên cảnh sát lạnh lùng nói với Phủ,

- Me no English. Phủ giả vờ ngơ ngác; ngón nghề của chàng từ xưa tới nay. Bởi không muốn bị rắc rối với luật pháp, đã mấy lần từ ngày sang Mỹ, chẳng may đang hiện diện nơi nào đó mà một vài chuyện đã xảy ra, cảnh sát có hỏi đến, Phủ chỉ dùng câu trả lời “Me no English” để khỏi bị hỏi tới hỏi lui khiến mình dù vô can vẫn đương nhiên bị coi như chứng nhân liên hệ, mất cả giờ ăn nhậu lại đôi khi bị hạch hỏi lôi thôi hơn cả can phạm.

 
Nhân viên cảnh sát nhìn quanh từng người, ai nấy cũng vội bắt chước Phủ, khẽ lắc nhẹ những cái đầu. Nhưng tránh trời nào khỏi nắng, chiều ấy thằng con sáu tuổi của Phủ theo bố đi lưới cá thấy vài chiếc phao của cheo lưới đang giăng dưới nước chìm nổi bất thường biết rằng có cá đóng nên thích quá hô lên,

- Ba ơi ba, có cá gets the net.

Đã chẳng biết sự khốn khó đang gần kề mà lại vô tình chỉ điểm cho cảnh sát bới tội, niềm vui thích của thằng bé khiến mọi người tái mặt.

- Lưới của các ông phải không. Luật cấm dùng lưới bắt cá ở gần bờ biển.

Đã đến nước này có chối cũng không được, Thanh phải nhào vô gỡ gạc,

- Lưới của ông cụ bố anh này, Thanh đưa tay chỉ Phủ, mới vừa từ California đem qua. Ông ta quên bình thuốc lào nên về nhà lấy.

- Vậy các anh phải đổ cá trở lại biển dùm ông ta và thâu lưới lại vì có người gọi tới sở cảnh sát thông báo rằng các anh đánh lưới làm dơ bẩn bờ biển.

Thế là thoát nạn, mặc dầu nhìn những con cá béo bổ lùng quăng chìm vào bãi nước theo chiều nghiêng của chiếc thùng từ tay Hưng mà lòng tiếc hùi hụi, Phủ và Thanh vội nhanh chân lội xuống nước thâu lưới. Nhưng vận nào đã hết xui, mà hình như số mạng mấy tay thích nhậu ngày hôm nay bị sao quả tạ chiếu. Người cảnh sát thứ nhì có vẻ như không để ý hỏi thằng bé,

- Ông già đi về nhà mãi đâu?

- Ông ấy ở nhà, không ra biển.

Bởi đó, khi Thanh và Phủ còn đang mừng rỡ tưởng rằng thoát nạn vui vẻ mang lưới vô bờ, người cảnh sát vừa nói với thằng bé đã vội đưa ngón tay chỉ hai người bỏ lưới vô thùng, không quên cho họ tấm giấy phạt.

- Mẹ cha cái thằng lỏi tỳ này; mày làm sao quả tạ chiếu vào chúng ông hôm nay. Vừa mất lưới, lại vừa tốn tiền nộp phạt, Hưng tiếc rẻ nên khăn kháu với thằng bé. 

- Tôi nghĩ các ông không nên giữ tấm lưới này; vì khi ông già trở lại chúng tôi biết trả lời ông ta thế nào. Thanh biết chuyện đã bể không đường tránh thoát vội kiếm cớ lấy lại chiếc lưới. Lối nào thì các ông cũng đã cho giấy phạt và chúng tôi sẽ gặp ông tại tòa án; nên xin ông trả lại lưới cho ông cụ già. Hoặc là, các ông đợi ở đây, tôi về gọi ông cụ ra gặp các ông cho biết rành rẽ câu chuyện. Nếu không, chúng tôi không thể nào giải thích về việc mất lưới để ông cụ hiểu được.

Trong lúc Thanh mồm năm miệng mười mượn ông già làm cớ thì Hưng vừa tiếc rẻ mớ cá tươi báo hiệu bữa gỏi thi vị vừa bực mình bởi sự vô tình chân thật của thằng bé,

- Thằng củ đếch này, mày mà còn mở miệng nói với mấy người Mỹ, ông sẽ tẩn cho một trận. Chạy ngay về nhà, láng quáng ông cho một đá thì văng bố con xuống biển bây giờ.

Thằng bé thấy nét mặt nhăn nhó của Hưng kèm theo lời đe dọa, nửa ngỡ ngàng nửa sợ hãi, co giò chạy một mạch, nhưng lòng vẫn thắc mắc không hiểu tại sao nó chỉ nói mấy câu mà bác Hưng la, và còn đòi đá văng xuống biển.

- Thôi được, người cảnh sát mỉm cười vì mấy người dấu đầu lòi đuôi, you no English, cho các ông cầm lưới về vì đây là lần đầu. Nếu chúng tôi bắt gặp lần thứ hai, you no net.

- Để tối chút nữa mình kiếm chỗ nào vắng ngâm lưới tiếp, tay xách thùng lưới, tay gấp đại giấy phạt nhét vào túi áo, Phủ đã toan tính chương trình bắt cá kế tiếp. Dẫu bị phạt vì giăng lưới phạm luật cấm, Phủ vẫn cố tình kiếm cá thái gỏi vào buổi tối bởi hai lý do, ông cụ từ Cali mới qua, và mấy hôm trước cùng vài người bạn ăn gỏi tại một nhà hàng, Phủ học được cách nấu giấm mẽ, “nhậu đã quên chết.”


Sáng hôm ấy, sau khi ra bến xem nước nôi tàu bè, đang tính về nhà, Phủ thấy Hưng lò mò vác cần câu đi dọc theo bãi đậu tàu. Nghĩ rằng về cũng chẳng có việc gì vội phải làm, vả lại, tưởng tượng đến thú vui lúc cá cắn, Phủ lấy cần câu đi theo Hưng dọc nơi bãi đậu. Hưng dùng ruột sò làm mồi định bắt mấy con nhệch về nhà nấu lẫu; thế nên Phủ phải ghé tàu quen đang chờ cân tôm lấy dăm con mực và ít tôm làm mồi. Cỡ chừng tiếng đồng hồ, bốn con cá hánh lớn và sáu bảy con nhệch (lươn biển) nằm chật cứng chiếc thùng. Bởi mới cỡ mười giờ, hai người đưa nhau vào quán uống cà phê. Chủ quán là người quen nên khi biết được có cá hánh tươi và nhệch vừa mới bắt, đề nghị nấu lẫu và thái gỏi nhậu. Buồn ngủ gặp chiếu manh, hơn nữa, nơi quán ăn đầy đủ gia vị lại đỡ công bếp núc, và còn được uống bia chùa, hai tướng đồng ý không một lời phản đối.

Chẳng hiểu câu “Đồng khí tương cầu” nói lên tâm trạng nào nơi con người, nhưng có lẽ thật hợp với đặc điểm của những chiếc dạ dày dân nhậu. Phin cà phê chưa kịp nhỏ hết những giọt nước đen đậm thì bốn tay bạn thuyền đã xồng xộc bước vô. Họ cũng đang toan tính đi câu kiếm cá về nhậu bữa trưa. Và thế rồi hơn tiếng đồng hồ sau, một chiếc lẫu nhệch, hai chão điện nước giấm nóng sốt, cá, rau thơm, bia, tất cả được bày biện trên chiếc bàn tròn lớn đặt giữa bẩy người đang bừng sáng những cặp mắt vì mùi gia vị, mùi mẽ, mắm tôm, sả, riềng, rau thơm quyện lại chui tuột theo đường khí quản kích thích con tì con vị dấy động, thúc đẩy những chiếc dạ dày kêu réo. Thế rồi tiếng bật nắp bia nổ lách tách hòa cùng âm thanh đũa chén chạm nhau, bốn con cá, bẩy con nhệch trở thành đồ nhậu tuyệt vời cho mấy tay dân chài đánh chén.

Lần đầu tiên Phủ ăn gỏi theo kiểu Bắc kỳ đã thấy mê nước giấm nấu mẽ nên muốn nhân tiện hỏi chủ tiệm học cách nấu. Xưa nay, gỏi cá sống với nước chấm me đánh mắm tôm hoặc chanh nhậu cũng phê, nhưng không thể so sánh với tính chất béo ngậy, nóng sốt, và đầy vẻ thảnh thơi lồng trong cung cách nghiêm chỉnh, trịnh trọng của lối ăn gỏi Bắc Kỳ.

- Gỏi nhà hàng có khác, nước chấm đã tuyệt mà kiểu cách lại mang thêm phần khác thường.

- Chưa đâu, lối ăn gỏi này thuộc giới bình dân. Quí cụ già còn có lắm kiểu cách hơn nữa.

- Các cụ già ăn gỏi thế nào?

- Cá mè mới cỡ bằng ngón tay, đánh dậm bỏ vô hồ thay nước hằng ngày và cho ăn rau, cơm, cỡ một tuần lễ cho hết chất bùn đất, rong rêu. Sau đó để cá nhịn đói hai ngày tiêu hóa sạch hết thực phẩm trong ruột. Hai ngày cuối này, mỗi ngày thay nước hai lần đoạn vớt cá bỏ vào thau nước nhỏ. Giấm, lá lẻo, riềng, sả, đầy đủ và cứ mỗi con cá một miếng. Quí cụ nói ăn tươi như thế mới thú nhưng kỳ công lắm.

- Thế giấm gỏi quí cụ nấu theo phương pháp nào?

- Thường thì chỉ lấy cá băm nhuyễn nấu với riềng, sả, mẻ, ớt, và mắm tôm; đồng thời phải pha thêm ít bột thính cho khỏi lỏng lẻo, nước đi đàng nước, cái đi đàng cái.

- Vậy thứ giấm này anh nấu thế nào mà nhuyễn như sữa và ăn ngậy chất béo thế này?

- Đây là tôi tự chế ra; bởi nếu nước giấm nấu theo kiểu Bắc chính tông mất nhiều công sức; vả lại, khi đồ ăn thức uống thiếu thốn mới phải chế hóa cho đỡ tốn. Anh nghĩ coi, cá bên này thiếu gì, hơn nữa xương lại cứng sao có thể băm nhuyễn được. Bốn con cá các anh mang tới, tôi lọc lườn thái sống; phần còn lại đem bỏ tất cả vào một nồi đổ chút nước luộc cho vừa chín tới; đoạn vớt ra gỡ lấy thịt. Được bao nhiêu lượng cá, tôi thêm vào cũng bằng đó lượng thịt heo xay đem xào chung cho chín, bỏ vô cối sinh tố xay nhuyễn ra. Thế rồi tùy số người ăn và ý thích mà căn lượng mẽ, mắm tôm, riềng xắt mỏng, tương ớt để có màu cho đẹp, bỏ vào cối xay luôn để cuối cùng trộn đều lại. Nếu được mấy buồng trứng cá pha thêm vào thì tuyệt, không những ăn ngon mà giấm nổi mầu trông bắt mắt hơn nhiều.

- Hèn chi nước giấm có mùi béo ngậy ăn đã quên chết. Hóa ra nó ngon bởi thịt heo xay.

Dẫu trong lúc nghe và hỏi chủ quán học cách nấu giấm, Phủ vẫn tiếp tục quấn gỏi. Chiếc lá mơ được trãi trên mấy đầu ngón tay, ngò gai, lá dấp, húng quế, mùi, ngò ôm, miếng xoài xanh, tử tô, rau răm, hành tây ngâm dấm, và cuối cùng mấy lát cá tươi thái mỏng, tất cả được cuộn lại theo hình cái phễu. Tay trái trịnh trọng cầm miếng gỏi và tay phải múc muỗng giấm đang sôi sục đổ vào miệng phễu, chờ vài giây cho giấm nguội bớt trong lúc hớp miếng bia dọn đường. Trái ớt hiểm được cắn một nửa phụ thêm phần gia vị cho miếng gỏi.

- Thật đúng với câu “Nghề chơi cũng lắm công phu.” Lần đầu tiên tôi được thưởng thức gỏi theo kiểu Bắc Kỳ. Phủ vừa ngồm ngoàm nhai vừa khen. Công nhận, cá tươi thái gỏi, thoạt trông đã bắt mắt, mà sao anh có thể làm nhanh như thế; mới chỉ hơn tiếng đồng hồ.

- Đây là kỹ thuật nhà nghề. Cá thái gỏi chỉ cần rửa sạch bên ngoài không cần đánh vảy, đoạn lọc hai miếng lườn rồi mới lọc lấy thịt. Đánh vảy trước vừa mất giờ vừa khó lọc thịt vì đàng nào mình cũng không lấy da; để nguyên vảy như thế dễ lọc thịt hơn và nhanh hơn lại ít tốn công.

Chợt thấy Hưng không quấn gỏi theo kiểu Bắc, mà xé rau thơm đủ loại bỏ vô chén, múc vài muỗm nước giấm đổ lên trên, gắp một đũa dăm bẩy miếng cá bỏ vào chén và trộn đều, chiêu miếng bia, đoạn gắp thành phần hổ lốn nơi chén bỏ vô miệng. Phủ lên tiếng,

- Ông ăn gỏi Bắc Kỳ sao có vẻ phàm phu tục tử vậy?

- Đã ăn là phàm phu, bộ ông không lên tiếng thì thiên hạ tưởng ông không biết nói sao? Mục đích ăn để sống chứ đâu phải ăn kiểu này thì sống lâu hơn và ăn kiểu kia sẽ bị chết sớm. Kiểu ăn gỏi tân tiến của tôi nhàn hạ hơn, nhanh hơn và thoải mái hơn sao lại nói phàm phu?

- Nhưng cái chén giống nồi cám heo!

- Tôi nghĩ cách thanh lịch nhất và gọn ghẽ nhất là ăn một bụng lá, đoạn ăn cá, cuối cùng mới húp giấm, như vậy mới nói lên được nét quí phái rởm. Và khi tất cả vào bụng rồi nó sẽ ra sao. Có lẽ còn tệ hơn nồi cám heo.

- Thôi đi ông ơi! Nói ngang bỏ mẹ.

- Tại sao anh gọi là ngang? Có phải vì không giống với anh nên trở thành ngang? Nếu vậy, anh cũng được coi là ngang đối với người khác.

 
 Lời của Hưng vô tình khơi dậy nơi Thanh nỗi thao thức đã bao lâu nay âm thầm day dứt. Phỏng mình suy nghĩ khác người? Phỏng mình mang cá tính khó hòa nhập với tâm tính những người chung quanh? Hay tại mình quá tự mãn nên coi thường mộng ước, hoặc tham vọng bình thường đã khiến bao kẻ tiêu pha tiền bạc, không nhận thực giá trị cuộc sống để rồi dồn đổ bao công sức cho những mục đích chẳng ra gì, hoặc bị lừa đảo, trở nên loa phóng thanh tuyên bố những gì chính họ không biết. Câu tục ngữ “Đầu ngòi có con ba ba, kẻ gọi con trạnh, người la con rùa” một lần nữa đánh động tâm tư Thanh. Mặc dù quãng đời niên thiếu chỉ 17, 18 năm sinh trưởng nơi đất Việt, sau đó có cơ hội học hành cũng như làm việc nơi xã hội có tiếng văn minh nhất thế giới này, Thanh vẫn cảm thấy nỗi lòng bơ vơ, cách xa với người bản xứ chung quanh. Tự lần mò kiếm sách vở tìm hiểu thêm về đặc tính cũng như tình tự dân tộc, nhất là để tâm nghiệm chứng về đạo học Đông Phương, Thanh phải đối diện với nỗi đau lòng thương cảm cho kiếp người, đặc biệt những con người máu đỏ da vàng tự bẩm sinh đã mang sẵn giòng giống Việt. Có phải mình bị tiêm nhiễm văn hóa bản xứ nên coi thường kiểu cách, hoặc những giá trị muôn đời tiềm ẩn nơi giòng máu, nên ảnh hưởng chiều hướng suy tư cũng như phong cách xử sự nơi cuộc sống? Những câu hỏi tự vấn đã hằng chục năm quanh quẩn dày xéo tâm tư Thanh, mỗi khi nghe ai nói hoặc đọc nơi báo chí về những sự kiện chẳng nên xảy ra liên quan đến người Việt nào đó đã và đang cứ như vô tình thao túng tâm tư người người đồng hương.

 

Tối hôm qua, rót ly rượu nhâm nhi, một mình Thanh ra nơi cửa lạch được mở rộng làm bến thuyền, thưởng thức cảnh trời mây tĩnh lặng của đêm trăng. Tâm tư anh hồi tưởng sự thể mới xảy ra ít tháng gần đây. Nơi cộng đồng người Việt hơn kém vài trăm gia đình bỗng phát sinh thứ lạ đời. Có người mò mẫm, bới móc chuyện thiên hạ, tốn tiền nhờ đăng lên báo với chủ đích xỉ vả, nhục mạ những người mình không thích kèm theo những chứng cớ, tưởng vậy nhưng không phải vậy do ảnh hưởng ý đồ nào đó khiến sự trưng dẫn lệch lạc. Mục đích của hành động này là gì; bởi xưa nay có bao giờ kẻ tấn công đã cất tay hoặc lên tiếng cổ võ thực hiện bất cứ công việc nào đem lại lợi ích cho nhân quần xã hội! Không lên tiếng chẳng lẽ e sợ người chung quanh không biết có nhân vật quan trọng tiềm ẩn giữa chốn đô hội loài người? Muốn nổi tiếng nào khó chi nơi thời đại mạng lưới điện toán toàn cầu thịnh hành phát triển! Có thể y không biết hoặc không có máy điện toán. Nói rằng không có máy điện toán quả hơi vô lý vì chỉ cần vài trăm bạc ra WalMart rinh một chiếc về nhà đã có thể tha hồ múa may quay cuồng, vẽ rồng vẽ phượng quậy phá theo dòng tiến triển kỹ thuật mạng lưới.


Chợt Thanh tự hỏi, mình đang suy nghĩ gì vậy! Những suy nghĩ của mình do động lực nào thúc đẩy, có mang lợi ích chi cho tâm tư, có ảnh hưởng gì đến nhân sinh, có tạo nên động lực nào giúp ích chính mình. “Tất cả chỉ là nhận định,” miệng Thanh vô ý bật lên tiếng nói khiến anh giật mình, nhẹ mỉm cười, không ngờ lòng ruột mình xốn xang đến thế. Bao ngàn năm qua đi, bao thế hệ trôi nổi nơi giòng đời, bao công sức cũng như cuộc đời của những vị thức ngộ còn để lại phần nào nơi sách vở mà con người…, Thanh không kiếm được ngôn từ nào nói lên hiện trạng tâm trí nhân sinh. Tại sao mình có những nhận định này. Vẫn biết chúng chỉ là thành quả lâu ngày dày kén thâu thập từ sách vở cộng thêm suy tư và nhận xét, nhưng lý do gì hoặc nguyên nhân nào khiến mình cố tình thâu nhận chúng, Thanh tự xét; phỏng do lòng thao thức nhận biết thực trạng hiện hữu của mình hầu có câu trả lời hài hòa cho câu hỏi “Mình là ai,” nên cố công tìm hiểu quan niệm hoặc nhận thức của nhân hiền để lại. Hết lớp người này, đến lớp người khác đã qua đi, dẫu thành tích ngập tràn để lại cho thế hệ mai sau tiếp nối, nay những vị ấy ra sao. Cuộc đời một người chẳng lẽ có được sự hiện hữu giới hạn trên dưới trăm năm, lao công tổn trí để rồi trở thành hư không. Nếu kết quả chỉ là hư không sao con người chẳng những cố gắng tranh đấu giành sống, ham sống, mà lại còn phí sức tạo nên những thành quả đáng cho thế hệ sau an hưởng và khen ngợi. Mắc mớ gì phải tiêu hao tháng ngày, công sức, nhiều khi gây tai hại cho chính bản thân, sức khỏe trong khi phải đối diện với thực thể cuộc đời không thể tránh khỏi; dù giầu, nghèo, danh vọng, chức quyền, thông minh hay ngu đần như thế nào, mọi người đã được sinh ra tay trắng cũng sẽ ra đi trắng tay. Do đam mê bẩm sinh, vậy đam mê từ đâu phát sinh? Nghĩ đến đây, lãng đãng nơi tâm trí, những trường hợp minh xác nơi các bài viết, sách vở do chính tác giả kinh qua ghi lại lần lượt chuyển về khiến Thanh nẩy ý muốn tìm hiểu và thâu thập thêm; hầu có nhận định xác thực hơn về thân phận kiếp người, và những gì có thể xảy ra sau khi chết. Phiền, ngủ thôi, Thanh tự nhủ, sớm mai đi câu chuẩn bị đón khách.


- Anh Thanh, làm gì mà thơ thẩn muộn vậy? Chị Thanh bước đến gần nơi đầu lạch, bộ anh quên sáng sớm mai mình đi câu sao?

- Còn sớm mà, mới độ chừng chín giờ; em định hát bài gì ngày mai?

- Em muốn hát nhạc sống, và anh đờn cho em hát.

- Lão bà ơi, sao dạo này điệu vậy?

- Thì thay đổi bầu không khí. Vả lại, mấy bản nhạc em thích buồn quá, hát rơi nước mắt...

- Những bản nào?

- Hoài Cảm của Cung Tiến, Hoa Soan Bên Thềm Cũ, Mắt Biếc, vì chúng mang tâm tình của tác giả, nhưng buồn thúi ruột.

- Em hát những bản nhạc ấy hay lắm mà.

- Em thích chúng, nhưng đó không phải là tâm trạng của em, đôi khi bị hiểu lầm chăng.

- Không sao đâu, anh không hiểu lầm là được bởi chúng chỉ là những bài hát đã nổi tiếng từ xưa.

- Em không muốn bị phản cảm. Hát chúng, em cảm nhận được tâm tình nhạc sĩ nên hòa tâm hồn vô đó; bởi thế phần nào cũng khiến lòng em chùng xuống. Hay thì có hay, có thể nói rất trung thực nhưng không giúp lòng người hướng lên.

- Vậy em muốn hát bản nào, sao không nói trước để dợt...

- Em muốn hát bản Hành Trình của anh.

- Ah, cô định bốc tôi đó phải không. Nói thiệt đi, cô có ý gì? Thanh nhìn vợ đằm thắm, mỉm cười nói ghẹo. Cô muốn chi không được, bởi xưa nay tôi có ngăn cấm hoặc than phiền gì về cô đâu, Thanh quàng tay ôm sát vợ đoạn hôn lên mái tóc.

- Cái anh này, bộ anh nghĩ em không hiểu gì về anh sao. Mấy bản nhạc anh viết mang ý tứ nhận định thâm trầm dẫu chất chứa nhiều giả định, nhưng nặng về nhận thức nhân sinh; em thích chúng nhưng ngại hát bởi e người ta nói chồng hát vợ khen có vẻ đào kép quá.

- Vợ hát chồng khen chứ.

- À há, nhận định trật lấc rồi ông ơi. Người ta nói theo kiểu “Đi khám bác sĩ” mà.

- Em hát, anh đàn.

- Nhưng bản nhạc do anh sáng tác.

- Thì đừng giới thiệu.

- Ôi, cái ông này, chẳng giới thiệu thì cả làng đều biết, chẳng khác gì câu nói, “Hãy nói nhỏ cho kẻ điếc nghe rõ hơn.”

- Giỏi a! Lý do gì khiến dạo này em...

- Thông minh hơn chứ gì. Lâu rồi ông ơi. “Gần mực thì đen, gần đèn thì rạng.” Chẳng lẽ gần đèn vẫn tối um.

- Có thể em thông minh hơn anh nghĩ. Nào, vô nhà, mình dợt thử.

- Ba đang ngủ.

- Bố không phiền đâu! Bố nói giọng em hát hay lắm. Con dâu của bố ngoan, biết chăm lo cho con cái, hiền hòa, ý tứ, có giọng hát hay thì có gì đáng phiền đâu. Vô nhà, hát.

- Em muốn hát thêm bài Lệ Hồng.

- Bài đó buồn muốn chết luôn, hát làm gì.

- Có phải nó là thành quả của lần anh bị bò đá?

- Anh có mỗi con bò và cũng chưa bị đá sao có thành quả bò đá.

- Anh nịnh đầm giỏi nha; nhưng sao viết bài hát buồn đến như thế.

- Có lẽ anh lãng đãng bẩm sinh, hoặc quá đam mê như em biết. Khi làm việc gì hoặc suy nghĩ gì, tất cả tâm hồn anh chìm nơi đó nên khi viết bản nhạc Lệ Hồng, anh tưởng tượng mang tâm tư của một kẻ thất tình... nói cho đúng, bị người yêu bỏ theo kẻ khác.


Chị Thanh hát say mê; Thanh không ngờ bài hát của mình được chị diễn tả tuyệt vời như thế. Ông Huyền, bố Thanh đứng ở cửa phòng nhạc lúc nào, im lặng nghe hát.

- Em hát thêm bài Bao Giờ Biết Tương Tư.

- Bài đó không có gì nói lên nỗi lòng kẻ thất tình, chỉ phớt qua phiến diện dẫu phần nào đó đánh động tâm tình thính giả. Thêm nữa, câu, “Tình yêu cuối đời” mang vẻ bôi bác nên em không thích mặc dầu nhiều người thích. Chợt chị trông thấy ông Huyền nơi cửa.

- Ba, chúng con phá giấc ngủ của ba.

- Con hát hai bài thật có hồn khiến lòng người rung động. Hai bài này của nhạc sĩ nào vậy?

- Anh Thanh viết đã lâu nhưng con ngại hát bởi e người ta nói mèo khen mèo dài đuôi.

- Thì mèo nào chả đuôi dài. Thanh cười cười nhìn vợ; hướng qua ông Huyền, tiếp,

- Bố xem con dâu bố đó, lão rồi mà cứ như thời mới cưới ấy, đoạn nói với chị Thanh,

- Dợt thêm một bài nữa rồi đi ngủ.

- Anh thích bản nào?

- Anh có biết mình thích bản nhạc nào đâu? Bài nào cũng thế thôi.

- Hay bài Ngỡ Ngàng.

- Ủa, em lục ra ở đâu vậy. Bài này lâu lắm rồi và anh cũng không nhớ nó thế nào nữa; mà em định hát cung nào.

- Ở trên net, để em in ra. Chị Thanh bấm máy điện toán.

- Em cho nó hát.

- Chỉ có nhạc không à, chưa có ai hát..

- Có mà.

- Chưa... Em mới vô net.

- Thì sắp…

- Trên net cung D, hơi cao, em hát cung A. Sao anh chấm nhạc cung cao quá vậy, ai mà hát nổi.

- Những người thực sự muốn hát sẽ có cách hát. Đưa cho anh bản in.

- Dợt thì dợt vậy thôi, em nghĩ chỉ nên hát tối đa hai bài. Một bài khởi đầu và nếu cần thì thêm sau này bởi nên dành cho khách.

- Coi chừng em phải hát bốn bài.

- Bộ anh nghĩ em đi “show” sao.

- Không phải đi show, nhưng sẽ bị yêu cầu bởi nhạc sống. Sẽ có người chơi guitar và nếu anh tính không lầm, có thêm cây saxo nữa. Anh nghĩ, em nên chuẩn bị năm bài, coi chừng nhiều hơn nữa.

- Cái gì mà nhiều hơn nữa; bộ anh muốn em độc diễn không để cho người khác hát sao?

- Theo anh biết được, ít nhất trong tháng này có sinh nhật của bốn người. Bố này, ông Thung này, bác Tài, và em nữa. Anh định viết bản nhạc mừng sinh nhật mà chưa biết khởi đầu ra sao, không hiểu có kịp chăng. Anh đã đặt bánh sinh nhật, sẽ có người mang đến, và mai phải mua thêm mấy chai Champagne nữa. Hay em nghĩ giùm anh câu khởi đầu.

- Sao anh không viết sớm hơn.

- Anh mới nghĩ đến lúc nãy khi em đề nghị hát nhạc sống; thế nên ngày mai anh sẽ gọi điện thoại mời anh Huynh ở New Orleans mang cây saxo tới cũng như Tính của ca đoàn nhà thờ mang theo guitar. Do đó, anh nghĩ, thời gian sẽ kéo dài hơn; đồng thời ngoài món gỏi cá, cần nấu thêm nồi bún bò Huế và vài đĩa bê thui. À, mà nhà còn tương ớt không…

- Yên trí “nhớn,” chị Thanh nói giọng Bắc, nhẹ mỉm cười. Những thứ phụ thuộc, mắm, ớt, hành tây, hành ta, tỏi, thính, mè, gừng sẽ có đầy đủ. Nhưng ba à, ba tính chừng nào thì về tới nhà.

- Xem nào, ông Huyền nhẩm tính, mai là mùng 7 âm lịch, con nước bắt đầu lên giờ dần và đẫy vào giờ tỵ. Nếu đi lúc 5 giờ sáng, bẩy giờ tới nơi tức là giờ thìn, câu cỡ một tiếng thì có thể về tới nhà vào khoảng giữa giờ tỵ, như vậy khoảng 10 giờ sáng.

- Sao ba biết con nước lên giờ dần, chị Thanh hỏi.

- Con quên câu, “Mùng năm, mười bốn, hăm ba, đi chơi cũng lỗ nữa là đi buôn.” Trước hôm kia tức mùng 4, con nước ròng lúc nửa đêm thì sáng mai nước lên lúc 5 giờ sáng. Con nước lên sáu tiếng, ròng sáu tiếng, và con nước mỗi ngày cách nhau hai tiếng.

- Vậy sao lại tính mùng năm, mười bốn, hăm ba, thưa ba; chị Thanh hỏi tiếp.

- Những ngày mùng năm, mười bốn, và hăm ba âm lịch là những ngày con nước lừng, tôm cá không di chuyển nên khó bắt được tôm cá. Những ngày này quai đáy không được, những ghe đánh tôm bắt cá cũng chẳng được bao nhiêu nên mới có câu đó.

- Con sẽ viết giấy nói ba đứa nhỏ ở nhà kê bàn, sắp ghế. Mai mình ăn sáng trên thuyền với cơm nếp nấu đậu phọng và muối mè đường nghe ba. Chút nữa con sẽ ngâm đậu phọng.

Âm nhạc từ chiếc keyboard nổi lên, và chị Thanh cất tiếng hát. “Đã bao năm rồi, tôi đi tìm chính tôi…” Giọng chị mượt mà, thêm phần khắc khoải diễn tả nỗi thao thức nội tâm một người muốn nhận biết giá trị thân phận làm người nơi cuộc đời.


Buổi sớm, khí trời hơi lạnh bởi đã chớm vào mùa thu; mặc dầu trời đã sáng rõ dù chỉ mới năm giờ. Con thuyền êm ả lướt nhẹ hướng tới cửa vịnh; hòa theo tiếng máy nổ ầm ì dưới khoang. Chị Thanh bưng nồi cơm nếp đặt lên chiếc ghế cao nơi phòng lái giữa khoảng ông Huyền và anh Thanh đang đứng.

- Sao em mang cả nồi theo...

- Trăm điều thông minh thế nào cũng có một điều dại.

- Em nói sao, vậy mấy đứa nhỏ ở nhà.

- Chúng nó là con riêng của anh sao, chị Thanh nói trong khi đặt hũ muối mè pha đường lên “cốp” phòng lái.

- Nhưng...

Chị Thanh mở vung nồi, lấy chiếc muỗng lớn gạt cơm chỉ còn một nửa sang bên đoạn cạy lấy một nửa lớp cháy mềm phía đáy bỏ vô đĩa, rắc muối mè đoạn đưa cho ông Huyền,

- Mời ba...

- Hèn chi bố cứ khen con dâu của bố là ngoan.

- Thì bố khen con dâu của bố chứ có khen con dâu người ta đâu mà anh phải ghen. Chị Thanh miệng trả lời, đôi tay nhẹ nhàng lấy cơm nếp ra hai chiếc đĩa kèm thêm phần cháy còn lại được chia đôi, đặt trên cốp. Ông Huyền thích ăn cháy “ốm” cơm nếp nấu với đậu phọng. Dĩ nhiên, cháy ốm cơm nếp đậm đà. Cũng phải công nhận chị Thanh khéo nấu để có cháy cơm nếp. Thay vì đổ gạo và nước vô nồi rồi bật công tắc điện, chị lấy nồi ra nấu cơm trên bếp và cho hơi già lửa trước khi đặt qua bếp điện tránh bị cháy quá. Nấu như thế vừa nhanh, gạo được đảo nên cơm chín đều. Khi cơm chín vừa tới, chị dùng đũa rấc thêm một lần thành ra cơm không bị đóng bánh khi xới nên trông gọn gàng, hấp dẫn.


Ông Huyền quan sát trời mây đoạn nói,

- “Ráng mỡ gà thì gió; ráng mỡ chó thì mưa.” Ông lập lại câu tục ngữ thời tiết đoạn nhẹ nhàng nói, chiều nay hơi gió, khi thuyền ra tới gần cửa biển. Nội trong tháng mười một dương lịch, phải đi câu một chuyến lấy cá ăn mùa đông. Trời đất này coi bộ năm nay khá lạnh. Mùa tôm năm nay thất quá, không biết cá mú sang năm sẽ ra sao.

- Hay ít hôm nữa, cỡ chừng hai tuần, bố với con đi câu ít nhệch về phơi để nhậu dần, bố nghĩ sao.

- Cũng được, về làm một bữa gỏi còn bao nhiêu thì phơi hoái hoái đoạn bỏ tủ đá, nhưng phải vô đầu tháng mười hai sò mới mẩy và nhệch mới béo.

Chị Thanh yên lặng nhai cơm nếp thầm nghĩ, không ngờ ông già coi bộ nhà quê nhưng kiến thức về biển rả, mây nước lại quá rành rọt. Hằng năm mấy lần theo ghe ra biển với cha con họ, được nghe đối thoại hay bàn luận về thời tiết cũng như tính toán con nước, hướng đánh tôm, nơi câu cá, lần nào chị cũng học thêm được ít kinh nghiệm và nhận định về sông nước. Có điều lạ, không hiểu sao Thanh có được kiến thức về sông nước khá rành rẽ để có thể bàn luận ngang ngửa với ông Huyền vì ngày xưa ông đã bao năm chăm chuyên hành nghề này. Những câu Ca Dao, Tục Ngữ thường được ông lặp lại mỗi khi tiên đoán về nhận định thời tiết. Dĩ nhiên, cũng đôi khi Ca Dao, Tục Ngữ Việt Nam đề xuất một đàng; thời tiết đất Mỹ chuyển theo một nẻo. Chẳng hạn, có lần khi vô gần tới cửa biển, trên trời, mây giăng cuồn cuộn; chớp giật đùng đùng, nhưng cũng may gió không lớn. Thanh ngâm nga, “Bao giờ sấm trước có mưa; bao giờ mẹ ghẻ có ưa con chồng,” rồi bình tĩnh lái thuyền về lạch. Chỉ mới qua hơn mười phút vừa lọt vô cửa vịnh, một trận mưa tầm tã đổ xuống. Thanh lại lần nữa lặp lại, “Bao giờ sấm trước có mưa; bao giờ mẹ ghẻ có ưa con chồng;” đoạn tiếp, “Thế ra Ca Dao ta không hợp với trời Tây.”


Sau khi ăn sáng cũng là lúc thuyền đã ngang hòn đảo “Deer Island,” có thể nhìn thấy từ đất liền, ông Huyền lấy một mồi giả y-nốc kết chùm nilon mắc vô dây một chiếc cần câu đoạn ra sau lái thuyền thả xuống nước chừng ba chục sãi. Hơn nửa tiếng sau, một chú cá dính câu bị thuyền kéo theo cong vòng cần câu; nước bung lên trông đến thích mắt.

- Ba, có cá mắc câu, để con kéo lên nghe.

- Để ba kéo cho, con cá lớn, coi chừng nó kéo con xuống nước.

Thanh cho thuyền chạy chậm lại, một con cá màu đỏ khá lớn, cỡ hơn 5 kilô, đầu hơi nhọn, nằm ngáp nơi sàn thuyền, trông gần giống như con cá hánh màu đỏ, vi vẩy phản chiếu ánh sáng hừng đông trông thật đẹp mắt.

- Cũng hơi lạ sao mùa này sao lại có cá này vô gần bờ. Loại cá này thường ở nước sâu ngoài khơi mà...

- Con cá này giống cá hánh nhưng màu đỏ; nó lớn quá ha ba.

- Nó là cá hồng, nhà hàng khá ưa chuộng và chỉ ở ngoài khơi nơi nước sâu. Con cá này thái gỏi thì tuyệt. Chỉ cần câu được vài con cá hánh nữa để làm giấm kể là quá đủ.

Lúc này, Thanh đã gài lái thuyền và bước ra phía sau; thoạt trông thấy con cá, anh hô lên,

- Cái nhóm nhậu này hôm nay may mắn a! Loại cá hồng này chỉ gặp may, không thể cầu; thế mà lại chui ngay vào gần bờ để lên đĩa, ha ha. Quay qua, anh mở thùng đựng đá, gỡ cá bỏ vô trong khi lẩm bẩm, “ Cầu mong không bằng gặp may; gặp may không bằng tốt số; tốt số không bằng ý trời;” có lẽ nên đổi chương trình lại. Anh tiếp, ăn gỏi cá hồng và cá hấp hay nướng thay vì bê thui; coi chừng hôm nay bắt cá mệt nghỉ.

Hơn tiếng sau, thuyền tới nơi đã định, Thanh cột thuyền buông lơi theo gió cách giàn khoan dầu hơn kém mười lăm sãi. Ông Huyền câu mấy con cá nhỏ xắt ra làm mồi.

Chị Thanh mắc mồi, quăng câu đoạn cắm cần vô kệ, quay vô bếp đun nước pha cà phê.

- Em ơi, Thanh gọi, coi chừng gẫy cần câu.

Đã quá quen với câu biển, chị Thanh lẹ bước ra khoang, nhưng không vội vàng hấp tấp. Không hiểu con gì mà lôi cong vòng chiếc cần câu kéo thuyền chuyển theo; một tay cầm giữa cần câu níu đứng lên, tay kia nắm cán cần câu rút khỏi chỗ cắm, đoạn đổi tay, dạng chân chèo, chị tỳ cán cần câu vào bụng, một tay nắm ngang cần lấy sức kéo ngược, mỗi lần hạ cần câu, tay phải vội quay máy thu cước. Con cá khá lớn, vùng vẫy dữ dội khi tới gần thuyền, và lọt vào chiếc vợt chờ sẵn. Cá thủ đỏ, anh Thanh tuyên bố khi kéo cá lên sàn thuyền. Cỡ chừng ba mươi pounds, anh độ chừng tiếp. Con cá dài hơn ba feet, vảy sáng bóng, lóng lánh hòa hợp với màu sắc đen, đỏ, vi, mang, kèm thêm chấm đen gần đuôi trông thật sặc sỡ, dễ thương.

- Con cá giãy mạnh thật; chị Thanh buông cần câu, vui vẻ nói. Bộ lòng hai con cá này xào hành tây ăn hết biết...

Cùng lúc ấy, hai chiếc cần câu của ông Huyền và anh Thanh ghì xuống. Hai đường dây câu bị kéo tiến sát vô và quấn lấy nhau. Chị Thanh nhanh tay nắm lấy đáy chiếc vợt giốc ngược con cá ra sàn thuyền, đứng vô giữa hai người đang quấn câu và chờ đợi; thêm hai con hánh, mỗi con cỡ 4 đến 5 pounds.

- Hai con này nấu giấm; con cá hồng thái gỏi; con sủ đỏ nướng; hai bộ lòng xào hành tây; bắt thêm hai hoặc ba con nữa nấu nồi cháo cá ăn cho nhẹ bụng. Ông Huyền lên tiếng.

Gần nửa tiếng sau, ba người bắt thêm hơn chục con cá hánh; riêng ông Huyền câu được con sủ đen ngang ngửa con sủ đỏ.

- Con sủ đen này chỉ lấy chiếc bong bóng và dạ dày xào với lòng hai con kia vì thịt nó có sán, không nên ăn. Miệng nói, tay ông cầm con dao nhỏ rạch bụng cá lấy ra chiếc bong bóng, dạ dày, rửa sạch, bỏ vô thùng đá và quăng phần còn lại của con cá xuống biển, rửa tay chuẩn bị trở về.


Tiếng máy thuyền nổ dòn, hình như lúc về nhanh hơn lúc đi, và cỡ gần mười một giờ trưa thuyền cập bến. Thanh xếp hai thùng cá lên chiếc xe kéo trong khi chị Thanh mang nồi cơm và hũ muối mè bước lên bờ. Ba đứa nhỏ nghe tiếng thuyền cập bến đã đợi sẵn; thằng lớn kéo xe cá vô sân; con bé út líu lo với mẹ phụng phịu sao không cho chúng đi câu.

- Các con ăn sáng chưa, chị Thanh hỏi.

- Dạ, rồi má. Thằng thứ hai nhanh miệng trả lời. Bé Linh phụng phịu suốt cả buổi sáng vì không được đi câu.

- Để hôm khác, ông nội nói trong tháng mười một sẽ đi câu một chuyến lấy cá ăn mùa đông. Các con chịu khó ngoan ngoãn học hành. Nhà có thuyền, mùa hè tha hồ câu. Tối nay vì nhà có đông khách, ba con muốn bắt cá tươi thái gỏi nên đi vội, đâu có giờ câu chơi. Quay sang bé Linh, chị Thanh mắng yêu, còn con bé này, học tới lớp chín, lớn rồi mà còn phụng phịu. Được ông nội cưng thì chúng con phải ngoan chứ. Con bưng nồi cơm này vô cho mẹ. Chị Thanh trao chiếc nồi cho con gái. Đoạn nói với thằng thứ hai, Tĩnh, con vô nấu nước pha trà cho ông nội.


Đoàn người kéo nhau về tới sân, chị nhờ Thanh lấy dao và búa cắt và bổ đầu cá, đem xào để nấu nước làm giấm gỏi và nấu cháo, lọc thịt cá để thái gỏi bỏ vô tủ lạnh. Những phần vi, vảy, ruột cá bỏ đi, chị băm nhỏ và đem đổ xuống mấy gốc cỏ mọc nơi bờ nước con lạch, gần bến thuyền; cá ngửi mùi đến kiếm ăn sẽ là cơ hội tốt cho những đứa trẻ câu chiều nay khi chúng tới. Điều chị ngại ngùng nghĩ tới nhất là phải sắp xếp thế nào để tránh tai nạn có thể xảy ra khi trẻ quăng câu không để ý nhìn trước nhìn sau. Lần trước, các gia đình trong ca đoàn đưa con cái tới hồ picnic; trẻ con thích câu; bố mẹ coi sóc con trẻ cũng thích câu; thằng bé con anh Hưng quăng câu thế nào mà lưỡi câu móc ngay vô cổ áo con bé Loan, may mà không xảy ra chuyện gì. Chiều nay trẻ tới; không cho chúng câu không được, chẳng phải trẻ con mà cả bố mẹ chúng; bởi nghe đâu mấy đứa nhỏ đã dặn dò nhau mang cần câu bỏ trong xe. Tất nhiên, lúc bấy giờ chị và chồng sẽ bận tối mặt, chỉ còn cách nhờ ông nội và ba đứa nhỏ; mỗi người dẫn dắt ba đứa khác, và nếu cần, nhờ thêm đôi người nữa; chị thầm tính toán.

Nghĩ đến những gì cần thiết phải giải quyết để ngăn ngừa những chuyện chẳng may có thể xảy đến, chị Thanh thầm tính, tụi trẻ không biết ăn gỏi; thêm vào đó, đã chắc gì chúng thích cháo cá, chẳng lẽ để đến lúc đó mới tính thì hơi phiền.

 - Anh Thanh, anh đi mua cho em ba con gà to ở Waltmart...

 - Mua làm gì, cá dư thừa; vả lại trong tủ đá có cả kho thịt gà.

 - Anh thử tính coi sẽ có bao nhiêu đứa trẻ tới! Em nghe đâu tụi nó dặn nhau nói bố mẹ đưa tới sớm để câu; đứa nào đứa nấy sắm sửa cần câu bỏ sẵn nơi xe từ tuần trước. Chúng nó đâu biết ăn gỏi; vả lại, cá nướng và cháo cá đối với chúng chỉ là thứ phụ, con nít bên Mỹ mà. Hơn nữa, gọi là cháo cá nhưng phải có nước gà luộc để nấu cháo. Đi đi anh, những việc lặt vặt kể như tạm ổn, chỉ cần hái lá thơm, lá mơ, sau đó thái cá kể như xong. Hôm nọ anh khen ông Tiên tiệm phở nấu giấm mẽ theo kiểu Bắc kỳ, hay nhân thể mời ông ghé chơi chiều nay và hỏi cách nấu giấm.

- Còn dặn dò gì nữa không; “Ra đi vợ đã dặn rằng...”

- Độ một tiếng nữa ăn cơm trưa, em sẽ nấu đầu cá với dưa và cà chua, cá hánh chiên và kho, cùng với rau diếp chấm nước kho. Ăn xong, em còn phải nhờ anh chút việc.

- Còn việc gì nữa thì nói hết cho rồi để đi luôn một chuyến cho gọn.

- Anh thử tính xem sẽ có bao nhiêu đứa trẻ theo bố mẹ chúng đến để đi câu. Em mới nghĩ sơ sơ, ít nhất cỡ chừng 16 đứa. Để tránh chuyện có thể xảy ra lúc quăng câu như lần trước đi picnic, em nghĩ phải chia trẻ ra thành từng nhóm ba đứa cho một người lớn coi, tránh cảnh đứa đứng trước, đứa đứng sau, câu cá không câu thành ra câu người. Mình có ba đứa nhỏ vị chi coi 9 đứa, nhờ ông nội coi ba đứa vị mới được  12; có lẽ phải nhờ thêm vài chị khác coi những đứa còn lại. Như vậy phải chia chừng 20 feet một khoảng dọc theo bờ lạch hai bên bến thuyền. Chuyện này anh phải làm.

- Ừ nhỉ, thế sao anh không nghĩ tới.

- Anh quên chuyện bác sĩ Gia rồi.

(Câu chuyện bác sĩ Gia: Bác sĩ Gia là bác sĩ gây mê, làm tại bệnh viện Veteran Hospital, Biloxi, Mississippi, qua đời khoảng năm 1997-1998). Khoảng thời gian 1990 đến 1992, ngài có 7 bác sĩ nam, trẻ, người Mỹ theo học gây mê tại bệnh viện dưới sự hướng dẫn của ngài. Nhân bữa tiệc kỷ niệm 37 năm thành hôn, ngài mời 7 bác sĩ đó tham dự bữa tiệc chung vui. Đang lúc chén tạc chén thù, một vị bác sĩ trẻ lên tiếng hỏi trong tình thân thiện, “Ông thày, hôm nay là ngày kỷ niệm thành hôn của ông thày; nếu tôi không lầm, gia đình ông thày xem ra rất hạnh phúc. Xin ông thày chỉ cho chúng tôi biết bí quyết căn bản để có được gia đình hạnh phúc sau những 37 năm chung sống.” Bác sĩ Gia lấy giọng nghiêm nghị trả lời, “Chúng ta nên nhớ, mình là đàn ông, là chủ gia đình; nên mình có bổn phận lo lắng cho gia đình. Tất cả những chuyện quan trọng nơi gia đình mình phải quyết định. Tuy nhiên, qua 37 năm lập gia đình, tôi chưa thấy chuyện nào đáng được gọi quan trọng để phải quyết định).

 
Một chiếc xe van hùng hổ xông tới ngõ; tiếng còi vang lên inh ỏi. Cặp vợ chồng trung niên và ba người con bước xuống sau khi xe đậu vô bãi cỏ trước sân. Thanh tiến tới chào hỏi,

- Sao hôm nay nhị vị và các cháu có giờ rảnh sớm sớm ghé qua tệ trang. Thanh tửng tửng nói theo kiểu văn chương kiếm hiệp vì biết Tình, dẫu ít nói nhưng chúa giỡn, chọc phá.

Chị Tình, nét mặt tươi rói trả lời,

- Em bảo nhà em nên sang nhà anh chị sớm xem có chuyện gì cần sửa soạn, giúp chị một tay. Vả lại, em cũng muốn mấy đứa nhỏ có thời gian quen biết và thân thiện với nhau hơn. Anh chị thấy đó, nơi xứ người này, mấy đứa nhỏ sống như Mỹ, thành ra em e chúng sau này trở thành quá cô độc, buồn chết đi! Chị Thanh, chị Tình hướng về vợ chủ nhà nói tiếp, nghe đâu anh Thanh nói hôm nay ăn gỏi cá Bắc kỳ, em muốn học nấu giấm mẽ Bắc kỳ ra sao mà anh Tình cứ tấm tắc khen tới, khen lui. Nhìn phần cá chị Thanh chuẩn bị nấu ăn trưa, chị Tình nói tiếp, chị mới đi câu về sao?

- Dạ, tụi em mới đi câu về sáng nay. Mời anh chị và các cháu ăn trưa với tụi em nghen. Em định nấu đầu cá với dưa và cà chua cho hai anh nhậu, chiên một ít và kho lấy nước chấm rau diếp. Năm nay thuyền bè nhà chị khá không?

- Cũng tàm tạm. Em có mang theo ít tôm nhỏ để làm mồi câu cho tụi trẻ, chị cho em mượn cái thau để ngâm cho tan đá.

- Ô, cảm ơn chị nhiều; em chưa kịp dặn anh Thanh mua mồi cho trẻ câu, nhà nghề có khác.

- Em cũng mang thêm 10 pounds tôm lớn để luộc. Chị xem có cần mua thêm hành, ớt, lá thơm không em đi chợ cho.

- Cảm ơn chị, em đã chuẩn bị đầy đủ. Bây giờ em nấu cơm trưa, cỡ nửa tiếng, bốn mươi lăm phút là xong. Nhà em gieo ít giống rau diếp; cấy được hai luống còn cả đám lớn, chị coi xem, nhổ một ít về ăn với cá nấu hoặc chấm nước cá kho. Năm nay thời tiết thuận hòa, rau ngon lắm. Đây, chị nhổ rau bỏ vô chiếc bịch này; chị Thanh cầm chiếc túi nilon bên cạnh giơ lên. Chị Tình bước theo chị Thanh hướng về đám rau diếp vàng rộm dưới ánh nắng. Thân rau cao hơn nửa gang tay, chen chúc một đám bằng mặt bàn trông ngon ơi là ngon.

- Rau ngon quá, chị Tình nói, mới trông thấy đã muốn chảy nước miếng. Chị gieo bao giờ vậy.

- Để xem, trước đây cỡ một tháng. Em đánh cấy ra hai luống hôm thứ tư. Mới bốn ngày mà nó lớn nhanh vậy; không ăn sớm chúng chen nhau sẽ rớt như sợi chỉ. Nhân thể chị lấy thêm ít hành hoa, mùi, ngò ôm, húng quăn, húng quế, về nhà khỏi phải hái.

- Thôi đi chị, nhà em cấy nhiều thứ đó lắm, cũng phải hái bớt cho chúng non, không hái rau thơm mau già lắm.

Hai người cứ như là chị em ruột, nhẹ nhàng, thân thiết. Chị Tình người miềm Nam, bản tính dễ dãi, không màu mè, hình thức. Chị Thanh học xong đại học, khi còn đi làm cũng đứng đầu một phân ngành của công ty nên quá quen với lối đối xử hiền hòa, thông cảm, thành ra hai cặp vợ chồng này rất thân thiện. Gia đình Tình đến sớm không có gì lạ. Chỉ mấy phút sau, chị Tình xách một túi rau diếp bỏ vô xe.

- Anh còn chưa đi bao giờ mới về ăn cơm trưa? Chị Thanh hỏi chồng.

- Ông ở đây coi mấy đứa trẻ; tôi đi chừng nửa tiếng trở về rồi mình nhậu. Thanh nói với Tình đoạn hướng về chiếc pickup bước tới.

- Ông có cần tôi phụ chi không? Ở đây đã có hai bà ấy.

- Cũng được, mình đi cho vui. Hướng về phía vợ, Thanh nói, hay là mình làm lẩu cá thay vì nấu.

- Vậy anh nhớ mua thêm ít cà chua còn hơi xanh...

- Anh thấy mấy cây cà chua nhà mình trái vàng ươm rồi mà.

- Ô, em quên, hay anh ghé vô tiệm Việt Nam mua dùm em gói bún, nhà mình hết bún rồi. Lẫu cá ăn với bún mới hấp dẫn.

- Nghe, còn thêm gì nữa không? Em có định xây thêm chợ bán thực phẩm Á Đông ngay ngõ cho tiện việc mua bán không, Thanh cười cười nói.

- Thôi đi đi, và về cho sớm.

Thanh dừng xe chờ Tình bước lên,

- Có lẽ phải mua thêm mấy đoạn cây về cắm cọc phân chia ranh giới cho trẻ câu chiều nay. Nếu không, trẻ quăng câu lung tung lỡ xảy ra chuyện chẳng nên thì phiền lắm.

- Vậy thì mua bó cọc được cắt sẵn khỏi phải cưa, cắt mất công.

- Ừ nhỉ, thế mà tôi không để ý. Có lẽ phải mua thêm cuộn ribbon vàng cột vào đầu cọc cho chúng dễ nhìn thấy.

 Thanh lái xe quẹo vô tiệm phở và dừng lại.

- Ông định uống cà phê hay sao mà vô đây?

- Không đâu. Tiện thể mời anh chị Tiên, và nếu có thể nhờ anh ấy làm giấm mẽ chiều nay, uống cà phê không?

- Không cần đâu nhưng cũng ghé vô chào hỏi một tiếng, chỗ quen biết mà.

Gần trưa nên quán phở khá đông khách. Nơi bàn trong góc phải, hai người đàn ông đang ăn phở, bốn vỏ bia xếp gọn một bên,

- Hai ông rủ nhau ghé vô nhậu hay uống cà phê; các bà ấy đâu. Mời ngồi, làm chai cho vui. Giơ tay ngoắc chiêu đãi viên, làm ơn cho hai chai Heinekene.

Thanh và Tình kéo ghế ngồi xuống, bạn bè quen biết không thể làm lơ.

- Cám ơn, chúng tôi đang vội đi mua đồ. Chị gì ơi, Thanh nói với người hầu bàn, đừng lấy bia.

Quay lại Thanh nói,

- Tối nay họp tại tệ gia, định vô mời anh Tiên nếu có thể tham dự và nấu dùm giấm mẽ ăn gỏi cá. Sáng nay, tớ câu được một con cá hồng cỡ hơn năm ký, một con cá đỏ cỡ 14 ký, hơn chục con hánh mỗi con ba, bốn ký. Ở nhà đang nấu lẫu cá, ghé qua nhậu cho vui; bây giờ tớ phải gặp Tiên, đoạn ghé qua chợ mua gói bún khô về luộc, ăn với lẫu.

- Hai ông vội đi đâu mà bia không uống. Tiên bước đến bàn kéo ghế ngồi trong khi hỏi.

- Tôi ghé vô mời anh chiều nay ghé qua ăn gỏi cá. Sáng nay tôi mới đi câu được ít cá khá ngon định thái gỏi. Anh có thể tới khoảng 5 giờ rưỡi được không? Chúng ta sẽ bắt đầu nhậu chừng 6 giờ đúng. Coi chừng trâu chậm uống nước đục. Có thêm món cháo cá nữa cho nhẹ bụng.

- Nghe... Vậy nhà ông đã có những thứ gì rồi, phải thành thật khai ra kẻo vẽ hổ không thành hổ mà thành chó thì phiền lắm. Thế ông định làm gỏi cá gì?

- Thì cá nào chả là cá; cá nào không ăn gỏi được miễn là nó tươi, chưa kho, chưa nấu. Chẳng lẽ đánh bẫy còn chê chó cái. Tình lững thững chêm vô.

- Ông muốn nói gì vậy? Ai không biết vợ cả, vợ hai, vợ nào cũng là vợ cả; thế sao lại phải xanh mặt khi vợ cả nổi trận lôi đình. Coi chừng bị thiến có ngày.

- Tôi câu được một con cá hồng cỡ 5 kílô, một con thủ đỏ cỡ 14 ký, mười mấy con cá hánh từ ba đến bốn ký, để làm gỏi chiều nay nên ghé qua cầu thợ làm giấm nhậu cho đã. Khoan khoan, để tôi gọi về nhà xem đã có những gì,

- Có chanh, có me, chưa có mẽ.

- Có tôm không?

- Có, Tình mới mang tới,

- Có thịt heo xay không,

- Quên, không để ý.

- Chắc chắn có trứng chứ?

- Để tôi hỏi lại.

- Không cần, nhưng cỡ bao nhiêu người tham dự?

- Cỡ chừng 15 người lớn và hơn kém 16 đứa trẻ lầng nhầng. Nhà tôi định nấu thêm món cháo cá.

- Nghe ông nói nấu cháo cá vậy đã có thịt gà chưa?

- Có chứ, có chứ, đang định đi mua ba con gà vì e một số trẻ không thích ăn cháo cá nên làm thêm món gà luộc cho chúng.

- Thế đã có những món rau thơm nào?

- Đầy đủ mọi sự từ lá mơ, hành, tỏi, ớt, ngò tây, ngò ta, húng quăn, húng đứng, riềng, sả, chỉ còn thiếu ngò ôm. Thanh cười cười diễu vì nghe đâu đã có lần vợ Tiên ghen lồng lộn bởi nghi chồng có tình ý với chị hầu bàn coi bộ khá hấp dẫn, mát mắt; dẫu từ ngày chị này làm bồi bàn, quán phở đông khách hẳn lên. Vợ Tiên đe sẽ nghỉ việc để ngồi tính tiền, giữ chồng. Tính tới, tính lui, suy nghĩ hơn thiệt, Tiên đành phải đề nghị với vợ nhờ cháu gái, gọi vợ bằng cô, mới xong năm thứ 2 đại học nhân kỳ ba tháng hè ngồi tính tiền. Hình như “Khi nên trời cũng chiều người” (Kiều); cô cháu vợ cũng khá xinh, dễ thương lại hoạt bát; hơn nữa, đang là sinh viên không bị mặc cảm nếu không muốn nói là dạt dào niềm hãnh diện của lớp trẻ; thành ra kiểu cách ăn nói vui tươi, niềm nở, cởi mở khiến quán phở càng thêm đông khách. Đã có lần Tiên tâm tình, nhờ sự ghen tương của vợ mà học được bí quyết dẫn dụ khách hàng.

- Thì ăn ngò rồi ôm, thế là đủ vị. Tình nói.

Biết Thanh và Tình chọc chạch, Tiên mĩm cười trả lời,

- Nói sao thì nói, miễn có thì thôi. Đàng này, có tiếng mà không có miếng, cũng có cái thú của nó.

- Thú đau thương, Thanh đệm vô.

- Đau thì không, thương cũng không, nhưng thị,

- Sao lại thị, một trong hai người khách ăn phở lên tiếng.

- Không đau, không thương thì oan, chẳng lẽ tiếc nuối, nhưng có còn hơn không, đàng nào cũng có lợi.

- Nhưng răng chẳng còn.

- Thà rằng hưởng thú đau thương còn hơn đau thương không có thú.

- Ôi, cuộc đời cũng lắm cảnh trở trêu, đã muốn làm kỹ nữ lại còn muốn lập đài kỷ niệm!

Hai người khách ăn phở khác đế thêm. Mấy người nói oang oang giữa bầu không khí ồn ào khiến khách hàng nơi những bàn bên cạnh nghe được. Một đôi giọng cười nổi lên.

- Nhưng vẫn sáng con mắt, Tình chọc bởi Tiên đeo kiếng.

- Chào anh Thanh, anh Tình. Gớm, bộ chiều nay mưa lớn hay sao mà hai anh nhẹ gót ghé qua. Cùng với tiếng nói, vợ Tiên tiến tới.

- Dạo này chị nghỉ việc để chăm lo hàng quán hay sao, hay chị định biến quán phở thành quán thi hoa hậu, Thanh cười cười nói.

- Em cũng đang định thế nên đã nói với nhà em mở thêm hai quầy tính tiền rồi mời chị Thanh và chị Tình ngồi làm mẫu, nhưng nhà em chưa chịu. Ông ấy bảo rằng khách hàng ở đây toàn là những bậc cao thủ khí công đầy mình, lỡ ánh mắt sắc bén quét vô khiến các chị ấy ốm bớt, mất lòng bạn bè thì biết tính sao. Thế các chị ấy đâu?

Vợ Tiên xinh xắn, khá vui tươi, và nhanh miệng, vì cùng lứa tuổi lại là bạn bè nên dễ thông cảm. Chị thích coi phim kiếm hiệp, cùng nhóm hát karaoke và thường hay tụ họp với nhau mỗi tuần nên trong sự giao thiệp giữa người quen, ăn nói tương đối thoải mái.

- Chào các bác, các chú. Con gái của Tiên tiến tới. Mẹ, rau mùng tơi để nơi đâu?

- Ô, chị có đứa em gái đẹp quá ha.

- Cái anh quỉ này chọc tôi hoài, già rồi.

- Tôi thấy sao thì nói vậy. Đi trên đường ai không bảo là hai chị em. Bộ tôi nói oan cho chị sao!

Phụ nữ, ai không thích được khen dù biết rằng đôi khi lời khen ám định móc máy hoặc lừa dối, chọc chạch, nhưng họ vẫn cứ thích, cứ cố tin để tự tạo cảm nghĩ lừa dối chính mình. Nét mặt chị Tiên tươi rói.

- Mẹ để ở tủ lạnh, góc phải, phía trên đó.

- Cháu nấu món gì vậy Huyền; Tình hỏi.

- Dạ, cháu nấu canh mùng tơi ăn với cà ghém muối.

- Cháu học lớp mấy rồi.

- Dạ sắp hết lớp mười một; cháu học cùng lớp với Bân, con của chú mà.

- Vậy mà chú nhìn không ra, cứ tưởng em của mẹ cháu.

- Yeah, chú nói đúng. Mẹ cháu đẹp và dễ thương lắm. chỉ thích làm eo chút chút thôi.

- Con gái nói xấu mẹ nha. Chị Tiên mắng yêu.

- Con nói tốt mà; con khen mẹ đẹp nè, có duyên nè. Thôi đi chị hai, giọng Huyền kéo dài.

Mấy người vui cười thoải mái vì nét nhí nhảnh dễ thương của Huyền.

- Vậy cháu phải nói với ba cháu làm thêm một quầy tính tiền.

- Thưa chú, làm thêm quầy tính tiền để làm gì?

- Đó là ý kiến của mẹ cháu mà; sao lại hỏi chú.

- Vô nấu canh đi con.

- Ấy da! Coi chừng cạn hết nước canh rồi. Cháu xin phép các bác, các chú. Huyền cúi chào rồi bước vội, biến mất sau cửa vô bếp. 

Còn thấy được nét nhí nhảnh, ngoan thương, và lễ phép của lứa tuổi đôi tám, đôi chín nơi hàng con cháu, lòng dạ người lớn vượng lên niềm vui khó tả. Ai không biết; ai không kinh nghiệm nơi cuộc đời mình; ai không đang thực chứng hiện trạng đổi thay chẳng ngờ nơi thế hệ nối tiếp. Được sinh vào cuộc đời nơi một xã hội quá đầy đủ tiện nghi, muốn gì có nấy, nhưng lòng khát vọng muốn có được gì tự mình, hầu đối đầu với tâm tình tự ty, mình chẳng là gì, đã khiến giới trẻ lạm dụng cuộc đời, lạm dụng mọi phương cách thực hiện để chứng tỏ mình là gì. Dĩ nhiên, với tuổi đời mới lớn, kinh nghiệm sống chưa có, phương tiện thì không trong khi nỗi thao thức muốn trở thành “cái gì” liên miên thúc đẩy, sớm tạo thành nỗi thất vọng do cảm thấy bị bó tay, bó chân. Từ cảm nghĩ tự ty này phát sinh ước muốn giải thoát, và thế là tuổi trẻ dễ bị rơi vô trạng thái liều lĩnh. Thêm vào đó, diễn trình phát triển thân xác đang thời kỳ sinh vượng thúc đẩy mạnh mẽ ước muốn vượt khỏi tâm tình tự ty, giới trẻ lao mình vào bất cứ phương tiện nào có thể tìm quên được coi như giải thoát thường được cho là cảm giác hạnh phúc. Nếu có cơ hội, bất cứ gì kích thích cảm giác đều được giới trẻ hân hoan thử nghiệm, chẳng bao lâu biến thành nghiện. Niềm vui vô tư như kiến tạo một con diều, đẽo một con quay, làm một bộ khếch để tiêu hao thời giờ nhàn rảnh và có được niềm vui tự nhiên, nhẹ nhàng với chúng bạn không có cơ hội phát triển, lại được coi như quá ư thô sơ, man di mọi rợ, không thể so sánh với những phương tiện sẵn có, chẳng hạn chạy xe đạp, video games, phim ảnh, internet. Nhưng rồi mọi phương tiện sẵn có sao che lấp hoặc thỏa mãn nỗi tự ty “mình chẳng là gì,” con đẻ của nỗi khát khao muốn trở thành gì như một bẩm sinh nơi con người; nghiện hút và tình dục sẵn sàng nhào vô thách đố thử nghiệm. Một số giới trẻ đã tự tàn phá đời mình, đóng cửa tương lai để rồi trầm luân khó thể thoát ra khỏi cảm giác vui thú nhất thời này.

Thanh còn đang mơ màng suy tư nhận định hiện trạng giới trẻ phát xuất từ nét dễ thương, vui tươi của Huyền, con gái Tiên thì Tình nhắc,

- Đi thôi, rồi ề à lên giọng, “Khi đi vợ đã dặn rằng, đi mau về sớm không lằng nhằng, lang thang. “ Có lẽ hai bà ấy đang đợi về ăn trưa.

Thanh vội đứng dậy nói đôi lời tạ từ đoạn cùng Tình bước ra khỏi quán phở.


Đúng 5 giờ 30 chiều, Tiên lái xe tới, mang theo giỏ xách bước ra khỏi xe. Chị Thanh trông thấy lên tiếng hỏi,

- Anh còn gì cần phải đem vô không?

- Không có chi đâu chị, tất cả nơi chiếc giỏ này.

- Anh dùng chai bia nha.

- Khỏi đi chị, để tôi làm giấm cho kịp giờ. Nghe anh Thanh nói mọi sự đã đầy đủ.

- Em và chị Tình sẽ làm theo mệnh lệnh của anh. Tụi em muốn thực tập để nhớ cho dễ. Hôm nay, anh làm “supervisor” để tụi em làm nhân viên học nghề. Nhiệm vụ của anh chỉ là ngồi ghế uống bia và ra lệnh thế là mọi sự sẽ hoàn tất.

- Vậy lỡ tôi thất nghiệp thì sao? Ai bày ra phương pháp này.

- Còn ai trồng khoai đất này nữa anh. Đây là kinh nghiệm khi còn đi làm em đã nghĩ ra lúc phải “training” cho những nhân viên mới; nghề của nàng mà.

Chị Thanh mau mắn bước về phía trước, tiện tay nhắc chiếc ghế gấp đặt gần bên tủ lạnh, đoạn mở tủ lấy chai Heineken đưa cho Tiên đồng thời tay kia với chiếc ly đưa tiếp.

- Không cần ly đâu chị, tôi uống từ chai cho lạnh.

Nơi bếp, hai con dao được đặt sẵn trên hai chiếc thớt hai bên lò nấu. Chị Thanh bước ra ngoài kiếm chị Tình trong khi Tiên dùng bật lửa mở bia. Trở vô bếp với chị Tình, mỗi người đứng bên bộ dao thớt, chị Thanh lên tiếng,

- Mời anh ra lệnh.

- Phi hành, mỡ, trong đó có cả tỏi.

Chị Thanh đưa cho chị Tình mấy nhánh tỏi, đặt mấy củ hành hương nơi thớt của mình, đoạn mở tủ phía dưới lấy ra chiếc nồi khá lớn đặt lên bếp và xoay nút điện, đổ vô nồi ít dầu ăn rồi bóc hành, đập dẹp, thái nhỏ, hốt bỏ vô nồi đã được chị Tình bỏ tỏi cũng được thái nhỏ bỏ vô trước. Mùi thơm hành tỏi được phi từ từ lan tỏa ngập bếp.

- Thịt heo xay bỏ vô quấy đều, tôm bóc nõn, ít bột ngọt, sả, gừng, riềng băm nhỏ, nước mắm chừng một phần tư độ mặn. Lấy một nồi khác nấu cỡ bốn tô nước lạnh, mở lửa thật lớn, bỏ phần cá làm giấm vô. Chuẩn bị mắm tôm, ớt, bốn trái trứng đập vô chén, đánh tan.

- Tắt bếp xào tôm thịt khi đã chín, lấy nồi ra khỏi bếp cho mau nguội, chuẩn bị máy xay sinh tố. Lấy năm trái ớt, vặt sạch núm và nếu muốn giấm có mầu, bỏ vô cỡ ba muỗng canh tương ớt...

- Như vậy cay quá sao ăn, anh Tiên, chị Tình lên tiếng.

- Không sao đâu vì ớt bỏ vô mẽ sẽ bị chất chua làm giảm độ cay. Cá hình như vừa chín tới, vớt cá ra đĩa, dùng xiên gỡ lấy thịt cá bỏ vô nồi xào tôm thịt đoạn tất cả cho vô máy xay sinh tố, cho vô chừng hai chén con nước nấu cá cho dễ xay. Khi đã xay nhuyễn, cho mẽ vô xay tiếp cho đều, đoạn đổ tất cả vô nồi nước nấu cá, quấy đều. Lấy ba muỗng mắm tôm bỏ vô một chiếc tô thêm ít nước lạnh, thêm trứng vô, quấy tan, đổ vô nồi giấm. Hết việc, mất nghề, hai chị thử nếm xem đã vừa chưa, nếu nhạt, cho thêm mắm, đồng thời nếu còn lòng lẻo, lấy ít “Corn stark” hòa vô nước lạnh, quấy đều từ từ rót vô nồi giấm. Nhớ từng ít một sao cho giấm có độ đậm đặc vừa phải dễ múc, dễ ăn tránh cảnh cái đi đàng cái, nước đi đàng nước.

Mới độ hai mươi phút, nồi giấm đã hoàn thành, nóng hổi, được mang ra chia đều trên ba chảo điện nơi bàn ăn đã sắp sẵn bát đĩa, rau thơm, cá sống. Hai chai nửa galon Crown Royal ngạo nghễ giữa hai bàn tròn dành cho người lớn giữa hai hàng ly sạch bóng đượm màu xanh lơ duyên dáng vây quanh e có đứa trốn thoát bất kỳ lúc nào. Muỗng, xiên, giấy ăn nơi dãy do hai chiếc bàn dài kê tiếp nối cũng đã được chuẩn bị. Trên một chiếc bàn dài kê riêng biệt, nồi cháo cá to tướng kề bên chiếc khay phồng lên được bọc giấy nhôm âm thầm đợi đoàn quân khai phá. Chồng đĩa giấy, chồng tô nhỏ âm thầm như chuẩn bị năng lực chất chứa thực phẩm chờ đợi.


Năm phút trước sáu giờ tối, người lớn đã hiện diện đầy đủ quanh hai bàn tròn, đoàn quân nhóm trẻ mười mấy đứa ào ạt xông vô miệng líu lo thích thú; đứa câu được con cá to, đứa giật sẩy chú rùa. Trong khi người lớn bắt đầu rót rượu, nhóm trẻ xếp thành hai hàng hai bên chiếc bàn để riêng, từng đứa tự động lấy tô, đĩa giấy đựng thịt gà luộc và cháo cá. Mấy đứa lớn biết rắc hành hoa thái nhỏ và rau thơm, tiêu, tương ớt; mấy đứa nhỏ học theo; hình ảnh dễ thương liên hệ tới đặc tính dân Việt, chỉ người Việt mới biết ăn nhiều thứ rau thơm có thể trồng quanh nhà. 

 

Ah! Nhóm trẻ cũng thử cuốn gỏi, dẫn đầu bởi Huyền, con gái Tiên. Từng em, tay cầm lá được cuốn thành hình phễu, đứa trước, đứa sau thứ tự xếp hàng gắp đôi miếng cá sống bỏ vô, đoạn múc giấm đổ lên trên, tạo nên một hình ảnh trông tuyệt vời ấm lòng người lớn đang nâng ly thưởng thức gỏi Bắc kỳ nơi hai bàn tròn. Chị Tình có lý khi quan niệm tạo cơ hội cho trẻ quen biết nhau tránh trạng thái tâm tư đơn độc sau này có thể xảy ra. Giáo dục đâu phải chỉ là lý thuyết suông mà cần sáng kiến thực nghiệm, cần môi trường, cần suy tư nhận thức. Văn hóa nào phải là những tư tưởng chết, được ghi nơi sách vở, mà luôn biến chuyển, sống động nhịp nhàng nơi cuộc sống trãi dài từ thế hệ này được tiếp nối bởi những thế hệ đang vươn lên kiến tạo tâm tình hòa hợp với hiện trạng nơi môi trường cuộc sống. Trên báo chí, các phương tiện truyền thông, internet cổ võ, lý luận, giá trị rau cỏ ảnh hưởng sức khỏe và khuyến khích con người ăn rau. Dân Việt dùng lá thơm tăng nét thi vị ăn uống như một truyền thống bất thành văn. Chẳng cần phải khuyến khích, không cần biết giá trị hữu ích, nếu ăn bún với rau muống chẻ, không có lá kinh giới, ai không cảm thấy như thiếu vị gì quan trọng. Một tô phở tuyệt vời nhưng không có giá sống, húng quế, ngò gai, vài cọng hành hoa thì thà ăn cơm không dễ nuốt hơn. Thịt gà luộc thiếu lá chanh xắt nhỏ, muối, chanh, ớt, thà ăn gà chiên. Rượu mận giả cầy, hoặc cờ tây, hay thịt rừng mà không có riềng, sả, lá mơ, dấm hoặc me hay chanh thì cứ đem kho mặn cho được việc. Văn hóa được thể hiện phần nào nơi cách ăn uống quả thực không đơn giản, nhưng được mấy ai để ý. Ai không thuộc nằm lòng mấy câu ca dao, “Con gà cục tác lá chanh; con lợn ủn ỉn mua hành cho tôi; con chó khóc đứng khóc ngồi, mẹ hời mẹ hỡi mua tôi đồng riềng;” nhưng đã mấy ai nhớ lá chanh xắt nhỏ khi ăn gà luộc! (Kinh Việt Nam, Tục Ngữ, Ca Dao). Muốn được thực nghiệm, cần điều kiện liên hệ giữa cộng đồng người Việt.

 
Nơi một cuốn sách nào đó ghi lại tường trình nhận định về người Việt của một vị truyền giáo được chép rằng; người Việt có tiếng nói như chim hót. Từ tiếng nói, người Việt lại sẵn mang đặc tính dễ dàng hát và thích hát; bởi những cung trầm bổng của âm nhạc rất thuận với âm thanh giọng nói dân Việt. Bình tâm nhận xét, gia đình nào có máy  karaoke, con cái họ nói tiếng Việt sành sõi hơn gia đình không có. Dĩ nhiên, thích âm nhạc, thích hát, lâu ngày phát âm được cải thiện. Đàng khác, kinh nghiệm sống chứng minh, người biết hai ngôn ngữ sẽ có nhận định, nhận thức, rộng mở hơn người chỉ biết một tiếng nói; mà đâu mấy ai để ý! Tạ ơn trời, tạ ơn người phát minh ra hệ thống karaoke, tạ ơn những hãng sản xuất những giàn điện tử vô tình đem lợi ích cho người dân Việt tha hương. Phải chăng cuộc đời là cơ hội cho con người thăng tiến nếu để tâm nhận biết. Tất nhiên, bài học nào không phải trả giá, “Ai nên khôn không khốn một lần!” Đáng thương thay cho những tâm hồn không chịu suy nghĩ để rồi vô tình rơi vào ngõ hẹp nhận thức, biến cuộc đời mình thành con ếch nơi đáy giếng, coi trời bằng vung.


- Cái món tay làm, hàm nhai này khiến ai nấy bận rộn thành ra mấy đài phát thanh được phép nghỉ. Hưng lên tiếng sau khi vét sạch chén gỏi hổ lốn đính kèm một nhấp rượu. Công nhận phê! Nhưng nếu tôi không lầm thì nước giấm hôm nay thi vị hơn hôm nọ nơi quán phở. Có phải bác Tiên nhà ta có thêm bùa phép gì, xin làm ơn bật mí cho nhà cháu giữ làm của riêng; Hưng ít nhiều ảnh hưởng kiểu nói Sỹ nhà con.

- Chả nói giấu gì, hôm nay tôi lỡ thất nghiệp. Chị chủ nhà và chị Tình “ép” tôi ngồi uống bia để cổ võ cho chủ thuyết nam nữ bình quyền; tất nhiên thành quả trổi vượt hơn. Nào có lạ gì, “hai đánh một, chẳng chột cũng què,” thi vị hơn đâu có chi lạ. Đàng khác, cá hồng và sủ đỏ chắc chắn mùi vị ngon hơn cá hánh; thêm vào đó từ lúc giấm nấu xong, tôi nếm thử và nhận ra mùi vị thật đặc biệt nên vẫn giữ trong lòng; định sẽ hỏi mùi và vị đó ở đâu bởi khi tra mắm muối, tôi không thấy hai chị thêm vào bất cứ gì. Có lẽ chị Thanh làm ơn giải thích giùm.

- Thưa bác và quý anh chị, anh Tiên phán thế nào, chị em chúng con tuân thủ không mảy may sai trật. Để con lập lại diễn trình nấu giấm nhờ bác, ba, và quý anh chị, đặc biệt anh Tiên phân định xem sao; chứ chính con cũng không không thêm bớt gì và cũng chưa bao giờ nấu giấm mẽ ăn gỏi theo kiểu này. Trước hết, phi hành và tỏi, xào thịt heo xay với tôm đoạn thêm một tô nước nấu cá cùng thịt cá đã gỡ xương, cho vô máy xay sinh tố rồi đổ mẽ và bốn trái trứng vô xay nhuyễn. Con phải xay thành hai cối sau đó pha chung trong một nồi lớn với nước nấu cá đoạn thêm nước mắm, ớt tươi, ớt tương, mắm tôm. Sau khi đã đun sôi, giấm hơi lỏng con hòa thêm “Corn stark” với nước lạnh và từ từ trộn vô cho đậm hơn. Cuối cùng nếm hơi nhạt, con thêm vô một ít nước mắm. À con còn quên, có thêm một ít bột ngọt. Anh Tiên thấy có thêm bớt chút chi khác không?

- Tôi không thấy bất cứ mùi vị nào khác, chỉ thấy nó đậm đà; nói cách khác, phải dùng tiếng thi vị hơn nhưng không thể đoán được gốc gác nó từ đâu.

- Thôi em hiểu rồi, đó là mùi vị nước mắm bố làm. Từ ngày bố làm nước mắm, nhà em không ăn được nước mắm mua ngoài chợ vì nước mắm nhà làm đậm đà lại có hương vị thanh thoát hơn và không cần phải dùng nhiều bột ngọt. Chút nữa, mời bác và quý anh chị thưởng thức đặc sản cây nhà lá vườn với món giả nem thích Bắc kỳ.

- Nem thính Bắc kỳ có thêm sản phẩm giả nữa sao? Sỹ nhà con tay trái cầm cuộn lá, miệng lên tiếng hỏi trong khi tay kia khua đũa gắp cá.

- Số là nghe anh Thanh nói mời bác và quý anh chị thưởng thức gỏi và nem thính Bắc kỳ, nhưng em ngại heo bên Mỹ này ăn thực phẩm sống chứ không được nấu chín như bên Việt Nam ngày xưa; nên nếu dùng thịt thăn nhúng nước sôi như bên Việt Nam rồi thái ra trộn với bì theo kiểu Bắc kỳ hơi nguy hiểm. Em nói với bố; bố cũng nhận định chẳng nên; bởi lỡ ra thì phiền cả đám, nên bố đề nghị dùng chân giò luộc vừa chín tới, bóc ra thái mỏng trộn thính, chấm nước mắm tỏi ớt, ăn cũng như nem. Hôm đến nhà cố Ủi lấy chân giò làm nem, thấy chiếc đầu heo ngon ơi là ngon; em mua về định bó giò thủ; bố đề nghị làm ché Huế nhậu cho đã; chút nữa mời bác và quý anh chị thưởng thức thêm món ché Huế bố mới dạy em làm.

- Như vậy, nhà con đề nghị, mọi người ngưng ăn gỏi để thưởng thức nem thính Bắc kỳ giả và ché Huế; bao nhiêu gỏi còn lại, nhà con bao hết.

- Bao cũng chẳng hết được đâu ông ơi; có ăn như hổ thì món cá hấp, thêm nồi cháo cá, một mình ông bao được chăng!

- Thế sao đủ rượu? Được đàng voi, chòi đàng tiên, Sỹ nhà con đặt vấn đề khi thấy hai bình nửa gallon, mỗi bình chỉ còn lại một phần tư. Đến lúc này, gỏi cũng chẳng còn bao nhiêu.

- Ăn gỏi uống rượu cho điều hòa âm dương. Nem thính và ché Huế cần dùng bia giải nhiệt mắm tỏi ớt. Cá hấp và cháo cá trợ tim, bổ phổi, điều hòa tì vị giúp nhẹ nhàng trung hòa men rượu làm tỉnh trí, no lòng, ngủ ngon giấc, không giật mình dù bị khều khều cũng không tỉnh. Thanh vẽ hươu, vẽ vượn, nhưng nhớ khi bác thuyết trình, nếu ngủ gật làm ơn ngáy nho nhỏ một chút,Thanh nói háy bởi Sỹ đông con.

- Thì tớ đâu biết nấu cháo cá nên khá tỉnh ngủ, vả lại, mẹ nó cứ quen thói khều. Sỹ nhanh nhẩu đáp vì biết bị kháy nên nói trớ.

- Cái ông ma này, vợ Sỹ la lên, vậy mà cũng nói được! Tôi khều ông lúc nào.

- Thì lúc tôi sắp ngủ; phỏng mình bà mà mang bầu được à! Bộ dễ lắm sao; bao nhiêu người cầu chẳng được. Không cám ơn thì thôi lại còn ra bộ oan ức!

- Vâng, tôi phải cảm ơn, vợ Sỹ nói, đoạn phì cười.

Cả nhà rộn tiếng cười, cười no ruột; cười vì tính chất ngộ nghĩnh, trẻ con của đôi vợ chồng bạn bè trung niên.

Xắp nhỏ đã ăn xong, chị Thanh kêu ba đứa con của chị bật đèn ngoài sân trước và chia đội cho trẻ chơi bóng rổ trong khi chị đứng lên dọn ra nem, ché, và nước mắm tỏi ớt cùng với hai đĩa lá thơm đủ loại. Chị Tình chia cho mỗi người một chiếc muỗng sứ dùng để ăn cháo cá. Sau đó, mở lò nướng lấy ra hai con cá hánh lớn, nóng hổi đặt lên hai đĩa, mỗi bàn một con. Bia được anh Thanh chuyền mỗi người từ thùng đá lạnh.

- Tuyệt vời. Không được thưởng thức nước mắm cây nhà lá vườn kể như chết nửa đời người. Hưng lên tiếng. Chị Thanh nói đúng. Mùi vị đặc biệt của giấm là do nước mắm tự chế.

Đậm đà vị cá, hơi đặm dẫu đã được pha chanh, hương vị nhẹ nhàng quyện với mùi tỏi, chanh, ớt tạo nên sắc thái khác thường và trỗi bật, vượt hẳn mùi vị nước mắm nơi thị trường khiến ai nấy dường như trầm lặng thưởng thức.

- Bác ơi, chỉ tụi con làm nước mắm nghen. Ngon quá! Vậy mà bao lâu nay anh chị Thanh giấu nghề, không cho ai biết tí gì.

- Anh cả, có nên phạt một chầu không? Ai đồng ý giơ tay! Sỹ nhà con mở máy.

- Nên phạt tội giấu nghề.

- “Cái lầy pải pạt lắp pồ, pạt dất dzồi pạt dì,” tiếng nói của Phủ vang lên.

Ông Thung tới giờ phút này đã hòa đồng thực thụ với nhóm nhậu dân chủ đa số thắng tiểu số. Có lẽ, riêng hôm nay được thưởng thức món gỏi tuyệt vời, nem, ché với mùi vị đặc biệt của nước mắm đã nâng cấp ông lên uống được những ba ly (three shots) nên cũng hơi ngà ngà. Được hỏi ý kiến, ông hướng về Thanh lên tiếng,

- Sao khổ chủ; chú có ý kiến, ý bọ thêm bớt chi không?

- Thưa bác, thưa ba, con xin trình bày lý lẽ hợp lý hợp tình, theo nguyên tắc thăng tiến tâm linh, bác thường khuyến khích khi trình bày hành trình thức ngộ qua các chủ thuyết. Nếu con không lầm, nguyên tắc đầu tiên là phải đối diện thẳng thắn với chính mình để nhận thực con người của mình, nhận thực bản lai diện mục của mình như Lục tổ Huệ Năng đề xướng hơn kém hai nghìn năm trước. Thứ đến lại cần phải tâm niệm lời dạy của Đạt Ma sư tổ và triệt để áp dụng từng giây từng phút nơi cuộc đời mỗi người; hầu thúc đẩy và tạo năng lực phát triển tiềm lực thức ngộ; bằng cách mở rộng tâm hồn đón nhận mọi thực thể tâm linh có thể xảy đến hầu nhận thực chân lý, và tránh thoát bản năng ỷ lại để rồi đóng cửa tâm hồn, do e sợ sai lầm, và đó cũng là phương pháp hạn chế tội độc nhất, tội vô minh. Cháu trình bày những nguyên tắc và lý do như thế phỏng đã đủ nền tảng chuẩn bị cho câu trả lời chưa ạ? Bác và quý anh chị xin cho biết nhận định.

- Đủ gồi, đủ gồi, Sỹ nhà con gào lên. Có gì thì nói toạc móng heo ra; lần phạt thứ nhất nhậu gì; lần phạt thứ hai uống chi. Ăn uống đâu cần lý lẽ hợp lý, hợp tình, ý kiến, ý bọ. Ý kiến đâu có thể khiến lòng ruột sửng sửng, lý lẽ sao thi vị bằng nước mắm cây nhà lá vườn. Hành trình tâm linh, thức ngộ cũng như giải thích bữa ăn, đâu no bụng được. Chỉ nhậu mới phê, mới nâng tâm hồn vượt lên trên cõi tâm linh.

- Chú Sỹ, mời chú im lặng để nghe bác trả lời chú Thanh. Bộ chú muốn bị phạt thế cho chú Thanh sao.

- Nhà con sẵn sàng, đâu có sợ. Tuy nhiên, làm như thế là cướp cơ hội thăng tiến của khổ chủ; sẽ khiến khổ chủ bị luẩn quẩn trong vòng luân hồi không thoát ra được nên nhà con đâu dám. Cái hương vị đạt ma này thế mà có lý ra phết. Bởi vậy, nhà con xin ngồi im, he he, cháu xin mời bác ạ.

- Anh Thanh, theo anh trình bày điều kiện dùng lý lẽ và nguyên nhân trình bày câu trả lời cho hợp lý, hợp tình, có lẽ chú Sỹ nhà con sẽ được phép cướp cơ hội thăng tiến tâm linh một cách hợp lý hợp tình chăng! Mời anh trình bày đối kháng.

- Thưa bác, thưa ba, Thanh lấy giọng nghiêm chuẩn lên tiếng. Thứ nhất, con chưa bao giờ học nghề đánh tôm, bắt cá. Thứ hai, nhà trường cũng chưa bao giờ dạy con đánh bắt tôm cá mà chỉ dạy con nghề điện tử. Thứ ba, nghề của con là điều hành cơ sở truyền thông dẫu học về điện. Thứ bốn, con không làm nước mắm mà ba con và nhà con làm. Thứ năm, giả sử dẫu biết làm nước mắm, cổ nhân đã dạy, “Cho bạc cho vàng, không ai đọc đàng đi buôn.” Mặt khác, các anh các chị đa số làm nghề đâm Hà Bá, đánh tôm bắt cá, nên biết rành rẽ cơ hội, và những ngành nghề liên hệ đến tôm cá. Hơn nữa, các anh chị đã cố tình ấp ủ và cố thủ tội vô minh, không chịu thử, không mở rộng lòng để tìm hiểu, đặt vấn đề, hầu cải thiện phẩm chất nước mắm mình dùng hằng ngày, lại cứ đóng cửa tâm hồn, để rồi ỷ y cho rằng không thể làm gì hơn vì đã có nước mắm tốn tiền mua tức là cố tình phạm tội vô minh; bởi tội lỗi do sự ngu dốt, không chịu suy nghĩ mà ra. Thế nên, nếu xét xử theo lẽ thưởng phạt, có công tất nhiên được thưởng, và có tội tất nhiên bị phạt; những anh chị cho rằng nước mắm tự chế thưởng thức tuyệt vời, thi vị, đều bị phạt để thưởng công cho những người kiến tạo cây nhà lá vườn. Con xin hết ý. Mời anh cả làm trọng tài tuyên án.

- Vậy thì tôi cũng bị phạt rồi; bởi tôi cũng khen nước mắm ngon. Ông Thung chợt đưa ra nhận định. Chú Sỹ, chú được phép cướp cơ hội thăng tiến tâm linh của anh chị Thanh; những anh chị em khác cũng lãnh đủ luôn. Ai phản đối, bị phạt gấp đôi. Trọng tài tuyên án. Ai bàn nhăng, tán cuội cũng bị phạt gấp đôi. Quả là chẳng bắt trộm được gà lại mất thêm nắm thóc. Ngón đòn gậy ông đập lưng ông không biết có được coi là bài học thức ngộ chăng!

Tuyên án lại cũng nhận án. Nói thì nói thế, ông Thung biết nào có ai sợ bị phạt mà ngược lại, ai cũng hồ hởi nhận phạt nên những nét mặt tươi rói, và bia vẫn cứ mở, đũa tiếp tục múa, chèo kéo nem, ché, cá hấp, và đồng thời muỗng sành khua lanh canh vô chén như e sợ nồi cháo cá không chịu cạn.

Lúc này, thằng con lớn của anh chị Thanh đã bật giàn karaoke lên và thử micro, keyboard. Huynh đến từ New Orleans và Tính thuộc ca đoàn cũng đang chuẩn bị nhạc cụ. Thanh đứng lên nói,

- Thưa bác, thưa ba, thưa anh cả, nhân dịp có sự hiện diện của bác, ba, anh cả và quý anh chị em, đồng thời tháng này cũng bao gồm bốn ngày sinh nhật của bác, ba, anh cả, và nhà con. Thế nên, bữa cơm rau muối cũng tạm gọi là tiệc mừng sinh nhật của bốn người. Riêng bánh mừng sinh nhật, cỡ chừng một tiếng nữa sẽ có người mang đến vì lúc này vừa được nướng xong và đang được trang trí cho thêm phần tươi mát và trang trọng. Bây giờ để thay đổi bầu không khí trong tiệc mừng sinh nhật và cũng để giải buồn cho những ai vô tình mắc tội vô minh, con xin được mời một trong những vị có ngày sinh nhật nơi tháng này trình diễn nhạc sống. Hướng về chị Thanh, anh nói, “Xin mời em.”

 

Mọi người vỗ tay hào hứng. Anh chậm bước tới cây keyboard; đứng kèm hai bên Thanh là Huynh và Tính; người đeo cây saxo, kẻ khoác cây guitar.

- Thưa ba, thưa bác, thưa anh cả, chị Thanh nhỏ nhẹ, nói về hành trình tâm linh, bước đầu tất nhiên cốt cán là nhận biết chính mình. Một trong những khía cạnh để nhận biết chính mình là hồi tâm để đối diện cuộc đời. Con xin trình bày bản nhạc đầu tiên để mừng sinh nhật ba, bác, và anh cả; đó là bài Hành Trình, tác phẩm do anh Thanh soạn đã khá lâu.

Âm thanh saxo réo rắt trổi lên giữa giàn âm thanh của keyboard cùng với tiếng đệm guitar, tràn ngập phòng như lấn át, kéo tâm trí mọi người chú ý. Và giọng nhẹ nhàng quyến rũ nặng phần kể lể, hồi tâm nhận định thân phận, “Vào cuộc đời tôi đi, tay trơn bóng chiếc” của chị Thanh chen vô như nhắc nhở mọi người hãy nhìn lại cuộc đời mình. “Xin, cho tôi xin được một lần nói lời trăn trối,” tiếng hát chợt nổi lên cao vút chẳng khác gì lời kêu van tận cùng của một kiếp người la lên từ cõi trói buộc vô phương đào thoát chỉ còn biết tắc nghẹn, than van trước khi buông xuôi, giã từ tất cả. Ai đã chưa bao giờ phải đối diện với thực thể cuộc đời như một vết hằn tâm tưởng, “Những gì làm tôi mê say là cội nguồn tạo niềm chua cay. Bao điều yêu dấu đã trở thành lưỡi dao ngọt đâm thấu tim tôi!” Người ta đâu cần biết tác giả đã nghĩ gì, kinh nghiệm những gì khi viết ra bài hát. Hình dáng thanh bai, duyên dáng dưới ánh đèn mờ ảo cất lên lời tâm sự hòa nhập âm thanh saxo, và đúng thời điểm nào đó, xoáy vô lòng người; tiếng guitar chẳng khác mũi tên nhắm vô nỗi lòng xuyên qua tâm trí. Hòa âm piano từ keyboard dồn dập đập mạnh giữa làn âm thanh strings ngậm ngùi nức nở, dường như thúc đẩy sự co thắt của lòng ruột khán thính giả hùa theo giọng hát van xin, “Xin, cho tôi xin được một lần nói lời trăn trối.” Chị Thanh rướn người, tay cầm micophone, tay kia giơ lên, ngửa cổ chẳng khác gì cố gắng ép hết tàn hơi của một người rơi vào cảnh cùng cực cuối đời, gào lên lời cuối. Hình ảnh ấy, những âm thanh ấy hòa quyện thu hút tâm tư mọi người về một mối; ôi thân phận con người, vào đời đơn độc ra đi lạnh lùng. Bao bon chen tranh sống, bao thắng lợi cũng như chua cay nơi cuộc đời, cuối cùng cô đọng lại cũng chỉ là vết hằn tâm tưởng, nỗi đau đeo đẳng kết quả của lưỡi dao ngọt cuộc đời xuyên thấu qua tim như thân phận kiếp nhân sinh. Ôi bao mơ ước, bao viễn ảnh, đều chìm vô quá khứ tô đậm nỗi thao thức mờ mịt, mông lung. Nào ai biết mình sẽ đi về đâu vì bản án tử tội được khoác lên ngay từ lúc mới sinh; không kẻ nào tránh thoát khi tới thời điểm kết cục. Phỏng cuộc đời là áng mây trôi lạc lõng về miền hư vô. Nếu cuộc đời chỉ là hư vô sao nỗi đau nhân sinh vẫn âm thầm gậm nhấm, sao niềm thao thức, khắc khoải nào đó luôn luôn dằn vặt tâm tư chẳng hề ngưng nghỉ!

Chị Thanh cúi chào khi chấm dứt bản hát trong lúc mọi người vẫn còn như đang trong giấc mộng. Tiếng vỗ tay cổ võ của Sỹ nhà con bùng lên ngay lúc giòng âm thanh chấm dứt khiến ai nấy chợt tỉnh hùa theo vỗ tay.

 - Bis, bis, mấy người la lớn giữa âm thanh tràng pháo tay đương thịnh. Chị Thanh tươi cười cúi chào lần nữa, đoạn giơ tay trấn áp cảnh ồn ào. Mệt quá, cho em nghỉ, xin mời quý anh chị tiếp tục.

 

Dĩ nhiên, thần thiêng cũng phải nhờ bộ hạ. Có được âm thanh nhạc sống, chị Thanh hát với hết tâm tình và năng lực của mình, quả thực sống động thu hút toàn bộ lòng ruột khán thính giả. Không ai có thể ngờ diễn xuất của chị qua bài hát lại tuyệt vời như thế khiến mọi người ngạc nhiên và hồ hởi. Dẫu quá quen với những tối cùng nhau hát xướng karaoke, nhưng tối nay hình như ai nấy cảm thấy đặc tính nào đó của nghệ thuật thứ bảy mang tâm tình mới mẽ mơ hồ nơi tâm trí. Xưa nay, hát thì hát, giữa chốn bạn bè thân quen cùng nhau hát để giải trí, để có được đôi phút quên trời, quên đất, quên tất cả những phiền hà tâm tư hầu vui chơi với những bạn bè đồng trang lứa. Lúc này, nhận thức về thân phận con người được lồng vào thế giới âm thanh du nhập lòng người đã kích động tâm trí chẳng khác gì cơn mưa bất chợt đổ xuống miền tâm tư khô cằn nắng hạn, khơi nguồn sinh khí hồi tâm nhận định cuộc sống. Qua sự trình diễn của chị Thanh, nổi lên nơi lòng mỗi người nhận định chẳng ngờ về nhận thức thâm trầm của Thanh đã bao lâu ẩn tàng không được mấy ai nhận biết, nay hiện rõ nơi lời ca của bản nhạc được sống động trình bày.

 
Tối nay, nhạc sống thay thế nhạc chết karaoke tăng thêm phần sinh khí cho nhóm nhậu. Người hát cảm thấy yên tâm hơn không phải lo lắng lỡ nhịp; bởi chẳng may lỡ nhịp, các nhạc công du di vớt vát thành ra quý tài tử bất đắc dĩ tha hồ vung vít múa gậy vườn hoang, và ai cũng có được cảm nghĩ hài hòa tâm tưởng bởi những tràng pháo tay tán thưởng khuyến khích. Có điều hơi lạ và đó là các nữ ca sĩ đêm nay mạnh dạn và điềm đạm hơn hầu hết nam ca sĩ mang nặng đầu óc ngà ngà vì men bia rượu. Không hiểu có phải họ bị khớp bởi màn trình diễn ca khúc Hành Trình do chị Thanh hay chăng, hoặc nhờ hơi men kích thích khiến họ mở rộng lòng cho lời tình tự nhận thức về cuộc đời từ lời ca thẩm thấu mà thái độ trầm hẳn, đối nghịch với những lần hát karaoke sau khi tâm trí lãng đãng do men rượu bia ảnh hưởng. Những lần trước, khi men bia rượu sừng sừng, giàn máy với hai chiếc loa tổ bố được mở hết cỡ, các nam danh ca gân cổ thi nhau hét; hình như men rượu gợi lại cảm nghĩ thân phận chẳng là gì nên cố thi đua với giòng âm nhạc ào ạt tuôn ra như muốn phá bung nóc nhà. Hai thùng loa với một người gào thét, thi đua chẳng để ai nói, ai nghe, nhất là kẻ hét; bởi dẫu hét to đến mấy thì một cái miệng qua hệ thống thu nhận hạn hẹp của micro cũng không địch lại hai chiếc loa hết cỡ phóng xuất. Mở nhạc vừa phải cho giọng hát nổi lên thì những cái đầu tơ lơ mơ không cảm thấy hứng đủ để hát. Thế nên, càng hét thì lại càng chẳng nghe thấy mình hét gì nên lại càng cố hét.

Hứng hét hình như mang đặc tính trớ trêu thế nào ấy. Nam danh ca khật khưỡng dẫu chụp được micro hay bị đẩy lên trình diễn, trình thì có mà nhiều lúc diễn thì không. Có những khi cơn hứng bất tử nổi máu lễ độ, diễn viên thưa bẩm tứ lung tung một cách thừa thãi; thêm vào đó giải thích nguyên nhân tại sao thích bài hát sắp diễn trình, đôi khi vô tình phanh phui những lầm lỗi cố tình che giấu đã bao năm nay để rồi ngây ngô bào chữa. Nơi nhóm bạn bè quen biết, cá đối bằng đầu, thế là những lời bàn vô, tán ra, chủ ý vẽ rắn thêm chân nhào nháo như đàn o­ng vỡ tổ, được phụ họa bởi nhận định thiên lệch về thực thể dân chủ tự do khiến cho sự rối ren càng thêm rắc rối, quân hồi vô phèng. Được cái, không ai để ý đến những chuyện nhỏ nhặt đôi khi phát sinh đôi chối. Bạn bè mà! Đã là bạn lại cùng một bè nên mọi sự đều được xí xóa dẫu chẳng hiểu có ai học được kinh nghiệm thăng tiến hay không. Và thường thì mỗi ca viên trình diễn hai bản nhạc. Ôi! Đầu óc đã ngất ngưởng thì nhịp hát cũng lung lay thành ra tạm gọi trình diễn lại trở thành hứng diễn. Thích vô thì vô, hứng ngân cứ việc kéo dài cho đã hơi men. Có lẽ phải sáng tạo thêm danh hiệu cho loại trình diễn này; thôi thì tạm gọi là men hát. Riêng tối nay, các nam ca viên sửng sửng chẳng kém chi những lần tụ tập kỳ trước; thế mà họ lại thừa thanh lịch tạo thế âm thịnh dương suy. Đã hai chị lên hát, vợ Sỹ nhà con và vợ Tình tiếp nối chị Thanh mà bên phái nam vẫn chưa thấy ai rục rịch. Khớp rồi chăng!

- Phe ta phải làm sao đi chứ, ông Thung lên tiếng, chẳng lẽ cứ để phái yếu thắng thế thì còn gì mặt mũi bầu cua. Chú Sỹ, chú Tình, chú Phủ, chú Hưng, sao mà nhịn giỏi thế?

- Chủ nhà chưa lên tiếng, ai dám múa gậy vườn hoang! Sỹ trả lời. Anh chàng ngổ ngáo sao hôm nay biết lễ độ đến thế!

- Thôi thì chú Thanh dẫn đầu tàu, ông Thung hướng về Thanh đề nghị.

- Thưa bác, thưa ba, cùng anh cả và quý liệt vị, nhà cháu mượn tiếng mừng sinh nhật bốn vị xin trình bày bản Gà Tơ Mắm Gừng. Quý vị cũng biết, bất cứ những gì quá độ đều khiến người ta đau. Nói theo Nguyễn Du, “Đoạn trường ai có qua cầu mới hay” (Kiều), và lẽ đương nhiên, chỉ những ai ở trong chăn mới biết chăn có rận, thật khó kiếm người cảm thông.

Thanh nói nhỏ với Huynh và Tín, nhạc nổi lên, và anh tửng tửng hát. Khi hát đến lượt thứ hai, đám phái nam dường như choàng tỉnh. Vừa hết bài hát, Sỹ nhà con bô bô lặp lại một câu thơ Trần Tế Xương, “ Vuốt râu nịnh vợ con bu nó,” và thêm, khều khều bị nó đạp ngang hông. Hắn tiếp tục điềm nhiên xuất khẩu, thịt gà ăn lắm cũng chán chường; vợ già ngắm mãi sao mà thương. Và thế là tổ o­ng lại vỡ; kẻ bàn ra; người tán vô, bỗng chốc ồn ào như cái chợ.

- Bis, bis, Sỹ gào lên. Một bản chỉ mới thử giọng. Yêu cầu chủ nhà hát tiếp. Âm thanh nhạc sống tương đối nhỏ nên mọi người có thể nghe rõ lời yêu cầu.

- Thể theo lời yêu cầu, nhà cháu bị hát dẫu hôm nay giữ chân nhạc công, nhà cháu xin gửi đến bác, ba, và anh cả cùng quý vị bản nhạc với tựa đề Tình Yêu. Bản này nói lên thi vị của tình yêu có lẽ quý vị đã bao lâu nay tận hưởng; đặc biệt anh chị Sỹ nhà con. Tác giả của bài thơ chắc cũng trần thân cảm nghiệm thú đau thương đầy thi vị của thực thể được Lão học mệnh danh “Người biết không nói; kẻ nói không biết;” riêng nhà cháu lại càng không biết. Mời quý vị thưởng lãm. 

Lời ca bản nhạc Tình Yêu vừa chấm dứt, ông Thung đã vội vã thúc giục,

- Chú Sỹ, lên thôi đừng để phía mày râu mất mặt. Quả là “gần mực thì đen,” lại thêm ba cữ rượu hòa hợp với gỏi cá, cháo cá, nướng cá, nem, ché, khiến mát lòng mát dạ nên ông Thung hôm nay có vẻ hồ hởi cổ võ phái nam lên đài.

- Giời! Nào có mặt đâu mà mất. Sao anh cả không lên đi. Chợt ý nghĩ quậy phá nổi lên, hắn hô lớn, tôi đề nghị anh cả trổ tài. Bao lâu rồi anh cả giấu tài chuyên môn xít chó bụi rậm. Hôm nay đề nghị mọi người yêu cầu anh cả lên đài mở máy.

Cái chợ đang yên lành lại trở nên ồn ào. Mọi cái loa bên phái nam đều góp tiếng, mấy khi có dịp vui đẩy người vào ngõ bí, may ra có được đôi phút ngỡ ngàng.

- Các chú đa số, tôi chỉ là thiểu số.

- Dạ, chúng em đa số đề nghị, và bầu cử anh cả lên đài.

Ông Thung chẳng đặng đừng bước tới cầm micro lên tiếng,

- Lên thì lên. Cuộc đời này chưa ai sợ thằng này; ai nhất thì tôi thứ nhì; ai mà nhất nữa tôi thì thứ ba, chưa chết thằng tây nào.

Loạt âm thanh vỗ tay cổ võ nổi lên càng thêm ồn ào.

- Dô! Anh cả! Ở nhà nhất mẹ nhì con, ra đàng lắm kẻ còn dòn hơn ta, Phủ đế vô. Có cần chị cả phụ diễn làm thợ vịn lấy can đảm không? Hôm nay chị Thanh cố mời cho được chị Thung tham dự.

Chẳng ngờ, ông Thung lại hướng về phía vợ tửng tửng,

- Em ơi, tới đây xích gần anh chút nữa, ông lên giọng cải lương, cho tâm hồn anh hồi tưởng niềm lưu luyến phút ban… đầu...

Pháo tay nổ vang, cảnh ồn ào càng thêm hỗn loạn. Không ai ngờ được con người luôn đạo mạo hôm nay bỗng mở màn xả láng.

- Tôi xin hát bản,

- Không được, phải trình bày!

- Ừ thì trình bày bản nhạc, Xin Đừng Coi Tôi Như Kẻ Lạ. Tôi chỉ có một bài tủ ruột mà thôi, không bis không biếc. Anh em đồng ý thì tôi hát, không đồng ý thì tôi xuống.

- Đồng ý! Đồng ý! Có còn hơn không, có còn hơn không. Sỹ nhà con lớn tiếng ngâm nga và lên giọng,

- Yêu cầu cho anh cả tràng pháo tay.

Ông Thung nói nhỏ với Thanh, Huynh, và Tính. Âm nhạc nổi lên và ông cất giọng trầm trầm, “Hỡi những người đang sống quanh tôi...”

Mọi người ngạc nhiên vì chẳng ngờ ông Thung hát rất vững hòa hợp với cung điệu trầm buồn của bản nhạc như than thở, thiết tha, diễn tả nỗi lòng nhận thức thân phận cô đơn nhân sinh. Lời hát nói lên tâm trạng đối diện với lòng để nhận chân thực thể tâm hồn không giấu diếm, che đậy hầu mong tạo dựng liên hệ tình người. Dáng vẻ ông Thung phần nào hòa với âm nhạc; tiếng hát diễn tả nỗi âm thầm thao thức cộng thêm nét bơ vơ, lạc lõng giữa dòng âm thanh tạo nên cảm nghĩ như câu nói nào đó phảng phất trở về nơi tâm trí kẻ nghe, “Cô đơn giữa chốn đông người.” Chị Thanh cảm thấy lòng bâng khuâng, hình như nhận thức được điều đặc biệt nào đó về nghệ thuật trình diễn. Thực ra, được mọi người nhiệt liệt cổ võ sau khi hát bài Hành Trình; câu hỏi phát sinh nơi tâm trí của chị, họ nhiệt liệt cổ võ để khuyến khích hay vì lý do gì, chị tự hỏi. Tất nhiên, khi men bia rượu sừng sừng thì ồn ào, náo nhiệt đến độ lộn xộn đều là chuyện bình thường giữa chốn bạn bè quen biết; bởi ai cũng cảm nhận được tâm tình rộng mở không xét nét, chấp chiếm mà cảm thông, an hưởng niềm vui thoáng qua. Chị để ý nhìn; ông Thung có cử điệu rất bình thường, nếu không muốn nói là ông không để ý đến cử điệu lúc hát; mà phản ứng hoặc cử điệu của ông tùy thuộc tâm tình như phản xạ, hoặc diễn tả tâm tình chất chứa nơi lời hát. Hình như ông hòa nhập tâm tình vô bài hát. Từ nhận xét này, chị hiểu lý do tại sao được nhiệt liệt cổ võ sau khi chị hát. Chị đã hòa nhập tâm tình của chị vô bài hát, và thực sự phô bày nó qua giọng hát. Lúc ấy, chị không để ý đến cử điệu của mình nên hay không nên thế nào; mà chúng chỉ thuận theo tâm tình của lời hát phù hợp với âm nhạc. Chị đã hiểu được nên thế nào nơi nghệ thuật trình bày hát xướng.

Chị Thanh vỗ tay lớn nhất khi ông Thung hát xong. Chị vỗ tay cổ võ chính mình bởi nhận ra được nguyên tắc căn bản trình diễn âm nhạc. Chị Thung ngỡ ngàng, không ngờ ông Thung hát hay như thế bởi chưa bao giờ chị thấy ông hát với giàn nhạc. Mấy tên phá phách nhất lại càng ngỡ ngàng hơn. Họ cứ tưởng xưa nay ông Thung bề ngoài có vẻ đạo mạo như thế thì sao hát có thể hay. Nghệ sĩ thì tâm tính phải lãng đãng; ai không nghĩ thế; vậy mà ông Thung hát phê hết nước chê. Những tay chuyên nghiệp hát karaoke đành phải chấp nhận tự mình hạ đài nơi tâm tưởng. Dù không biết hát, bình thường ai cũng dễ hòa nhập tâm tình của mình với âm nhạc tùy theo cảm ứng. Ngoại trừ trường hợp đặc biệt, đa số người Việt dễ dàng hát theo nhạc karaoke dẫu biết nhịp nhạc hay không. Thì nào có khó chi đâu, nghe riết rồi cũng hát được; một bản nhạc nghe cả trăm lần ai mà không thuộc, phương chi lại thích hát. Nhạc đã có sẵn, chỉ việc bỏ đĩa hát vô máy, tha hồ mà véo von.

Ngoại trừ lần đầu tiên ông Thung hát, người ít hát nhất là vợ Phủ. Chẳng hiểu sao, sau khi hát, ông Thung lên tiếng mời vợ Phủ.

- Hôm nay em không hát được bởi chưa sửa soạn gì. Vợ Phủ từ chối.

- Tôi mà hát được thì bất cứ ai cũng hát được. Mời chị, nếu chưa kịp sửa soạn thì hát bài tủ chưa ai nghe, mới người, cũ mình nào ai biết đấy là đâu!

Chị Thanh ôm cánh tay chị Phủ nhỏ nhẹ, ông ấy nói đúng đấy, cũ người mới ta, cũ ta mới người, cứ hát phứa đi nào ai để ý; đoạn nhẹ đẩy chị Phủ tiến dần tới ông Thung để chị đón lấy micro.

- Thưa hai bác, các anh các chị, xưa nay em rất ít hát nơi công cộng; mà mỗi khi hát ở nhà thì anh ấy cứ giành lấy mà hát nên không có cơ hội phát triển. Em định đi Cali kiếm ông bầu tập dợt nhưng nhà em không chịu thành ra cứ ấm ức hoài.

Chị này xưa nay ít nói sao bỗng dưng giả đò tố khổ chồng; mọi người nghe chị nói diễu diễu phá lên cười ủng hộ. Sỹ nhà con đế vô,

- Chị khỏi cần đi Cali, tôi xung phong làm ông bầu.

- Cái ông ma này, để nghe chị ấy nói; cái gì cũng cứ đế vô. Chị Sỹ lên tiếng ngăn chồng.

- Anh đâu biết đánh đàn nên đâu thể làm bầu. Chị Tình ngồi bên chọc Sỹ.

- Ai nói tôi không biết đánh đàn. Bộ đàn bà không phải là đàn sao!

- Cái ông ma này, nói bậy! Chị Sỹ nói.

- Bộ tớ nói sai sao.

- Già rồi mà chưa nên nết, không nói được câu nào đứng đắn; không sợ người ta cười cho. Thôi im đi nghe chị Phủ nói.

- Xin cảm ơn anh Sỹ đã có lòng. Nhân tiện ngày vui, cháu xin gửi tới hai bác và anh Thung cùng với chị Thanh bài hát Nỗi Lòng tạm gọi là mừng sinh nhật. Chị quay lại nói với Thanh đôi câu. Tiếng nhạc trổi lên ngập phòng, và chị cất tiếng hát. 

Hết ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác. Một chị Thanh đã khiến thiên hạ sững sờ; thêm ông Thung làm chẳng ai ngờ, bây giờ lại chị Phủ. Phỏng rằng tại nhạc sống hay tại tài năng, không ai có được câu trả lời trung thực. Nhưng nghi vấn chỉ giới hạn nơi tâm trí phụ giúp cho tâm tình vui tươi. Có điều, phải công nhận ba nhạc công thật giỏi; nhờ khả năng âm nhạc, họ biến ca sĩ karaoke thành những diễn viên sống động.

 

 

 

 

 

 

CHƯƠNG 5

 


Thời giờ hình như trôi nhanh khi niềm vui tràn lấp. Mới thoáng chốc mà một tiếng rưỡi vụt qua, nửa tiếng ăn nhậu và một giờ văn nghệ; tiếp nối là thời điểm bàn thảo tâm linh theo chương trình đã được quy định của nhóm từ thuở ban đầu. Những người muốn hát thì đã trình diễn hết lượt; ai cũng hài lòng với giàn nhạc sống, nhất là với những tràng pháo tay, những lời cổ võ. Ông Thung trở lại thái độ điềm đạm, nghiêm chỉnh cố hữu, tiến tới đón lấy micro, nhẹ giọng nhắc nhở,

- Thưa hai bác và quý anh, quý chị, được lòng ưu ái của anh chị Thanh với nhã ý đón mừng ngày sinh nhật của hai bác, chị Thanh và tôi; chúng ta đã có những giây phút tuyệt vời. Riêng tôi rất cảm động vì đây cũng là lần đầu tiên được chúc mừng ngày sinh nhật. Quý vị đều biết, người Việt chúng ta không để ý đến ngày sinh ngoại trừ lúc còn thơ ấu, được ghi nhận những ngày thôi nôi, đầy tuổi, đôi dịp đặc biệt như cưới hỏi, đỗ đạt trong cuộc đời. Chúng ta chỉ để ý kỷ niệm ngày từ giã cuộc đời của những vị đã có công sức bồi đắp cho gia đình, giòng tộc mong tưởng nhớ và ghi nhận thành quả của các ngài mà chúng ta đang được thụ hưởng. Thế nên, đặc biệt tối nay, chúng tôi chân thành cảm ơn anh chị chủ gia đã cho ăn ngon, khuyến khích các chị mặc đẹp, lại bày ra đàn địch sống động giúp chúng tôi hát hay hơn hay hát, hy vọng từ nay chúng ta có thêm truyền thống dễ mê khó chừa này. Và bây giờ, tôi xin được công bố chương trình đàn địch, hát hỏng tạm ngưng để tiếp tục với tiết mục tâm linh do cụ Tài đàm luận hy vọng giúp mỗi người chúng ta minh triết, thức ngộ. Nếu có ai nhờ cơ hội này đốn ngộ thì càng tốt.

- Đốn ngộ thì chưa đâu, nhưng đốn bia thì chắc như bắp. Sỹ nhà còn hai tay cầm bốn chai bia bỏ lên bàn miệng lè nhè.

Bia được chuyền đến những ai muốn uống tiếp, và mọi người, kẻ thì dùng hộp quẹt bật nắp chai, kẻ sắp xếp lại lối ngồi cho ngay ngắn, hay phưỡn ra, dựa vô lưng ghế một cách thoải mái.

- Chào quý anh chị, cụ Tài lên tiếng. Trước hết tôi có lời cảm ơn anh chị Thanh đã có nhã ý mừng sinh nhật, và cũng xin cảm ơn tới quý anh quý chị đã tham gia khiến chương trình ca nhạc thật sự sống động và vui tươi khuyến khích lòng người. Tối nay, chúng ta bước vào cảnh giới mới, những thực nghiệm giao hòa của Ấn học và Phật học đã mấy ngàn năm được áp dụng nơi Tây Tạng, được gọi là Mật Tông Tây Tạng.

Cụ đưa mắt nhìn qua một lượt thấy mọi người yên lặng chăm chú lắng nghe, lòng cảm khái thầm nghĩ, giữa cảnh ăn nhậu, hát hò vui vẻ, ồn ào mà buông bỏ hết để chú tâm nghe, khiến cụ thấy an ủi. Đã bao lâu nay chuyên tâm suy tư đồng thời nghiệm chứng hầu thỏa mãn khát vọng thầm kín luôn dằn vặt tâm tư, cảm thương cho biết bao con người sinh ra, lớn lên và qua đi không biết mình được sinh ra để làm gì, mục đích cuộc đời không dám nghĩ tới bởi không hiểu tại sao được sinh ra làm người nên đành chấp nhận đã được sinh ra thì phải sống, sống chờ chết dẫu bao thăng trầm nơi kiếp nhân sinh dằn vặt, và dù biết rằng sẽ phải chết, nhưng ai cũng ngại ngùng khi nghĩ đến cái chết. Và bao thế hệ đã qua đi, qua đi mà vẫn không hiểu tại sao mình có kiếp người. Giỏi lắm và may mắn lắm, ai đó được cuộc đời ưu đãi, làm ăn khấm khá, tương đối đỡ chật vật kiếm miếng cơm manh áo và sống đến bẩy, tám mươi tuổi, khi sức đã mòn, không còn mơ ước bởi nhận biết có ước mơ cũng chẳng còn năng lực thực hiện, đồng thời nhận ra kết cuộc cũng phải ra đi tay trắng mà vẫn không nhận biết sống để làm gì, đành tạm than lên sống để chờ chết, mỗi ngày qua, thêm một bước gần nấm mồ. Bao nhiêu người, qua bao thế hệ đã ra đi về miền quên lãng; nhận thức này tạo nên nỗi lòng thương xót luôn thúc đẩy cụ nên làm gì, phải làm một chuyện gì. Nay đã hơn tám mươi tuổi, gần đất xa trời, mồ chôn đã được chuẩn bị, cụ vẫn chưa nhận định rõ phải làm gì cho thỏa lòng thao thức, muốn xóa bỏ nỗi ngậm ngùi của con người nơi kiếp nhân sinh triền miên đày ải thân phận làm người. Dẫu đã trọng tuổi nên tâm tính lắm khi khó hòa đồng với lớp người sồn sồn nhiều khi bia rượu sừng sừng ăn nói bạt mạng, cụ ngạc nhiên vì sự thay đổi của ông Thung, xưa nay phong cách vốn khép kín, đạo mạo, nhưng ảnh hưởng do tham gia nhóm nhậu đã có thể hòa đồng với họ. Từ nhận biết này, đôi khi cụ nhận thấy mình lắm lúc cũng khá khó tính; bài học lễ độ cuộc đời vẫn chưa hoàn chỉnh khiến cụ thay đổi, đối diện anh em nhóm nhậu với tâm hồn cởi mở, thông cảm hơn. Đặc biệt nơi bầu khí nghiêm trang lắng nghe giữa bối cảnh bề bộn đồ ăn thức uống, lòng cụ dâng lên niềm cảm khái tôn trọng. Với tâm tình này chợt thoáng qua, cụ tiếp tục lên tiếng,

- Qua những lần tiếp xúc bằng cách chia sẻ quan điểm đạo học và ăn uống, chung vui với các anh các chị, lòng tôi thực sự dâng lên mối cảm phục; hãy để tôi nói lên lý do tại sao. Ngay lúc này, chúng ta vừa ăn uống, văn nghệ văn gừng ồn ào náo nhiệt mà đã bình tâm định trí nghiêm chỉnh dồn hết tâm hồn cho đề mục đạo học; điều này đáng được cảm phục. Hơn nữa, qua những chia sẻ, giao hữu, anh chị em dám sống thực, nói thực, mở rộng lòng chấp nhận những điều hay cũng như những gì không nên không phải, không biện hộ, bào chữa, không tự ty cũng như tự tôn, và đó chính là thái độ minh chứng lòng khiêm tốn, chân thành; đây là điều kiện ắt có và đủ trên hành trình thăng tiến tâm linh. Dĩ nhiên, các anh các chị dẫu khác biệt về tôn giáo nhưng tôi thấy tôn giáo không trở nên vách ngăn liên hệ tình người hoặc bức cản tâm linh càng khiến tôi mộ mến. Hy vọng sự hiểu biết của tôi về đạo học phần nào đem lại lợi ích thăng tiến tâm linh nơi quý anh chị. Tôi đã nói chuyện với một vị linh mục, bạn tôi đã từ lâu, ngài đang nghỉ hưu; tôi sẽ mời ngài về đây nói chuyện cùng quý anh chị về Phúc Âm. Quý anh chị yên trí, đừng e ngại gì; vì đã từ lâu ngài và tôi nói chuyện với nhau về đạo học. Nhãn quan của ngài không hạn hẹp giống các vị cố đạo như quý anh chị thường tiếp xúc mà thực sự rộng mở. Tất nhiên, ngài có những thao thức tâm linh và mối thương cảm khá nặng nề đối với nhân sinh đã bao lâu nay. Có điều, tôi chưa biết nơi nào để ngài tiêu pha đôi tháng khi về đây giúp anh chị em. Nhà ai có phòng dành riêng cho khách và đồng ý ngài nghỉ lại cỡ hai tháng không, xin cho tôi biết để tôi mời ngài.

 
Bốn cánh tay giơ lên. Sỹ nhà con, ông Thung, anh Tình, anh Thanh.

- Nhà chú hơn kém tiểu đội lính tráng, ồn ào, rối loạn mà cũng đòi giơ tay. Ông Thung nói với Sỹ.

- Nhà anh chỉ có đôi vợ chồng lão buồn thỉu buồn thiu. Lúc hai người hú hí bày cuộc chơi thì ngài nói chuyện với ai? Lính nhà tôi đông, lắm pha cụp lạc, nhiều mối ăn chơi, chẳng đứa này thì đứa kia đưa ngài dạo phố, ngắm hoa, ngắm người, bò lạc, bò viên. Ngủ nghỉ thì đóng cửa phòng lại thế là yên ắng, quên trời quên đất sao lại không được.

- Cái ông quỷ này, ăn nói bậy bạ, chị Sỹ nhăn nhó.

- Để ngài ở nhà tôi đi! Hai vợ chồng tôi xông pha sông nước, ba đứa nhỏ đi học, tha hồ thinh lặng, nên thơ. Nếu ngài muốn rong chơi trên biển, thưởng thức cua gạch, tôm tươi vừa vớt lên khỏi nước thì mời lên ghe, đối diện với trời mây trăng nước già cũng biến thành trẻ. Tình hăng hái.

- Để ngài ở nhà tôi là êm chuyện. Muốn đi câu, muốn kéo tôm, ăn gỏi, đầy đủ phép tắc, lại có bố tôi, và tôi hầu chuyện nắng mưa. Nhà tôi gần bờ nước, muốn yên tĩnh suy tư thì tặng cho ngài chiếc cần câu.

- Vậy tôi sẽ mời ngài về nhà anh Thanh. Xin cảm ơn ông Thung, chú Sỹ, và anh Tình. Tôi sẽ gọi điện thoại thông báo với ngài. Để tôi tính xem, hôm nay chúng ta rảo qua Mật Tông Tây Tạng và Điểm Đạo Ai Cập. Lần tới chúng ta nói về Lão học và sau đó Trang Tử. Như vậy, cỡ hai hay ba tuần nữa ngài sẽ bay về đây. Hôm đó anh Thanh đi đón ngài với tôi, và bây giờ chúng ta trở lại vấn đề đạo học.


- Hôm nay tôi muốn nói tới Mật Tông Tây Tạng. Có anh em nào đã tìm hiểu qua chưa?

- Thưa bác, Sỹ nhà con vội lên tiếng, đã là mật tông, bí mật sao có thể biết. Có chăng chỉ biết được phiến diện.

- Cần gì phải phiến diện với phiến gạch phiến đá. Mật tông có nghĩa họ hàng, giòng giống nhà o­ng, chẳng lẽ người ta lấy mật từ họ hàng nhà kiến. Giọng Tình lè nhè diễu diễu.

- Hai chú im lặng nghe cụ giải thích. Ông Thung lên tiếng ngăn.

- Được gọi là Mật Tông vì đây là phương pháp truyền thừa được giữ kín thay vì phổ biến nơi đại chúng. Lý do chính là để ngăn cản hoặc giảm bớt sự lạm dụng do tham vọng cá nhân, hoặc vô ý thức mang hại đến chính người thực hành, thực nghiệm. Quý anh chị đọc nơi Ấn học đều thấy, một số người thực tập Yoga dang dở được ít năm có được khả năng mà đa số quần chúng gọi là thần thông chẳng khác gì thầy bùa, thầy ngải, và thế rồi lừa bịp, mị dân; chẳng những sau này họ lãnh kết quả tàn khốc mà còn tạo nên những khốn khó không kể xiết đối với những người nhẹ dạ, dễ tin, hoặc có những tham vọng thấp hèn thế tục. Do đó, trước khi được chấp nhận chính thức, tập sinh của mật tông phải trải qua những năm tháng thử thách chẳng những về tinh thần, tính khí, mà còn về sự kiên trì, chịu đựng. Dĩ nhiên, bất cứ sự việc gì cũng đều như con dao hai lưỡi, tùy thuộc hành động và tâm ý người sử dụng. Bởi thế, Mật Tông Tây Tạng rất thận trọng trong việc theo dõi nhận định, và tìm hiểu căn cơ của những thí sinh theo học.

- Nhìn tổng quát, Mật Tông Tây Tạng thực nghiệm đồng thời hai phương pháp, Yoga nơi Ấn học và nghiệm chứng, hay quán tưởng nơi Phật học. Qua sự hiểu biết về Ấn học và Phật học, quý anh chị em có thể nhận biết rõ hơn về Mật Tông Tây Tạng. Những tính chất, khả năng của hành giả được tóm gọn nơi quan niệm về căn cơ. Sự thể được gọi là căn cơ này bao gồm nhiều phương diện mà nhiều hành giả trước tác những tác phẩm phân tích hoặc đưa lên những quan niệm phức tạp khiến cho người tìm hiểu quay cuồng vô định nơi những lý thuyết khác nhau. Hơn nữa, tùy thuộc căn cơ cũng như khả năng và kinh nghiệm của những tác giả, đôi khi những lối nhìn hạn hẹp cá nhân tạo nên vô số điều kiện khó khăn cho các hành giả học theo. Thí dụ, nơi Tục Ngữ, Ca Dao có câu, “Đời cha ăn mặn, đời con khát nước.” Phỏng chúng ta có thể chấp nhận như thế nơi thời đại này? Thế nên, nếu vị tác giả nào đó cố chấp với quan niệm đời cha ăn mặn đời con khát nước, sẽ đưa ra định luật tiến trình của hành giả lệ thuộc âm đức gia tộc, và như thế cũng phần nào ảnh hưởng tâm trí hành giả, đồng thời tạo nên cảm nghĩ nhụt chí hoặc ỷ y, lười biếng do phải chịu đựng thành quả không phải do mình tạo dựng. Thêm vào đó, Ấn học cũng như Phật học, qua các thời đại kiến tạo quá nhiều lý thuyết cũng như phương cách khác biệt càng làm cho hành giả bối rối. Tôi đưa lên một thí dụ đơn giản. Lục tổ Huệ Năng đề xướng chỉ một nguyên tắc thức ngộ, và đó là “Kiến tính thành Phật.” Nghe thì đơn giản, dễ hiểu nhưng khi bước vào nghiệm chứng, thực hành, hành giả phải đối diện với nhiều vấn đề thực nghiệm. Chẳng hạn, làm sao để kiến tính? Phương pháp nào để định tâm? Rồi nào quán tưởng, nào đại định, nào tiệm ngộ, nào đại ngộ, nào duyên, nào nghiệp, v.v… Hơn nữa, thử hỏi hành giả sao có thể nhận thực được căn cơ của mình thế nào và phương pháp nào mới hợp với căn cơ của mình nơi hành trình nghiệm chứng. Mới chỉ nêu lên sơ sơ một đôi vấn đề, chúng ta đã thấy con đường thức ngộ mịt mùng giữa cuộc sống nhân sinh muôn phần trắc trở. Sự thể này đã làm cho biết bao hành giả, ban đầu dẫu thực tâm, cố gắng đến mấy cũng dần dần nhụt chí. Đã có những vị thức ngộ có điều kiện, thiết tha với ước mơ thăng tiến tâm linh đại chúng sáng lập nên những tổ chức nhân sinh hỗ trợ cho các vị hành giả. Tuy nhiên, trải qua một, hai thế hệ, ham muốn phát triển tổ chức mạnh bạo bộc phát làm mờ nhạt ước mơ nguyên thủy của vị sáng lập, và muôn ngàn lý thuyết phát triển tổ chức làm mưa làm gió thao túng tâm ý thành viên, lâu ngày dày kén, tham vọng thế tục đương đường thay thế mục đích tâm linh đồng thời làm mờ nhạt bao công trình nghiệm chứng của các bậc thức ngộ. Như mọi người có thể nghe đây đó những ồn ào về phật bà, đức chúa hiện ra, rồi thế nọ, thế kia nhan nhản, đầy tai. Nếu để tâm thanh tịnh, thử hỏi chúng ta nghe được gì? Chỉ những cứu này, giúp kia, phép nọ, tắc ấy, rối tung lên. Người người hao tiền tổn của hành hương xứ phật, tham bái, cúng kiếng, lễ phật, lạy chùa, cầu mong ân huệ. Kẻ chạy đôn chạy đáo xin khấn nơi này linh nghiệm, chốn kia thần thiêng, để rồi tiêu hao tháng ngày, tiền mất nhưng tật vẫn hoàn mang.

 
- Nói rằng pháp mạt thì có pháp đâu mà mạt; mà có chăng thì chỉ những thứ thực hành vô bổ, và rồi những tổ chức tâm linh trở thành những tổ chức nhân sinh được gọi là tôn giáo và được đặt trên nền tảng tin thờ, cúng bái qua nhiều hình thức. Tại sao phải tin? Xin thưa vì mình không đụng đến được, và nghĩ rằng, hay được tuyên truyền rằng, đó là sự thực để được yên lòng. Riêng vấn đề tôn thờ, cúng bái, ngay như đức Thích Ca cũng không một lời nào, mà có chăng, lại chống đối sự vội tin nơi những lời ngài dạy thiếu nghiệm chứng, lại càng không nói chi về cúng kiếng. Anh chị em có nhớ lời đức Thích Ca nói gì không? Ngài nói, Chớ vội tin những lời ta nói. Vội tin những lời ta nói mà không nghiệm chứng tức là khinh ta. Thực ra, khi đã thực chứng hoặc nghiệm chứng rõ ràng thì có gì mà phải tin. Chẳng hạn anh chị em đã thực chứng được lửa nóng thì có ai nói phải tin lửa nóng, anh chị em có cần phải tin không? Hoặc ai đó nói lửa không nóng, chúng ta có cần suy nghĩ để tin không, và nếu có ai đó nói họ tin lửa nóng thì điều họ nói mang nghĩa gì! Tôi phải nói lên những điều này hy vọng quý anh chị em đặt lại vấn đề mỗi khi suy nghiệm về những thực thể hoặc kinh nghiệm; may ra đỡ phần nào luẩn quẩn với những lý thuyết tự trời rơi xuống; dẫu được đề nghị bởi bất cứ đấng nào, thành phần nào trước khi chúng ta tìm hiểu về thực chứng của Mật Tông Tây Tạng.

 
- Một điều rất rõ ràng đó là không ai có thể chia sẻ thành quả nơi những tiến trình thực nghiệm tâm linh cho bất cứ ai, và nếu có những hành giả nào ghi lại thực chứng của họ cũng không ai có thể chỉ hiểu biết mà đạt đến được. Sự thể này cũng giống như ăn uống, suy nghĩ. Không ai có thể ăn dùm, uống dùm, cũng như suy nghĩ dùm bất cứ ai. Thành quả nghiệm chứng tâm linh, ai thực nghiệm người nấy biết; chẳng khác gì kẻ đang nơi trạng thái yêu đương, người đang yêu cảm nhận thế nào, tâm tình biến chuyển ra sao không thể nào nói cho bất cứ ai. Sự thăng tiến nơi hành trình tâm linh chính là kết quả của sự nghiệm chứng mà những ai không nghiệm chứng dẫu cố gắng tìm hiểu đến mấy cũng chỉ là cái biết ngoài da, chẳng khác gì chiêm ngưỡng chiếc bánh vẽ; tri thức về chiếc bánh vẽ không thể nào khiến người ta cảm nhận được vị giác, khứu giác khi nhai một miếng bánh thật cho dù cố gắng tưởng tượng đến mức độ nào.

 
- Nơi cuốn sách The Third Eye, viết bởi lạt ma người Tây Tạng tên Lobsang Rampa vào năm 1956 được Nguyễn Hữu Kiệt phỏng dịch thành Tây Tạng Huyền Bí do Xuân Thu Xuất bản năm 1988 tại California, Hoa Kỳ, lạt ma Lobsang viết theo kiểu tự truyện. Ông sinh vào khoảng năm 1900, được nhận vào tu viện khi lên bẩy tuổi để được huấn luyện theo chương trình huyền bí nơi truyền thống Mật Tông Tây Tạng. Sau đó ông được gửi sang thế giới Tây phương để quảng bá văn hóa Phật giáo Mật Tông ra thế giới bên ngoài. Những gì tôi trình bày với quý anh chị hôm nay đều dựa theo tự truyện của lạt ma Lobsang qua lăng kính tổng hợp của Yoga và chủ thuyết kiến tính nơi Phật học. Quý anh chị có thể vô Wikipedia.org tìm phần tiếng Việt và đọc cuốn Tây Tạng Huyền Bí, bản dịch do Nguyễn Hữu Kiệt. Bản dịch này được chia thành 14 chương, bao gồm, Thời Thơ Ấu, Lời Tiên Tri, Tôi Chuẩn Bị Xuất Gia, Trước Thềm Chánh Điện, Đời Người Tu Sĩ Sơ Cơ, Đời Sống Trong Tu Viện, Tôi Mở Thần Nhãn, Tôi Yết Kiến Phật Sống Tây Tạng, Trại Hoa Hường, Tín Ngưỡng và Sinh Hoạt, Tôi Trở Về Nhà, Tôi Sử Dụng Thần Nhãn, Tôi Được Tấn Phong Lạt Ma, và chương cuối cùng là Một Cuộc Điểm Đạo Huyền Môn.

 
- Quý anh chị cũng nên để ý khi đọc sách; dù sao, chúng ta cũng không thể đọc hết những sách được viết chuyên chú về một vấn đề do nhiều tác giả. Hơn nữa, nhất là những bản dịch, vì không thể nào dịch cho đúng được cảm nghiệm hoặc tâm tình tác giả trước tác. Đàng khác, những bản dịch đều bị ảnh hưởng sai biệt của ngôn ngữ mà ý nghĩa hay ẩn ý tùy thuộc thời gian và không gian cũng như phong tục, tập quán, đặc biệt là ý nghĩa ám định được tác giả gán ép nơi ngôn ngữ. Như chúng ta quá thừa hiểu câu nói, “Đi khám bác sĩ,” hoặc “Nhổ răng không đau,” mà chúng ta thường dùng như một thành ngữ theo thói quen. Ý nghĩa của câu nói này thế nào, và nếu ai đó thông dịch hay chuyển dịch nếu không để ý về thành ngữ sẽ biến công sức dịch thuật của mình thành diệt ý mang hại đến độc giả. Một thí dụ khác; chúng ta thử dịch một nhóm chữ đơn giản tiếng Anh, “The underground group.” Tiếng Việt mình có nghĩa nhóm du kích nhưng nơi tiếng Anh họ nói như thế. Thử hỏi nơi trường hợp này, người dịch phải thế nào nếu không cưỡng ép bịa ra điều mình tưởng tượng. Thêm vào đó, có nhiều trường hợp dẫu dưới dạng hồi ký nhưng vì chủ đích quảng bá, tác giả trước tác cũng đành viết những điều mình chưa hoặc không thể nghiệm chứng hay thực chứng để rồi độc giả tưởng là sự thể có thật theo nghĩa từ chương, và cũng vì không thể nghiệm được nên phát sinh trạng thái hay lý thuyết phải tin, hoặc chấp nhận một cách vu vơ, chỉ kiến tạo thêm mộng tưởng. Điển hình tôi nêu lên thử là hai câu Phúc Âm, “Kẻ nào yêu cha mẹ hơn Ta, không đáng là môn đệ Ta; kẻ yêu con trai, con gái hơn Ta, không đáng là môn đệ Ta,” và, “Nếu mắt các ngươi làm cớ cho ngươi vấp phạm thì móc mà quăng chúng đi. Nếu tay các ngươi làm cớ cho ngươi vấp phạm thì chặt mà quăng chúng đi.” Nếu xét theo nghĩa từ chương, không ai thực hành hai câu này trong khi miệng vẫn hô hào tin và theo đức Kitô. Tôi thử hỏi anh chị em, ý nghĩ và lời tuyên bố tin theo đức Kitô nơi trường hợp này mang nghĩa thế nào, phải chăng chỉ nói cho qua! Riêng về những gì không hiện thực liên quan đến cuốn Tây Tạng Huyền Bí, nếu anh chị em nào muốn tìm hiểu, vô Wikipedia.org đọc bài viết, “Fictitious Tibet: The Origin and Persistence of Rampaism” do nhà chuyên khảo văn hóa Agehananda Bharati, đăng tại Tibet Society Bulletin, Vol. 7, 1974.

http://www.serendipity.li/baba/rampa.html. Chính vì thế tôi chỉ chia sẻ với anh chị em dưới quan điểm thực hành Yoga và kiến tính thành phật của Phật học.

- Bởi thế, quý anh chị đọc thì đọc để lấy kiến thức rồi nhận định tùy khả năng của mình. Điều cần thiết phải là cần biết mở rộng tâm hồn để nhận thức, và nếu muốn thực chứng, tôi nghĩ, nơi thời đại này và trong hoàn cảnh hiện thực, chúng ta nên dùng tri thức để nghiệm chứng bởi không ai có thể dành riêng cuộc đời để thực chứng; vì còn những bổn phận nhân sinh đối với gia đình và cuộc sống. Nhận xét như thế, chúng ta thấy, bất cứ hành giả nào muốn thực chứng đều phải có cuộc đời đặc biệt, và được sinh ra với một căn cơ cũng đặc biệt mới có được cơ hội thực chứng. Tôi muốn nói, thực chứng là phương cách tuyệt vời nhất, nhưng cần những điều kiện nhân sinh khác với chúng ta. Thế nên, tôi đặt nặng và khuyến khích anh em mở rộng lòng và dùng tri thức để nghiệm chứng mà thôi. Nói cho đúng, kiến tính cần tri thức để nghiệm chứng; dẫu thực chứng mang lại những kết quả thường được giới bình dân gọi là thần thông. Nhưng thần thông để làm gì? Để trở thành ông nọ bà kia thì ngược lại với hành trình tâm linh; bởi đó là ham muốn thế tục. Người nào được sinh ra để đạt đến những quyền lực đó thì lại không ham muốn quyền lực thần thông; như cổ nhân có câu, “Có ở trong chăn mới biết chăn có rận.” Thuyền to sóng cả; cây càng cao chịu đựng áp lực gió càng lớn. Người nào được sinh ra để làm lớn lại phải được rèn luyện, mài dũa nặng nề để có khả năng chịu đựng những áp lực bạo tàn của thế tục.

 
- Thế nên, dẫu thực hư thế nào, hoặc bởi ý định quảng bá kiếm môn sinh mà những điều tiết nơi cuốn Tây Tạng Huyền Bí được viết thêm thắt pha nhiều nét huyền thoại cho ăn khách, sự thể này cũng không ảnh hưởng gì tới hành trình nghiệm chứng tâm linh của mỗi người. Lý do dễ hiểu, chính là chúng ta không tìm tòi năng lực thần thông, không thiết tha tới việc kiến tạo con mắt thứ ba. Chúng ta thường nghe tới danh hiệu huệ nhãn; danh hiệu này chỉ về nhận thức tâm thức chứ không phải giống như con mắt nơi khuôn mặt mỗi người dẫu nhãn có nghĩa là mắt, nhưng huệ là trí huệ, đâu phải nhục thể. Thực ra theo tôi nghĩ, giả sử biết rõ ràng đường đi nước bước mà phải bỏ ra cả đời tu luyện để mở được con mắt thứ ba như được viết nơi cuốn Tây Tạng Huyền Bí thì tôi cũng không theo. Có câu chuyện thiền tông kể rằng, một vị chân nhân trước khi khởi hành chuyến viễn du dặn đệ tử độc nhất của ngài ở lại chăm chỉ tu luyện. Sau ba mươi năm viễn du trở về, vị chân nhân hỏi môn sinh đã đạt tới mức độ nào trong suốt 30 năm tiềm tu. Vị môn sinh hứng khởi khoe với sư phụ rằng đã tu luyện tới mức đi trên nước qua bên kia con sông gần nơi tu luyện. Vị chân nhân thở dài tiếc nuối trả lời, con hao phí quãng thời gian suốt 30 năm để đạt được công sức chỉ đáng mấy đồng kẽm đi thuyền qua sông.

- Sở dĩ tôi phải giải thích lòng vòng cũng chỉ vì ước muốn anh chị em để ý, khi đọc sách để tham khảo, cần có một nhận định chính xác thực hư, những gì có thể áp dụng và những gì bị phóng đại; nếu liều mạng thử, chắc chắn sẽ mang đến những hậu quả tai hại. Quý anh chị em có lẽ còn nhớ rõ hiện tượng “Thanh Hải Vô Thượng Sư” vào mấy năm cuối của thế kỷ XX, đã khiến cho một số người thuộc giới trí thức ham mê quyền lực tâm linh tán gia bại sản, gia đình tan nát đổ vỡ. Nào truyền tâm ấn, nào uống nước tắm vô thượng sư, thôi thì muôn mặt truyền bá, ca tụng, ồn ào, náo nhiệt và cuối cùng ra sao, tôi không cần phải giải thích. Một số vị chân tu thâm nghiêm chứng nghiệm có lên tiếng, nhưng nào ai thèm nghe. Dân chúng là thế, chạy đôn chạy đáo cầu may, không chịu tìm hiểu, suy nghĩ, nghiệm chứng, nên vô tình đã trở thành những con thiêu thân lót đường cho kẻ lạm dụng thực hiện ý đồ, tham vọng thế tục của họ. Tôi chỉ nhắc nhở sơ qua như thế, mong anh chị em để ý đừng dại dột vội tin theo bất cứ gì khi chưa suy nghiệm chín chắn chứ chưa dám nói tới thực chứng.

 
- Tôi nhắc lại, gọi là mật tông chỉ vì không được quảng bá nơi đại chúng hầu ngăn ngừa những kết quả tai hại xảy đến do lòng ham muốn thế tục bình thường nơi con người; bởi thế trong hành trình tu luyện, những hành giả phải trải qua tại các tu viện mật tông thế nào, những vị tu sĩ không được phép nói, viết, hoặc truyền bá ra ngoài, nên tất nhiên chẳng nên võ đoán làm gì. Những gì chúng ta có thể biết được chỉ là phiếm diện; vì thế không thể nào thực nghiệm. Thứ nhất, vì chúng ta không ở trường hợp của những vị tu sĩ mật tông. Thứ hai, vì căn cơ của chúng ta khác họ. Thứ ba, vì chúng ta còn bổn phận phải gánh.

- Dĩ nhiên, dù cho tông phái nào hoặc hành trình nào cũng cần có mục đích, hướng dẫn, suy nghiệm, và thực hành dẫn đến thực chứng. Nơi trường hợp tâm linh, dù Mật Tông Tây Tạng, Phật học, Ấn học, Lão học, thần học, đều có chung một mục đích, cũng như nơi mỗi người chúng ta, và mục đích đó là sự thức ngộ. Bất cứ ai cũng được sinh ra với niềm khát vọng muốn nhận biết thực sự mình như thế nào, liên hệ giữa mình và vũ trụ, cũng như quyền lực tuyệt đối, được quan niệm và gán cho những danh hiệu khác nhau ra sao. Như mọi người đều biết, các tông phái đạo học, diễn tả cách này hay cách khác đều dẫn tới một điểm duy nhất đó là Quyền Lực Tuyệt Đối đang hoạt động nơi vạn vật qua những phương cách và dạng thức khác nhau. Lão học đưa lên câu nói, Tào như nước ở mọi nơi mọi chốn. Phật học bảo Tâm Phật nơi mọi người. Thần học nói Thiên Chúa ở cùng chúng ta. Ấn học cho rằng hồn hay Atman là một phần tử của Thượng Đế Brahma. Nhận thức và cảm nghiệm này được bổ xung bằng lòng khát vọng thúc đẩy con người kiếm tìm phương cách để nhận thức thực thể sự vật và sự việc.

 
- Nói như thế, câu hỏi nên được đặt ra; đó là tại sao trải qua bao thế hệ, con người chẳng những đã không thăng tiến tâm linh mà coi chừng càng ngày nhận thức về tâm linh càng kém được nhận biết, càng trở nên lụn bại, hầu như đại đa số quần chúng thường không được nghe nhắc tới; nếu không muốn nói là sự nhận thức hay cổ võ về hành trình nghiệm chứng tâm linh được coi như biến mất nơi nhận thức của nhân loại. Câu trả lời chỉ có thể như không trả lời; vì sự thể cũng tương tự như duyên phận lứa đôi. Tại sao nơi thế gian biết bao người khác đẹp đẽ, thanh lịch, giỏi giang, dễ thương, dễ mến hơn người phối ngẫu của mình mà mình không hề biết cũng như không hề để ý tới? Cho dù nêu lên bất kỳ lý do nào cũng không thể được coi là hợp lý, hợp tình. Nhận thức tâm linh cũng thế, nỗi thao thức bẩm sinh ngự trị nơi mọi người, dù để ý hay không, chỉ người đó mới có câu trả lời đúng đắn nhất. Nhận thức tâm linh bị che mờ nơi phương diện đại chúng nói lên thực tại đau lòng; đó là sự xuống cấp tâm linh nơi nhân sinh. Chính nỗi thao thức tâm linh dẫn dắt những bước chân con người gia nhập tôn giáo, nhưng thử hỏi tôn giáo đã giúp con người được những gì nơi hành trình tâm linh của họ? Tôi dùng ngôn từ giúp, có nghĩa hướng dẫn, chia sẻ, khuyến khích, để mỗi người nhận biết hành trình nào họ nên theo hầu thỏa mãn nỗi khát vọng tạo nên niềm thao thức tiềm ẩn nơi cõi lòng. Thử đặt vấn đề, thực thể và mục đích của tôn giáo là gì? Chúng ta gia nhập hoặc theo tôn giáo với mục đích nào, và đã đạt được những gì tạm gọi lợi ích cho hành trình thức ngộ của chúng ta, hay là chúng ta đã khoán trắng cho những vị rao giảng về tôn giáo cuộc đời tâm linh của mình, tưởng rằng cứ nghe cho qua, tuân giữ lề luật tôn giáo, và cầu mong được giải thoát để lòng ruột được an bình cho qua kiếp người? Anh em nên biết, cuộc đời là cơ hội; chúng ta đã không thể nhờ bất cứ ai sống dùm cho mình thì cũng đừng hòng nhờ vả, hay chờ đợi bất cứ đấng nào thức ngộ cho mình. Một cánh tay giơ lên, và đó là chủ nhà.

- Thưa bác, đây là lần thứ nhì cùng với anh em nghe bác nói nên thực ra có nhiều vấn đề cháu chưa được nghe. Do đó có thể ý nghĩ của cháu trùng hợp với điều bác đã giải thích. Tuy vậy, cháu xin nêu lên nhận định về sự thiếu khuyến khích con người nơi hành trình tâm linh. Có thể nói, chính vì người ta không nhận biết thế nào là hành trình tâm linh; do đó dẫu nghe được ai nhắc đến cũng chẳng thể nhận thức được. Và cũng có thể nói rằng, nơi tôn giáo các vị rao giảng cũng không biết hoặc không để ý tới nỗi thao thức bẩm sinh nơi lòng mình thì sao có thể hướng dẫn người khác; bởi họ được huấn luyện nơi môi trường nhấn mạnh sự tin tưởng và cầu khẩn. Thực lòng mà nói, chưa chắc các vị ấy đã rờ được tới điều họ tin, dẫu khuyến khích hay dạy dỗ người khác tin, vì nếu đã biết, đã đụng chạm tới được, đâu cần phải tin. Hơn nữa, cầu khẩn những gì mình chưa có, không bỏ công sức thực hiện thì dẫu có cầu đến muôn đời cũng như cuội; thế thì những người tin theo lời rao giảng của họ sao có thể tìm được con đường thức ngộ cho riêng mình. Đã không có thì lấy gì mà giúp! Như vậy, thưa bác và mọi người, nếu xét theo phương diện thức ngộ tâm linh, các nhà rao giảng tôn giáo kể như không có gì dính líu tới tâm linh, có chăng dùng sáo ngữ về tâm linh vì tôn giáo là tổ chức của con người được thiết lập dựa trên lòng thao thức tâm linh bẩm sinh, nhưng đã không để ý đến tâm linh nên họ đã biến tôn giáo trở thành tôi mọi cho luân lý nhân sinh thay đổi tùy thời, tùy nơi.

- Thế anh muốn kết luận ra sao?

- Thưa bác, cháu thấy không có gì phải kết luận; vì sự thể là chính nó; bởi đối với những người vô minh sao họ có thể nhận thức được sự vô minh của họ nếu không suy nghiệm. Chỉ suy nghĩ sao cho phát triển tổ chức nhân sinh dựa vào nỗi thao thức bẩm sinh nơi con người, và chỉ đặt vấn đề lượng thì sao có thể thoát ra được điều nhà Phật gọi là dục, phương chi nói đến chuyện thức với ngủ. Cháu tự hỏi, nếu con người không có nỗi khát vọng nhận biết chính mình, không cần biết mình được sinh ra để làm gì, không đặt vấn đề mình từ đâu tới và rồi sẽ đi về đâu thì chẳng có gì phải nói tới. Họ đâu cần đi chùa lễ Phật, đâu cần tới nhà thờ cầu Chúa. Cháu đọc Phúc Âm, đọc kinh nhà Phật chẳng hạn như Kinh Kim Cang, Kinh Đại Niết Bàn, Kinh Viên Giác, Đạo Đức Kinh, Nam Hoa Kinh của Lão học, Bhagavad Gità của Ấn, có thấy đoạn nào, câu nào nói tay phải gõ mõ, miệng ê a, rồi cúng giường, bán chiếu, khất thực, ban phước đâu. Theo như cháu được biết, những phép tắc này được bày ra để giúp định tâm nơi hành trình nghiệm chứng, thực chứng chứ đâu phải cứ làm như thế thì được giải thoát. Rồi nào cầu hồn, cầu siêu để được lên niết bàn, thiên đàng, cháu nghĩ, muốn đạt được niết bàn, thiên đàng thì cần phải biết niết bàn là gì, nơi nào, hoặc thiên đàng ra sao. Cứ thử đặt vấn đề, cầu khẩn để được tới những nơi chốn ấy phải chăng mình chán sống trong khi lại sợ chết. Ôi, nói gì cũng chẳng được, và cũng không nên nói; vì không cách nào giúp được trong trường hợp người ta không muốn nhận biết, và đồng thời đối với những người không đủ khả năng nhận biết do không nghiệm chứng thì chỉ nên im lặng; bởi không ai có thể bổ đầu bò mà nhét óc chó vô được. Từ nhận định này, cháu thấy nơi Phúc Âm có câu nói thật tuyệt vời áp dụng nơi thực tế nhân sinh, “Của thánh đừng cho chó, chớ quăng châu ngọc trước miệng heo kẻo chúng dày đạp dưới chân và quay lại cắn xé các ngươi.” Hơn nữa, bất cứ tư tưởng, lời nói ra sao không thuận đối với quan niệm của một tổ chức nào đó đều bị thành viên của tổ chức ấy lên án. Cháu chỉ có câu hỏi đã bao lâu nay cứ khúc mắc nhưng vẫn chưa có câu trả lời và đó là vì lý do gì con đường thức ngộ hầu như bị bịt kín nơi cõi nhân sinh trong khi đạo học đã xuất hiện những bao ngàn năm!

- Chú mày nói gì? Vậy lý do gì chúng ta tụ họp nơi đây nghe bác nói mà bịt kín, bịt hở! Theo tớ thấy, cho dù mang nặng khát vọng hoặc thao thức, thao ngủ, nhưng biết mò nơi mô, làm răng mà mò. Mò riết tới khi không còn răng nữa thì cũng đành âm thầm chấp nhận thân phận kiếp người chờ ngày xuống lỗ chứ đâu phải chúng tớ lười suy tư, thiếu nghiệm chứng. Muốn nghiệm nhưng không biết nghiệm thế nào, nghiện ngập thì dễ chứ nghiệm chứng, thực chứng, từ ngày cha sinh mẹ đẻ tới giờ nào đã nghe thấy, phương chi thực hành, thực tỏi. Sĩ nhà con nhảy vô oang oang phát biểu hình như cho hả hơi men, nhưng nghe cũng được.

 
Vấn đề được chủ nhà nêu lên không hiểu sao đánh động lòng ruột đám người chếnh choáng hơi men. Hình như ai cũng mang máng nơi tâm trí những khúc mắc về rắc rối dường như đối nghịch trong suy tư giữa nghi thức thờ phượng, cúng bái, với sự chấp nhận cho qua, chẳng khác gì sự áp dụng những lời giảng giải của các vị rao giảng đối với cuộc đời sinh động đang phải đối diện từng giây từng phút. Cố tình tin tưởng vào những điều được nghe hầu có được nỗi an tâm sinh sống; mà nào tâm trí chịu nghỉ yên. Nỗi thao thức lơ mơ luôn dằn vặt, càng cố quên lại chỉ càng khiến thêm khắc khoải. Muốn giải quyết cho lòng ruột khỏi dao động thì chỉ càng rối tung lên. Thiên Chúa yêu thương vô bờ bến mà sao lúc nào tâm trí cũng bị nỗi e sợ bị đày ải dằn vặt. Phật từ bi giải thoát con người khỏi vòng hệ lụy thế trần mà sao vẫn ăn không ngon, ngủ không yên. Cuộc đời thăng trầm, lận đận đối nghịch với những ước mơ, ý muốn. Diệt dục làm sao khi cơn đói trờ tới, dù không muốn ăn cũng phải ăn, rồi nào tham sân si sao có thể tránh vì nếu không có tham sân si, sao an hưởng thú vui cuộc đời.

Sỹ nhà con hùng hổ nói, nửa diễu, nửa thật, nhưng hình như mọi người còn đang bận tâm với những gì gia chủ nêu lên khiến bầu không khí bình thường giao động chợt trở nên hoàn toàn im lặng, lách cách đây đó tiếng chai bia chạm bàn. Cụ Tài giơ tay khoa nhẹ ngang vai lên tiếng,

- Vài tuần nữa linh mục bạn tôi sẽ trả lời vấn đề này. Tôi muốn giải quyết cho xong phần mật tông Tây Tạng. Có điều, chúng ta nên để ý, tất cả mọi sự đều bắt nguồn từ con người và cho con người dẫu chỉ là ý thích, ham muốn, cho tới tâm linh. Hành trình tâm linh không thỏa mãn nhu cầu vật chất, danh vọng nên không được để ý. Mật tông thực sự tin vào luân hồi, hóa thân, đồng thời thực nghiệm một vài loại Yoga thăng tiến năng lực xác thân hầu đạt tới thực trạng tạm được gọi là kiến tính, huyền đồng. Thực trạng này có nghĩa thực chứng trạng thái Atman hòa nhập làm một với Brahma, hoặc nói theo ngôn từ Kytô giáo, đó là nhận chân Thiên Chúa ở cùng chúng ta.

- Thưa bác, Tình chợt lên tiếng cắt ngang, tại sao lại phải thực hành Yoga để thăng tiến năng lực xác thân mới có thể đạt tới kiến tính, kiến toán trong khi kiến tính đâu đòi hỏi phải có vai u thịt bắp, hùm ăn bảy ngày không hết thịt? Chẳng lẽ những người nhỏ con như tụi cháu không hy vọng gì kiến tính được sao? Ôi, uổng công nghe ngóng, tổn ải rượu thịt, cá mú, tôm hùm, tôm cọp.

- Chú mày sao ăn nói lung tung, tôm hùm, tôm cọp nào có chi dính líu tới vai u thịt bắp, lại còn nhào nháo với kiến tính, kiến toán, Sỹ nhà con nhào vô lên giọng, bộ chú mày xưa nay yên lặng tưởng mọi người cho rằng chú mày không biết nói hay sao?

- Tôi chỉ đặt vấn đề về sự liên hệ giữa Yoga và kiến tính bởi Lục tổ Huệ Năng phán rằng ngồi nhiều sinh bệnh nên bày ra thiền hành, thiền tỏi. Và cũng bởi vì đem hành tỏi xào chua ngọt với tôm hùm, tôm cọp nhậu với bò đi ông (Napoléon) thì cho dù sư tử cũng lật gọng chứ nói chi tới sư ông, sư cụ.

- Chú Tình, cóc nghiến răng động tới trời; chú mày động khẩu coi chừng phiền hà tới anh em khác. Yêu cầu hai chú im lặng nghe cụ giải thích. Ông Thung phải lên tiếng chỉnh đốn hai cái mỏ.

- Nơi Ấn học quan niệm rằng Brahma là Thượng Đế ngự trị mọi nơi mọi chốn, và hồn hay linh hồn của mỗi người được gọi là Atman. Brahma cũng chính là quyền lực tối thượng đang hoạt động nơi vũ trụ. Con người liên lạc với Brahma, nói cách khác, liên lạc với Quyền Lực Hiện Hữu tối thượng Brahma chính là không khí, và như anh em đã biết, nguyên tắc căn bản của Yoga dùng tâm trí, ý định hướng dẫn không khí luân chuyển theo thứ tự nào đó qua các trung tâm huyệt đạo để phát triển năng lực nội tại. Tôi phải nhắc tới ngôn từ Quyền Lực Hiện Hữu khi nhắc tới danh hiệu Brahma để anh em tránh khỏi nhận thức sai lầm bởi lệ thuộc ngôn từ mà tưởng nghĩ Brahma là một đấng, một sự nào đó ngự trị nơi chốn xa vời chờ con người cầu khẩn để ban phước lộc hoặc những gì theo ý họ thích. Hình như chúng ta đã nhắc tới Hiệp Khí Đạo với nguyên tắc ý dẫn khí, khí dẫn huyết, huyết đả thông kinh mạch. Sự thực hành dùng tâm ý dẫn không khí luân chuyển qua các trung tâm huyệt đạo này được gọi là Yoga. Cũng từ nguyên tắc này phát sinh thiền, quán tưởng, vân… vân. . .

- Sở dĩ phải luyện tập xác thân chuẩn bị trực diện với Thượng Đế, nói cách khác, hoà nhập với Brahma do có sự giải thích rằng, thân xác con người chẳng khác gì ngọn đèn trăm oắt không thể chịu đựng nổi dòng điện cả triệu oắt, như thế, nếu muốn hòa nhập với Brahma, xác thân phải được rèn luyện tới mức nào đó mới có thể chịu đựng nổi. Tuy nhiên, nếu chỉ dùng lý luận của sự hiểu biết bình thường nơi vị thế bàng quang, chúng ta không thể có được cảm nhận chính xác chẳng khác gì nếu không biết uống rượu bia thì sẽ chẳng bao giờ cảm nhận thực sự được cảm giác cũng như ảnh hưởng của rượu bia đối với xác thân và tâm tính cùng với tâm trạng ngà ngà như thế nào. Người thực hành Yoga mới có thể thực chứng; chúng ta bàn qua, tán lại chỉ giống như ăn bánh vẽ hoặc ngồi trước bàn nhậu mà không ăn, đói vẫn hoàn đói; có tưởng tượng đến mấy thì càng nói chỉ càng chứng tỏ không biết mình nói gì mà thôi. Thời giờ cũng muộn rồi, anh em để tôi tóm tắt khái niệm về Mật Tông Tây Tạng và chúng ta tan sòng.

- Có một điều anh em nên để ý; đó là, cũng như Yoga của Ấn, Mật Tông Tây Tạng rất chú trọng tới những câu mật chú. Những câu mật chú này được cho là sản phẩm của những vị đạt tới quyền năng nào đó để lại; chúng mang nguyện lực mà vị đó ám đặt vô. Muốn sử dụng mật chú phải có lòng tin tưởng tuyệt đối nào đó cũng như sự thực hành để tập trung ý định, ước muốn, và lòng thành của hành giả. Chẳng khác gì chúng ta hay nghe nói về những gì được gọi là thần chú của các pháp sư, thầy bùa, thầy ngãi. Dĩ nhiên, trong giai đoạn thực nghiệm những câu mật chú và sau đó thực hiện chúng phải tuân theo những điều kiện kiêng cữ và quy luật rất khắc nghiệt. Tất nhiên, bất cứ gì cũng có giá phải trả nếu hành giả muốn đạt được. Nơi cuốn Mật giáo Tây Tạng có viết, “Thần lực và hiệu quả của một thần chú tùy thuộc vào thái độ tinh thần, tri thức, ý thức trách nhiệm, sự thành thực của tâm hồn cá nhân. Các thần chú chỉ có thần lực và có ý nghĩa đối với người thụ pháp, nghĩa là người đã trải qua kinh nghiệm từ đó phát xuất ra lời nói hay công thức thần chú; nó dính liền với người ấy một cách keo sơn trong chiều sâu kín nhất của thực thể họ” (MGTT; tr. 28). Nơi cuốn Á Châu Huyền Bí, tác giả ghi rõ ràng mối nguy hại của khoa pháp môn và sự sử dụng mật chú, “Người nào kiểm soát và sai khiến được thần linh phải chịu nhiều điều nguy hiểm. Thần linh không phải chỉ là những vật vô tri trong bàn tay của y. Đó là những nhân vật có trí khôn và ý chí riêng biệt. Họ luôn luôn có thể nổi loạn chống lại người đã khuất phục họ. Tuy họ tuân lệnh nhà phù thủy đã làm chủ được họ và phụng sự người ấy hết lòng, nhưng nếu nhà phù thủy mất sự tự chủ và ý chí của y bị sút kém, thì khi đó, vài loại thần linh có thể phản công trở lại và tác hại, gây cho y những sự khó khăn bất ngờ như tai họa hoặc chết bất đắc kỳ tử. Với sự trợ giúp của những thần linh đó, người ta có thể làm được những việc phi thường, nhưng khi nhà phù thủy không đủ sức kiềm chế thần linh, họ có thể phản động lại một cách trắng trợn và làm hại người đã khuất phục được họ” (ACHB; Tr. 87-88).

- Thưa bác, như vậy thì lối nào các nhà phù thủy, pháp sư cũng đều bị phản thùng; vì khi về già chắc chắn ý chí sẽ bị sút kém, sự tự chủ lại càng tệ hại hơn, Sỹ nhà con cắt ngang…

- Im đi cho người ta nhờ ông ơi, một cánh tay đưa lên đồng thời miệng phát thanh chặn lời nói Sỹ nhà con.

- Anh muốn nói gì, anh Tình?

- Cháu có nghe các cụ già nói chuyện về phù thủy luyện âm binh, hoặc sai âm binh dùng gầu bằng lá mít tát nước, hái trộm cà pháo  giống như những chuyện thần thoại nhưng không để ý. Tuy nhiên, ngày còn ở Việt Nam, người em họ cháu bị bệnh gì không biết, cứ đau bụng hoài, thuốc thang nào cũng không chữa khỏi. Cuối cùng người bố đem anh ta đến gặp vị pháp sư. Sau khi nghe kể về bệnh trạng, vị pháp sư đó lâm râm đọc gì không biết và lấy một chiếc lá cây còn tươi để trong hộp dắt vô cạp quần anh ta, thế là bệnh hết ngay từ lúc đó. Bây giờ nghe bác nói về mật chú, thần chú, cháu mới tin là chuyện bùa ngải có thật. 

- Anh em làm ơn nhớ kỹ một điều; đó là có những thực thể hữu hình cũng như vô hình mà chúng ta đã không hoặc chưa bao giờ nhận biết. Bởi vậy, thái độ khôn ngoan nhất là mở rộng tâm hồn quan sát và nhận định hầu nâng cao tâm thức nơi mỗi người. Nếu tôi không lầm thì trong anh chị em chúng ta, đôi người có kinh nghiệm về cầu cơ và thường đa số nghe nói về cầu cơ, nhưng cũng như các vấn đề khác, chúng ta ơ hờ không đặt vấn đề về hiện tượng này. Để chứng thực, tôi đề nghị, ai trong quý anh chị em đã thực chứng, tôi muốn nói, ai đã tham gia cầu cơ, làm ơn giơ tay. Bốn cánh tay giơ cao.

- Xin cảm ơn. Quý anh chị có thể giải thích hoặc trình bày một đôi sự kiện cho mọi người về kinh nghiệm cầu cơ của mình ra sao được không?

- Thưa bác và các anh các chị, ngày còn nhỏ cỡ bẩy hoặc tám tuổi chi đó, cháu đã thực sự tham gia cầu cơ nhưng cũng không để ý mấy. Kinh nghiệm của cháu cũng như mấy chị em trong nhà về trò chơi cầu cơ chỉ là chuyện vui thường tình vì thấy hay hay nên cũng chẳng rút tỉa được chi. Số là bố mẹ cháu làm nghề buôn bán. Nhà ở ngay trên mặt đường đông người qua lại nên bố mẹ mở tiệm chạp pô, bán đủ mọi thứ từ gạo thóc, thuốc men cảm cúm, đậu đen đậu xanh, cho đến dầu hôi, nước mắm. Không hiểu từ bao giờ và do ai trong chị em cháu học ở đâu được trò chơi này; thế là chúng cháu có được một bàn chữ viết trên tấm bìa. Sau này cháu nghe nói cơ phải dùng miếng ván hòm cắt thành hình trái tim, nhưng ngày đó chúng cháu dùng chiếc chén uống trà của bố làm cơ để chạy. Không hiểu sao, qua một thời gian, chỉ cần đặt tay vô chiếc chén úp, chưa kịp đọc thần chú, niệm chú gì đó thì cơ đã chạy. Cháu xin kể ba trường hợp điển hình để tùy ý bác và anh chị em nhận định. Chị Thanh ngưng nói hình như để tâm tưởng nhớ lại. Chiều hôm ấy, có một bà nhà quê đi ngang, thấy ba bốn đứa chúng cháu đang xúm xít cầu cơ, bà đứng lại xem mấy đứa trẻ gái này bày trò gì. Chẳng nói giấu gì, gia đình nhà cháu có hai anh trai lớn và năm chị em gái sàn sàn tiếp theo; nói theo kiểu Tú Xương, “Vợ quen dạ đẻ cách năm đôi.” Đàng này, hai người em gái của cháu lại là song sinh nên ngũ long công chúa thành hình trong chỉ bốn năm. Hình như năm đó chị cháu lên mười, cháu lên chín, hai em song sinh bẩy tuổi, và một người lên sáu cùng cậu em út lên năm. Bác và quý anh chị đều biết, con gái từ sáu đến mười tuổi thì thân xác cũng sàn sàn ngang nhau. Thấy người đàn bà đứng lại ngó, cháu tinh nghịch hỏi hồn rằng bà nhà quê này đi đâu. Hồn cơ trả lời, bà ấy định nấu canh rau đay nên ra chợ mua dúm mắm tôm. Cháu lại hỏi, trong túi bà ấy có những gì. Hồn trả lời, trong túi bà ấy có miếng trầu, có cau, có thuốc nhưng thiếu vỏ. Bà ấy sợ quá bỏ đi mất. Trường hợp khác, em gái bé nhất của cháu lúc mới sáu tuổi còn nói ngọng thay vì nói “Hồn,” cô ấy chỉ nói được “Ồn ơi ồn.” Có lần cô hỏi hồn tên gì;  hồn cơ trả lời tên một người Tầu. Một hôm, chẳng biết hỏi câu gì, một người em sinh đôi hỏi, sao hồn lên nhanh quá vậy, hồn cơ trả lời “Permanent.” Chúng cháu còn bé đâu biết permanent nghĩa là gì. Thế rồi hỏi hồn cơ học đến đâu, và được trả lời là cử nhân văn chương. Trường hợp khác, một hôm, cháu nhờ gọi hồn một người mới chết. Ông ta là người có chức vị trong làng mới chôn được hai ngày. Hồn cơ nói không được. Cháu nghịch ngợm chạy chữ, thì đứng chổng mông mà gào. Hồn trả lời, ông ấy chửi cho ấy. Tuy nhiên, sau ba giờ chiều, gọi cơ không lên. Có lần cháu hỏi thì hồn cơ cho biết ba giờ chiều phải trở lại ngục. Còn nhiều những thứ vớ vẩn của tuổi con nít liên hệ với cầu cơ nhưng thôi, cháu nghĩ quá đủ. Dẫu theo đạo Công giáo và nghe được nhiều giai thoại thế nọ thế kia cũng như cho rằng các hồn là ma quỷ, với lắm đề nghị, đe dọa, nghe đến mà phát khiếp về cầu cơ, nhưng qua thực chứng cầu cơ hồi còn nhỏ, đồng thời qua những suy tư theo năm tháng, cháu thấy hình như thế giới bên kia rất gần với thế giới chúng ta. Nghe những chuyện ma quái trả thù chuốc oán, nếu cháu không lầm thì đó chỉ giống như những câu chuyện răn đời, khuyên người ta làm lành lánh dữ. Cháu cũng đọc một số sách vở thì thấy các hồn không được phép làm hại bất cứ ai, và nếu có thể nói, đó là luật lệ rõ ràng; không hồn nào có quyền đụng chạm đến bất cứ người còn sống nào. Cháu không hiểu về phương diện bùa ngải có liên hệ thế nào đối với những hồn đã khuất do tham vọng của pháp sư hoặc thày bùa, thày ngải, không học đến nơi đến chốn nên đã lạm dụng niềm tin làm hại đến con người. Theo như cháu nhận biết, nếu đã không thể giúp gì cho chúng ta, các hồn đã khuất không được phép làm hại bất cứ ai. Thế nên, ai nói mặc ai, đôi khi cháu nghe thấy người ta nói về cầu cơ cứ như là những sự gì huyền bí lắm hoặc đáng sợ lắm. Ông bà mình có câu, “Điếc hay hóng, ngọng hay nói” quả cũng không sai chút nào.

- Vậy tại sao tôi cầu cơ không lên? Tình hỏi.

- Ai mà biết, chị Thanh trả lời, cũng có nhiều người cầu, cơ không lên.

- Có lẽ chị thuộc họ hàng nhà ma.

- Ma hay không thì em không biết, nhưng nó lên thì nó lên.

- Vấn đề cơ lên hay không có thể tùy thuộc bản chất mỗi người, cụ Tài giơ tay ra hiệu ngưng nói. Chẳng hạn như những người lên đồng, họ phải được sinh ra với đặc tính mẫn cảm mới có thể lên đồng. Chúng ta cũng thấy rõ, một số nghệ sĩ họ khóc rất thực nơi vai trò họ diễn. Chúng ta không làm được như thế vì chúng ta mẫn cảm không đủ. Tôi chỉ muốn nhắc nhở, quí anh chị em đừng vội khép kín tâm hồn mà cần mở rộng để nhìn nhận thực thể sự vật và sự việc như chính nó. Có như thế, chúng ta mới cảm nghiệm được nghi thức thờ phượng, cúng tế, đặc biệt trong trường hợp nhận thức về Mật Tông Tây Tạng. Dĩ nhiên, những nghi thức thờ phượng hay cúng tế đòi hỏi một tấm lòng chân thành, ý định kiên vững, và ước muốn mạnh mẽ. Lòng không chân thành, tâm ngơ ngáo, thực hiện nghi thức lấy lệ thì không thần thánh nào chứng giám. Hơn nữa, “Từ cái biết mà sinh ra niềm tin; từ niềm tin sinh ra sự mê tín khi không có kinh nghiệm để hiệu chính niềm tin” (MGTT. Tr. 31).

- Nói về Mật Tông Tây Tạng, chúng ta cần nhận biết những quan niệm liên quan và những điều kiện cần thiết như kinh nghiệm và niềm tin phát sinh từ nghiệm chứng. Thực ra, đã nghiệm chứng được thì chẳng có gì phải nói đến niềm tin, nhưng tôi dùng ngôn từ niềm tin phát sinh từ nghiệm chứng có nghĩa do thực nghiệm nên không gì có thể lay chuyển được gọi là kiên định.

- Mật Tông Tây Tạng có thể nói, bao gồm một phần thực nghiệm Yoga của Ấn và nghiệm chứng kiến tính nhà Phật. Dẫu rằng Ấn học cũng có chi phái mật tông nhưng Mật Tông Tây Tạng, mật tông nhà Phật có điểm không tương đồng với Ấn. Mật tông Ấn chính là sự thực hành và nghiệm chứng Yoga để phát triển năng lực nội tại, chuẩn bị thân xác chịu đựng cường mạnh hầu đạt tới sự hoà nhập với Brahma. Cũng như mọi đạo học, điểm cùng đích chính là hợp nhất với Quyền Lực Tối Thượng đang hoạt động nơi vũ trụ. Tôi cần lưu ý anh chị em điểm này. Chính ước muốn hòa nhập với Quyền Lực Tối Thượng đang hoạt động nơi vũ trụ là một ước muốn sai lầm bởi dù ước muốn hay không thì Quyền Lực Tối Thượng vẫn đã và đang hoạt động và hiện thể nơi mọi sự. Bởi thế, ước muốn hòa nhập hay thăng tiến đều do sự thiếu nhận thức nên phát sinh ước muốn, tạo những hoạt động, hành động khiến hành giả kiến tạo những hoạt động, hành động sai lầm chỉ làm khổ mình chẳng khác gì Pascal đã nói, “Con người không phải là thánh, chằng phải là thú, nhưng đáng thương thay, những kẻ muốn làm thánh lại biến thành thú;” biến thành thú bởi vì chạy theo thú tính làm khổ chính mình. Thiển nghĩ, ước muốn này thành hình do quan niệm một thượng đế hữu ngã.

- Thưa bác, chị Tình rụt rè lên tiếng.

- Chị muốn nói gì?

- Thưa bác, nếu cháu không lầm thì Thượng Đế hay Thiên Chúa cũng như nhau.

- Chị nói đúng. Thượng Đế hay Thiên Chúa cũng chỉ là danh hiệu; do đó, tôi thường hay dùng danh hiệu Quyền Lực Hiện Hữu Tối Thượng.

- Thưa bác, thế sao bác nói hữu ngã?

- Xin lỗi anh chị em; một điều quá ư căn bản, tôi nghĩ ai cũng biết nên đã không dám nhắc tới e bị cho rằng khinh thị người khác. Thế nên, bất cứ gì anh chị em thắc mắc, cứ tự nhiên đặt câu hỏi. Tôi nói rất nghiêm chỉnh; bất cứ vấn đề nào dù nhỏ mọn tới đâu, hoặc bất cứ câu hỏi nào dẫu bị cho là ngớ ngẩn đến mấy, anh chị em cứ nêu lên. Chẳng hạn vấn đề chị Tình vừa nhắc tới, Thượng Đế hữu ngã.

- Nơi cuộc sống hữu vi, chúng ta thường quá quen thói phân chia những trạng thái đối nghịch; chẳng hạn đúng sai, phải trái, trên dưới, Ying Yang, trắng đen, nghĩa là có bên này thì phải có bên kia được gọi là hữu vi hay hữu ngã. Nhìn vào thực tại, có những thứ không hoàn toàn trắng mà cũng không hoàn toàn đen chẳng hạn cà phê sữa. Khi nói đến thực trạng này, danh hiệu tạm gọi là nhất nguyên. Chúng ta sẽ hiểu rõ hơn khi bàn về Lão học nơi Đạo Đức Kinh. Nơi Ấn học, danh hiệu Thượng Đế được gọi là Brahma. Hồn mỗi người được gọi là Atman, một phần tử của Brahma. Thế nên cùng đích của hành giả tu luyện Yoga là hòa nhập với Brahma. Quan niệm này theo lối nhìn hữu vi, Brahma được coi như ở bên ngoài mặc dầu kinh Chí Tôn Ca (Bhagavad-Gita) nói lên rất rõ ràng Brahma hiện thể và hoạt động nơi mọi sự mọi vật. Mọi sự, mọi vật hiện hữu trong Brahma nhưng Brahma không hiệu hữu nơi chúng. Chúng ta có thể dùng hình ảnh biển và mọi sinh vật trong biển. Mọi sinh vật ở trong biển nhưng biển không thể ở trong những sinh vật. Lối phát biểu, Thượng Đế tạo dựng muôn loài chứng tỏ quan niệm Thượng Đế bên ngoài vạn vật; rõ ràng đây là lối nhìn hữu vi, hữu ngã về Thượng Đế cũng giống như quan niệm nơi Thiên Chúa giáo cho rằng Thiên Chúa tạo dựng muôn loài từ vô cùng. Nếu tôi không lầm thì quan niệm về một Thiên Chúa hữu ngã tạo dựng muôn loài cũng giống như quan niệm Ấn học nhưng chỉ khác danh hiệu. Chúng ta thử xét, lửa hữu ngã hay vô ngã. Ai cũng có thể trả lời hữu ngã vì chúng ta có thể nhìn thấy và có kinh nghiệm sử dụng lửa. Nhưng nếu nhìn theo phương diện khác, câu hỏi được đặt ra, lửa tốt hay xấu, đúng hay sai, chúng ta phải công nhận sự tự nhiên của lửa là không đúng và chẳng sai. Thế nên, bảo lửa hữu ngã cũng trật mà vô ngã cũng trật. Qua khái niệm về lửa, nhận thức nhất nguyên phần nào được nhận biết, và như vậy chúng ta đã chớm bước vào điểm chính yếu của đạo học Đông Phương, đạo học nhất nguyên bao gồm Phật học và Lão học, đạo học vô ngã, và từ đó chúng ta có thể phân định sự khác biệt giữa mật tông Phật học và mật tông Ấn học.

- Thưa bác, đã mật sao còn phân chia mật Phật và mật Ấn? Có cái nào mật...

- Anh Tình muốn nói mật chuột phải không?

Cả đám cười thoải mái. Cũng phải cảm ơn những tâm hồn bán trời không văn tự này. Tâm trí mọi người đang căng thẳng nhận định về vô ngã, hữu ngã, mật tông, đường tông, thế mà dám liên tưởng đến mật chuột vì làm sao ai có thể thấy mật chuột bao giờ!

- Thưa bác đúng, bởi cháu chưa bao giờ thấy mật chuột cũng như lần đầu tiên nghe thấy mật Ấn.

- Mật Tông Tây Tạng tức là mật tông nhà Phật. Ấn học đã có tự bao ngàn năm tất nhiên có Mật Tông Ấn học. Nói cách khác, Mật Tông Ấn học được hiểu thực ngiệm Yoga. Dẫu Yoga chỉ là phương tiện thực nghiệm hành trình Atman hòa nhập Brahma, nhưng nơi hành trình hữu vi, con người không thể đạt tới lý thuyết dùng Yoga hòa nhập thượng đế Brahma; bởi vì hồn con người, Atman không hữu ngã; cho dù chúng ta cứ tưởng hữu ngã như nhận thức về lửa. Nói rằng lửa nóng, có thể nhìn thấy nên lửa hữu ngã chưa chắc đã đúng. Vậy lửa tốt hay xấu chúng ta trả lời thế nào. Dùng lửa nấu ăn, sưởi ấm, chúng ta nói lửa tốt. Cho tay vào lửa, nó có còn tốt không? Lửa hữu ngã hay vô ngã, chúng ta không thể xác quyết một chiều. Như thế, tôi yêu cầu anh chị em, từ nay chúng ta không cho rằng bất cứ gì thế nào mà đành chấp nhận nghiệm chứng trước, trả lời sau, nó thế nào, chấp nhận nó thế ấy.

- Sự khác biệt giữa Mật Tông Phật học và Mật Tông Ấn học rất rõ ràng. “Mật tông Phật giáo hoàn toàn khác hẳn mật tông của Ấn giáo. Tuy cả hai đều sử dụng những phương tiện giống nhau như thần chú, phương pháp luyện luồng hỏa hầu (Kundalini) nhưng mục đích và cứu cánh thì hoàn toàn khác hẳn nhau. Một bên chủ trương khai mở trí tuệ để hoàn toàn giải thoát khỏi luân hồi trong khi một bên chỉ chú trọng đến việc phát triển những quyền năng nội tại để đạt đến trạng thái tuyệt đối (Brahman). Một bên tìm cách quên mình (vô ngã) và một bên tìm cách phát triển bản ngã của chính mình (hữu ngã)”  (ĐMQXT; Tr.255).

- Chúng ta thấy rõ, quan niệm dẫn dắt hành động, nếu không muốn nói quan niệm phát sinh hành động. Quan niệm Thượng Đế hữu ngã phát sinh phương pháp phát triển năng lực nội tại. Quan niệm Thượng Đế vô ngã phát triển nhận thức tâm linh. Nói theo Phật học, “Mặc dù đức Phật (Thích Ca) đã giảng dạy rất nhiều pháp môn khác nhau nhưng Phật giáo thường được chia ra làm ba con đường chính: Nam Tông (tiểu thừa) Bắc Tông (Đại Thừa) và Mật Tông, chẳng khác gì thờ phượng, minh triết, và thiền tông. Theo sách vở mật tông, nếu theo Bắc hay Nam Tông, một người cần phải trải qua vô lượng vô số kiếp tu hành mới có thể đạt đến quả vị Phật, nhưng theo Mật Tông thì có thể đạt đến ngay trong một kiếp” (ĐMQXT; Tr.151). “Tôn giáo Tây Tạng thường chú trọng rất nhiều về cõi giới bên kia cửa tử, hầu như câu chuyện nào cũng đều đề cập đến cõi giới này. Quan niệm thông thường nơi Tây Tạng cho rằng linh hồn con người vốn bất tử và di chuyển qua muôn ngàn kiếp sống luân hồi để học hỏi và thay đổi. Điều này thực ra không thuận lý với Phật học vì Phật học không hề chủ trương có một cái gì trường tồn bất biến như linh hồn. Nói cho đúng hơn thì họ tin rằng sinh lực hay sự sống tạo ra bởi trạng thái tâm và sinh lý của một sinh vật đều do nhân duyên tạo thành và do nghiệp dẫn dắt trong sáu nẻo luân hồi. Tất cả nhân duyên đều nương tựa vào nhau và tạo ra mọi sự, mọi vật; không vật gì có thể hiện hữu một cách riêng rẽ. Rời bỏ nhân duyên này thì không còn gì nữa. Vì bị vô minh che phủ, vì không hiểu rõ thực tướng của vạn vật mà con người tin rằng thế gian này là thực nên cứ khư khư bám víu lấy nó rồi từ đó sinh ra chấp ngã. Từ sự chấp rằng có một cái “ta” nên mới có sự phân biệt và là đầu mối tạo ra khổ não” (HTTT; Tr.28).

- Quan niệm linh hồn trường tồn trải qua các kiếp luân hồi phát sinh từ Ấn học chứ không phải từ Phật giáo. Ấn học quan niệm Atman có được kiếp làm người như phương tiện thức ngộ để hòa nhập với Thượng Đế Brahma. Nói rằng kiếp người là cơ hội cho Atman học những bài học thức ngộ, nhưng thực ra theo Ấn học, không phải Atman hay thân xác tự làm mà chính là Brahma dùng thân phận kiếp người để thực hiện hoạt động của Ngài.

- Cũng như Mật Tông Ấn, Mật Tông Tây Tạng sử dụng chú thuật, tuy nhiên, “Mặc dù bề ngoài chú thuật Tây Tạng và Ấn Độ có vẻ giống nhau, sự thực, chúng chẳng những khác nhau về phương pháp và đối tượng mà trên bình diện lịch sử và tâm niệm các câu thần chú của Phật giáo có một ưu thế rất rộng. Điều khác biệt chính yếu là chú thuật Phật giáo không thuộc về âm tạo lực có tính cách thần quyền. Khái niệm về âm tạo lực (Sakti) tức năng lực sáng tạo thuộc âm tính của một Thượng Đế tối cao (Siva) hay của một đa số thần linh phụ thuộc, tuyệt đối chẳng có một vai trò gì trong Phật giáo; còn trong chú thuật của Ấn Độ giáo thì năng lực sáng tạo là trung tâm điểm của vấn đề. Ý niệm trung tâm của Phật giáo là trí bát nhã. Xen vào các lực điều động vũ trụ và khiến chúng phục vụ cho mục đích của mình có thể phù hợp với các thần chú Ấn Độ, nhưng không thích hợp với Phật giáo. Phật giáo không ước mong xen vào bất cứ một nguyên động lực nào, mà ngược lại, nó cố gắng thoát khỏi các động lực đó, các sức thúc đẩy vây quanh nó lâu dài, khi nó còn ở trong vòng luân hồi. Nó cố gắng thâm nhập vào các động lực đó là để tự giải thoát khỏi sức ngự trị của chúng. Chú thuật Ấn chủ trương sao cho sức toàn năng hợp lại nơi Sakti. Vũ trụ nẩy nở trong sự hòa hợp giữa Siva và Sakti. Hành giả mật tông Phật không tìm cầu sự nẩy nở của vũ trụ, mà lại mong cho nó rút lui trong cái không sinh, không tạo lập, làm cơ sở cho mọi sự diễn tiến: chính từ tánh không phát xuất ra mọi sáng tạo, và mọi sáng tạo đều siêu việt là nhờ đó (Tính Không). Lãnh hội được “Tánh không,” ấy là trí bát nhã. Thực hiện được cái trí tối thượng ấy trong cuộc đời là giác ngộ (bồ đề), nghĩa là khi trí bát nhã hay tánh không, hay cái âm tính vĩnh viễn bất động, thường tịch, bao hàm tất cả, đón nhận tất cả, và từ đó hiện ra tất cả, mà hòa hợp với nguyên lý có động tính dương của lòng bi hoạt động, của động lực tỏa khắp mọi nơi từ tình thương tích cực, đại diện cho phương tiện thực hiện, thì lúc bấy giờ được gọi là hoàn toàn thành Phật” (MGTT; Tr.127-129). “Hệ thống của Ấn Độ giáo thì nhấn mạnh hơn khía cạnh tĩnh nhiên của các trung khu, đồng hóa chúng với các yếu tố căn bản và các lực phổ biến, do đó, đem vào các trung khu tâm lực một nội dung khách quan; dưới hình thức những chủng tử âm nhất định với những thiên chức cai quản chúng nó. Hệ thống Phật giáo thì ít chú ý đến khía cạnh khách tĩnh của các trung khu, mà lại quan tâm đến cái gì chạy qua các trung khu ấy, và các chức năng động chuyển của chúng nó, nghĩa là quan tâm đến sự biến đổi dòng năng lực tự nhiên của vũ trụ thành tiềm năng tinh thần” (MGTT; Tr.180).

- Thêm vào đó, nơi hành trình tu luyện của Mật Tông Tây Tạng còn nhiều cấm kỵ cũng như mật chú, hóa thân, mà nếu chỉ phiến diện nhận định tất sẽ rơi vào lắm ngộ nhận, nhiều sai lệch nhận thức. Sở dĩ tôi đặt vấn đề về kinh nghiệm cầu cơ vì thường người ta nghĩ phải có câu thần chú nào đó cơ mới nhập, nhưng như chị Thanh trình bày, chưa đọc thần chú thì cơ đã lên. “Các thần chú tự bản tính riêng của chúng không tác động được mà chính là nhờ sự trung gian của tâm thức đã có kinh nghiệm về nó. Chúng nó không có tự lực, chúng chỉ là những phương tiện tập trung các lực đã có sẵn, giống như một thấu kính hội tụ, tự nó không có một chút nhiệt nào, nhưng dùng nó một cách thích hợp, nó có thể biến đổi các tia nắng vô hại của mặt trời thành tác nhân gây ra hỏa hoạn” (MGTT; Tr.29). “Chỉ sau một thời gian chuẩn bị và thực hành dưới hình thức tập luyện liên tục thì các thần chú mới có thể có một ý nghĩa, vì chỉ lúc đó chúng mới đánh thức được nơi người thụ pháp các lực được dồn chứa trong suốt các kỳ thí nghiệm trước và mới có thể tạo ra được các hiệu quả mà lúc sáng chế ra, lời chú đã nhắm đạt được” (MGTT; Tr.29-30).

- Tới đây, chúng ta đã phần nào hiểu được điểm chính yếu của Mật Tông Tây Tạng. Mật Tông Tây Tạng phần nào tổng hợp giữa hai đạo học, Ấn học và Phật học. “Phật giáo Tây Tạng không bao giờ bỏ mất mối liên hệ của nó với các truyền thống đã bắt rễ trong đất Ấn; nó có kỹ thuật của sinh lực thừa để ngự trị sinh lực còn sống động cho đến ngày nay” (MGTT; Tr.203).

- Thưa bác, tại sao nơi một số sách, tác giả viết rằng những hành giả thực tập Yoga hoặc thực nghiệm mật tông có được năng lực thần thông?

- Cũng có thể tác giả trước tác đã không thực sự nghiệm chứng nhưng viết với mục đích quảng cáo cho giới bình dân tăng thêm lòng mộ mến hoặc với ẩn ý nào đó. “Chúng ta thường quan niệm quyền năng là một cái gì có thể sở hữu, một phép lạ, một cái đũa thần chỉ đá hóa vàng, hô phong hoán vũ hay bay nhẩy trên không trung. Tóm lại, khi sở hữu quyền năng họ có thể làm bất cứ gì theo ý muốn. Đó là một quan niệm ấu trĩ xuất phát từ trí tưởng tượng và lòng tham lam ích kỷ. Đối với những con người ích kỷ, thế giới này quá phiền phức, chướng ngại cho bản ngã của họ nên phải tìm cách thay đổi nó cho hợp với mình. Đàng khác, quan niệm này bắt nguồn từ bản ngã kiêu căng vì nghĩ rằng có thể đạt được tất cả những gì họ muốn và lòng tham của họ không bao giờ có đáy, bởi không thể thỏa mãn quá nhiều tham vọng điên cuồng nên cần phải có thêm quyền lực, một thứ quyền lực siêu nhiên do chính nó tưởng tượng” (ĐMQXT; Tr.75-76). Chúng ta đã bao giờ tự hỏi để trả lời về mục đích cuộc đời của mình chưa? Nếu chưa tìm được giải đáp cho chính mình thì dẫu có thân xác nhưng mình đã vẫn chưa sống từ bao lâu nay.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

CHƯƠNG 6

 

 
Nơi một phương trời khác cũng có những thực nghiệm dẫu không giống như Mật Tông Tây Tạng nhưng kết quả được coi tương tự tại vùng Trung Đông đó là Điểm Đạo Ai Cập. Điểm minh chứng của sự thực nghiệm Điểm Đạo Ai Cập còn sót lại nơi thế giới loài người có thể chứng thực đó là những kim tự tháp rải rác vùng sông Nile mà các nhà nghiên cứu đưa ra nhận xét các kim tự tháp này được xây nơi những địa điểm phù hợp với chòm sao thất tinh bắc đẩu trên bầu trời. Một vài nơi khác cũng có kiến trúc giống như kim tự tháp được kiến tạo; điều này minh chứng Điểm Đạo Ai Cập đã phát triển và ảnh hưởng tới những vùng dân chúng xa xôi ngoài vùng Trung Đông. Quý anh chị thử nhớ lại những gì được nghe hoặc đọc về nên văn minh Ai Cập thuở xưa đã tiến tới giai đoạn cực thịnh. Nhưng đồng thời, tôi đề nghị quý anh chị nên hướng nhận xét về chiều hướng minh triết thay vì tâm trí thường bị ảnh hưởng bởi lối nhìn phiếm diện do đã được nghe quá nhàm tai để rồi định hướng quan niệm theo văn minh kỹ thuật của ngày nay. Nền văn minh minh triết Ai Cập thời trung cổ đã đào tạo nên những bậc thày của tư tưởng, của triết lý, tâm linh, lan đến toán học, thiên văn học và phát triển thêm về kỷ hà học. Chúng ta ai không cảm thấy quen thuộc với những tên của các vị hiền giả, thức giả như Platon, Pythagore, Thales, Lycurgue, Solon, Jamblique, Plutarque, Hérodote, các vị này là những người ngoại quốc đã được điểm đạo theo khoa Huyền Môn Ai Cập. Herodote đã viết, “Đối với những điều huyền bí đó mà tôi đã được biết đầy đủ, tôi có lời cam kết phải giữ một sự im lặng hoàn toàn” (ACHB; Văn học – XìTrum.net; Chương 7).

 
- Lên internet, chúng ta đọc thấy có tác giả bài viết cho rằng nền văn mình Ai Cập phát triển từ hơn mười ngàn năm trước Công Nguyên (10.000 TCN). Châu thổ sông Nile là nơi khởi đầu một nền văn minh sớm của thế giới. Cùng với sự xuất hiện nền văn minh Ai Cập cổ là các công trình xây dựng vĩ đại trên một khu vực tập trung dày đặc. Ai Cập cổ đã để lại và đóng góp cho nhân loại một trong bảy kỳ quan thế giới cổ đại, đó là Kim tự tháp Giza và tượng nhân sư Sphinx khổng lồ. (Wikepidia) Sự tiến triển và biến chuyển của Ai Cập được chia thành những thời đại; chẳng hạn, thời kỳ tiền triều đại từ năm 12.000 TCN (trước công nguyên) đến 3.200 TCN, thời kỳ sơ triều đại từ 3.100 TCN đến 3.000 TCN.

- Các nhà khảo cổ học tìm thấy những ký hiệu tượng hình được khắc trên các bức tranh trong các di tích tìm thấy khi tiến hành khai quật Nekhen vào năm 1894. Trong ngôn ngữ Ả Rập được gọi là Kom El-Ahmar. Tuổi của những chữ tượng hình này có niên đại vào khoảng 3.200 TCN. Tuy nhiên, gần đây các nhà khảo cổ lại tìm thấy những ký hiệu trên đồ gốm Gerzean 4000 TCN có sự tương đồng với chữ viết cổ Ai Cập. Các nhà nghiên cứu xếp hệ thống chữ viết của Ai Cập cổ vào thể loại chữ tượng hình là lối viết sớm của hệ thống chữ viết của thế giới. Những thầy tu thảo ra những chữ tượng hình Ai Cập cổ từ triều đại đầu tiên (2925 - 2775 TCN).

- Sự thể các tác phẩm hội họa Ai Cập cổ tồn tại cho đến ngày nay có thể do khí hậu khô của sa mạc và điều kiện thiếu ánh sáng của các hầm mộ. Những bức vẽ của Ai Cập cổ miêu tả về một thế giới vui tươi cho những người chết ở cõi vĩnh hằng. Nhiều bức họa vẽ cảnh đi vào cõi âm nhằm che chở người chết; họ đi về với thế giới thần linh; vì người Ai Cập tin rằng sự chết chỉ là sự chuyển chỗ ở sang một thế giới các vị thần và sẽ phù hộ cho những vị pharaoh và các triều đại đang trị vì nước Ai Cập. Người Ai Cập cổ sáng chế ra giấy papyrus; giấy này được làm từ cây papyrus mọc ở châu thổ sông Nile. Công nghệ làm giấy papyrus không được ghi lại và bị thất truyền theo thời gian; tuy vậy, vào năm 1940, các học giả nghiên cứu Ai Cập cổ đã phục hồi được công nghệ này. Người ta đã tìm thấy những tấm giấy có kích thước khá lớn, dài hàng mét. Giấy papyrus được người Ai Cập cổ dùng vào các việc ghi chép lại các cảnh sinh hoạt bao gồm văn học, tôn giáo, lịch sử và các công việc hành chính.

- Theo các nhà khảo cổ, chữ tượng hình Ai Cập thời cổ đại không còn được sử dụng từ thế kỷ thứ 4. Khoảng thế kỷ 15, người ta bắt đầu giải mã hệ thống chữ viết của Ai Cập cổ. Đến thế kỷ 19, nhà khảo cổ người Pháp là Champollion đã giải mã được văn tự Ai Cập. Cuối thế kỷ 20, người ta đã truy ra là mẫu tự Phoenix (tổ tiên của người Li Ban) đã được đặt ra bắt chước theo văn tự Ai Cập. Sau đó các dân tộc Do Thái, Ả Rập, Hy Lạp và La Tinh đã dựa theo mẫu tự Phoenix để thành lập chữ viết của mình. Ngày nay, các xứ dùng mẫu tự La Tinh, trong đó có Việt Nam, Pháp, Anh, các xứ dùng mẫu tự Hi Lạp, trong đó có Nga đều thừa hưởng di sản của chữ viết Ai Cập.

- Quan niệm về thế giới huyền bí của người Ai Cập cổ hay quan niệm tôn giáo, tín ngưỡng kéo dài trên dưới 3.000 năm trong khoảng thời gian giữa hai tôn giáo, Thiên Chúa giáo và đạo Hồi. Thần linh của người Ai Cập cổ, khi sơ khởi được quan niệm là một thế giới hỗn mang của vật chất là nước. Vị thần đầu tiên, thần Râ-Atum, hàng năm xuất hiện như nước lũ của sông Nile ở xứ sở Ai Cập. Thần Râ sinh ra các bọt nước, từ đó biến thành thần Shu (không khí) và Tefnut (hơi nước). Thế giới được tạo ra khi thần Shu và Tefnut sinh ra hai đứa trẻ: Nut (bầu trời) và Geb (mặt đất). Con người được tạo ra khi thần Shu và thần Tefnut sơ ý bị lạc trong hoang mạc đen tối. Thần Râ dùng đôi mắt của mình đi tìm họ và trong khi xúc động về sự đoàn tụ, nước mắt sung sướng của thần Râ đã tạo nên loài người. Con trai của thần Geb là Osiris được cử làm vua của Ai Cập cổ đại. Người em trai của Osiris là Seth được xem là kẻ xấu xa trong vũ trụ. Seth đã giết Osiris và tự lên ngôi là vua Ai Cập. Sau khi giết Osiris, Seth thách đấu với con trai của Osiris (Horus) và bị thua. Seth bị đày đến sa mạc và biến thành thần bão cát khủng khiếp. Osiris được ướp xác bởi Anubis và biến thành thần của sự chết. Horus bắt đầu lên ngôi vua và trở thành pharaoh.

- Còn rất nhiều truyền thuyết xung quanh các triều đại Ai Cập. Nhưng thế giới của người Ai Cập luôn xoay quanh các điều thần bí về con sông Nile và sa mạc, tạo nên một niềm tin về các thế lực thần bí, luôn lôi kéo con người phải thần phục các pharaoh như những vị thần hiện hữu, thay mặt các vị thần khác có nhiệm vụ trông coi dân Ai Cập và dung hòa các thế lực thiên nhiên khắc nghiệt để đưa đến cho thần dân Ai Cập một cuộc sống yên lành bên cạnh pharaoh và dòng sông Nile giàu có và thần bí.

 
- Nữ thần Isis đại diện cho sao Sirius, một ngôi sao rất quan trọng đối với người Ai Cập cổ. Trong quyển sách Echoes of Ancient Skies, tiến sĩ thiên văn khảo cổ học Ed Krupp viết: “Sau khi biến mất khỏi bầu trời đêm (trong 70 ngày) cuối cùng thì sao Sirius xuất hiện trở lại vào buổi bình minh trước khi mặt trời lên. Điều này xảy ra mỗi năm được gọi là ngôi sao mọc cùng lúc với mặt trời và trong ngày đó sao Sirius có thể nhìn thấy chỉ trong một khoảng thời gian rất ngắn trước khi bầu trời trở sáng. Trong Ai Cập cổ đại, hiện tượng xuất hiện trở lại thường xuyên này của Sirius rơi gần đúng vào Hạ Chí và trùng với mùa lũ của sông Nile. Isis đại diện cho Sirius, được gọi là “Nữ thần của năm mới” (Internet).

“Năm mới của người Ai Cập được đặt theo sự kiện này. Các văn bản tế lễ năm mới ở Dendera nói rằng nữ thần Isis đi ra khỏi sông Nile và vì thế nước dâng lên. Theo nghĩa ẩn dụ là thiên văn học, thủy lực, tình dục, và nó đồng nghĩa với những chức năng của thần Isis trong thần thoại. Sirius hồi sinh sông Nile cũng như Isis hồi sinh Osiris. Thời gian mà thần Isis trốn khỏi thần Seth là khi mà Sirius biến mất (70 ngày) trên bầu trời đêm. Nữ thần Isis sinh hạ ra thần Horus cũng như Sirius sinh ra năm mới, và trong những đoạn văn thì Horus và năm mới được coi như nhau. Thần Isis là phương tiện để tái sinh cuộc sống và trật tự. Tỏa sáng vào một thời khắc, một buổi sáng mùa hè, nữ thần đã khơi dậy sông Nile và bắt đầu một năm mới.” Robert Bauval tin rằng tôn giáo của Ai Cập là khởi nguồn của đạo Thiên Chúa. Ông ta cũng cho rằng những câu chuyện Cựu Ước nơi Kinh Thánh của Thiên Chúa giáo được biến cải từ những truyền thuyết của Ai Cập, ví dụ như sự phục sinh. Thậm chí ở một số quốc gia trên châu Âu còn có thể thấy được những đền thờ nữ thần Isis như Italia, Pháp, Đức, Anh, tất nhiên là hình ảnh của nữ thần Isis được truyền tải dưới một hình dạng khác. Vị hoàng đế Napoleon và toàn bộ những tướng lĩnh thân cận của mình đều là thành viên hội Tam Điểm khi đóng chiếm Ai Cập đã tiếp nhận những tri thức kì bí. Paris nơi thường được gọi là kinh đô ánh sáng cũng ẩn chứa một bí mật. Bí mật này nằm ở đại lộ Champs-Élysées được hướng 26 độ về phía đông nam, tạo góc chính xác với đường chân trời hướng tới ngôi sao của Isis (Sirius) mà từ Paris có thể nhìn thấy được. Paris có nghĩa là par-isis, “For-Isis,” một thành phố của nữ thần Isis” (Internet).

- “Trên ngôi mộ ít tiếng tăm của pharaoh Ankhtifi, người cai trị vùng phía nam Ai Cập, người ta đọc thấy dòng chữ: ‘Tất cả giới quan quyền ở Ai Cập đói đến độ phải ăn thịt con cái của họ.’Các pharaoh từng xây dựng những công trình đồ sộ nhất trong thế giới cổ đại, các kim tự tháp tại Giza, nhưng sau gần một nghìn năm ổn định, giới quyền lực đầu não tan rã; vương quốc nhanh chóng đi vào hỗn loạn trong vòng hơn 100 năm. Cho tới cách đây khoảng 4.200 năm (tính ngược lại từ năm 2000), nền văn minh vĩ đại đầu tiên ở Ai Cập đã hoàn toàn sụp đổ. Giáo sư Fekri Hassan, từ Đại học London, Anh, đã kỳ công làm sáng tỏ bí mật này. Fekri bắt đầu bằng việc nghiên cứu những ghi chép tỷ mỷ từ thế kỷ thứ 7 về các trận lụt của sông Nile, con sông có vai trò trung tâm trong đời sống của người dân vùng này. Ông nhận thấy nhiều trận lụt với quy mô khác nhau đã diễn ra, trở thành nguồn cấp nước sống, còn cho tưới tiêu trong vùng. Nhưng ông không có số liệu nào của năm 2.200 trước Công nguyên.”

- “Trong khi đó, ở nước láng giềng Israel, người ta tìm thấy tại một hang đá dấu vết của đợt biến đổi khí hậu lớn nhất trong 5.000 năm: Trận hạn hán nặng đúng vào năm 2.200 trước Công nguyên đã làm suy giảm 20% lượng mưa. Vì Israel và Ai Cập nằm trong các hệ thống thời tiết khác nhau, Fekri tiếp tục tìm kiếm những bằng chứng khí hậu khác.” Sau cùng, đã có thêm một dấu vết mới. Nhà địa chất học Gerard Bond, Đại học Columbia, Mỹ, phát hiện ra rằng châu Âu đã từng trải qua các thời kỳ cực lạnh - thời kỳ băng hà, lặp lại sau mỗi 1.500 năm và kéo dài trong 200 năm. Một thời kỳ cực lạnh như thế diễn ra đúng vào năm 2.200 trước Công nguyên. Người ta cũng tìm thấy dấu vết của đợt biến đổi khí hậu rất lớn ở thời điểm này trên khắp các vùng còn lại của thế giới, từ Indonesia tới Địa Trung Hải, từ Greenland tới Bắc Mỹ. “Có thể, đợt biến đổi khí hậu nghiêm trọng đã gây ra cái chết hàng loạt của loài người cách đây 4.200 năm. Còn với Ai Cập, hạn hán đã hành hạ vùng đất này dai dẳng, cuối cùng quật ngã một trong những nền văn minh rực rỡ nhất của loài người. Fekri đã chứng minh được rằng những gì viết lại trên ngôi mộ của Ankhtifi là hoàn toàn đúng sự thật. Thiên nhiên đã đẩy con người đến bước đường cùng. (B.H. Theo BBC, Việt Báo, VNExpress). Sau này, Ai Cập trở thành một tỉnh của đế chế La Mã vào năm 30 trước công nguyên.”

- Qua một số nghiên cứu tìm hiểu đưa đến nhận định về Ai Cập thời cổ như tôi tóm gọn lại trên internet và vừa đọc cho anh chị em nghe, chúng ta nhận thấy cuộc đời, đại khái nói chung, mọi sự đang biến chuyển, và không có gì được gọi là cố định, trường tồn. Một nền văn minh lâu đời như Ai Cập bây giờ cũng đã được coi như đi vào lãng quên. Những truyền thuyết, những công trình, những quan niệm đã đứng vững và hoành hành cũng như áp đặt trên nhân sinh qua bao thời đại nay đi về đâu!

- Tôn giáo Ai Cập cho rằng nếu bảo tồn được thể xác thì linh hồn có thể được đầu thai nên người Ai Cập có tục ướp xác và đúc mặt nạ để linh hồn có thể nhận ra phần thể xác của mình; sau này tục ướp xác và đúc mặt nạ đã được người La Mã tiếp thu. Trong tín ngưỡng của người Ai Cập cổ đại có niềm tin rằng; sau khi ướp xác, linh hồn của họ sẽ được lên thiên đàng như các vị thần. Tục ướp xác được xuất phát từ truyền thuyết thần Osiris bị em trai mình là thần Seth giết xé làm 14 mảnh quăng đi khắp nơi, và sau đó được thần Isis tìm lại quấn thi thể trong lớp vải, nhưng thần Isis chỉ tìm được 13 phần thi thể còn lại một  phần đó là bộ phận sinh dục; bộ phận đó được thần Isis làm lại bằng vàng. Sau đó nữ thần Isis trốn vào sông Nile trong 70 ngày và sau đó sinh hạ ra thần Horus; về sau Horus đi tìm Seth để báo thù cho cha. Quá trình 70 ngày kết thúc Osiris đã phục sinh; ông đã nhường lại ngôi báu cho con trai mình và trở thành vị vua cai quản cõi chết. Trong các tài liệu cổ, Osiris được miêu tả là một vị vua với nước da màu xanh (màu tượng trưng cho sự tái sinh), người dâng nước sông Nile. Thật là trùng hợp khi trong truyền thuyết có nhắc đến lục địa Mu (được gọi là Atlantide?) với chủng tộc người da xanh. Phải chăng những con người đầu tiên đặt chân lên Ai Cập là những con người đến từ lục địa đã mất này? Họ đem theo những tri thức vĩ đại về khoa học, thiên văn học mà con người lúc bấy giờ cho rằng đó là sức mạnh của thần thánh. Khi quá trình ướp xác diễn ra trong 70 ngày với đủ các phương thức bí truyền, xác của họ sẽ được đưa qua sông Nile. Sông Nile chính là biểu tượng của giãi ngân hà (Milky Way); linh hồn người chết sẽ vượt qua ngân hà đến với thiên đàng nơi mà thần Osiris ngự trị.

- Nguyên tắc ướp xác của Ai Cập cổ đại dựa trên việc làm mất nước trong cơ thể người chết và lấy đi các bộ phận dễ phân hủy như nội tạng và bộ não. Nghệ thuật lấy não người chết của người Ai Cập cổ thật tài tình; nó đã nhiều năm làm các chuyên gia giải phẫu lúng túng về phương pháp bảo vệ hộp sọ của người chết trong khi não được lấy ra một cách hoàn hảo. Bước tiếp theo, xác ướp được để trong natron (quan tài bằng sậy) khô khoảng 70 ngày để thanh trùng. Cuối cùng là nhồi cỏ khô, thơm vào phần rỗng của nội tạng, xoa dầu thơm và quấn vải lên thi thể một cách cẩn thận và chu đáo. Các ngón tay của xác ướp được lồng bằng các ống vàng. Não và nội tạng khi lấy ra khỏi xác ướp được cất giữ ở 4 chiếc bình.

- Người Ai Cập cổ quan niệm về sự chết như một sự chuyển tiếp một cuộc sống khác ở thế giới bên kia, thế giới cõi âm. Nghi lễ về cái chết là một sự kiện quan trọng và tỉ mỉ nhằm tiễn đưa người chết về với cõi vĩnh hằng. Người Ai Cập cổ quan niệm con người có cả phần thể xác và phần linh hồn; chính vì vậy, các nghi lễ là thể hiện sự chuẩn bị cho thể xác và linh hồn có được sự hòa hợp khi về cõi âm. Họ tin tưởng rằng, nếu thi thể được bảo quản tốt nhất thì linh hồn sẽ tái hòa nhập sau một thời gian nào đó. Điều kiện để linh hồn mau chóng trở lại hòa nhập vào thể xác là xác phải được một người thầy tu lành nghề bảo quản nguyên vẹn cơ thể, khuôn mặt được như lúc còn sống, và cơ thể phải được ướp hương thơm. Đầu tiên, cơ thể người chết sau khi đã được lấy đi nội tạng, sẽ được cho vào một quan tài nhỏ bằng sậy vùi vào cát nóng nhằm làm khô xác để cho cơ thể không thể phân hủy sau này, sau đó thì mới mai táng trong hầm mộ.

- Thuật ướp xác của người Ai Cập ra đời từ năm 2700 TCN. và kéo dài đến tận thế kỷ thứ 5. Người Ai Cập cổ cho rằng sau khi chết, hồn người ta sẽ được về nơi sự vĩnh hằng ở thế giới của các thần linh; nên việc ướp xác cũng là sự thể hiện niềm tin cho sự trường tồn của vương quốc Ai Cập.

- Chúng ta thấy, để có một ý niệm đại cương, người ta phải sưu tầm những di tích văn minh mà những dân tộc thuộc nguồn gốc châu Atlantide đã bỏ sót lại. Người ta phải truy nguyên qua những nghi lễ đã suy tàn của những thổ dân Incas hay Mayas, đến sự thờ phượng thuần khiết hơn thuộc về tổ tiên của các dân tộc này. Những sự sưu tầm đó giúp ta khám phá ra cái mục tiêu tối thượng của sự thờ phượng của họ; đó tức là ánh sáng, biểu hiện bởi ngôi mặt trời. Bởi lẽ đó, họ dựng lên khắp nơi bên Mỹ Châu thời cổ những ngôi đền hình kim tự tháp để thờ mặt trời. Những ngôi đền đó đều là những kiến trúc một kiểu, hoặc có sửa đổi hình dáng chút ít, với những ngôi đền tương tự đã từng có ở châu Atlantide (ACHB; Tr.25). Trong nền tôn giáo cổ Ai Cập, Râ, thần Thái Dương là vị chủ tể, là đấng sáng tạo ra vạn vật vô sinh bất diệt, là cha và đấng sáng tạo của tất cả các vị thần linh khác (ACHB; Tr.27).

- Thưa bác, một cánh tay giơ lên, phỏng có gì liên hệ từ quan niệm truyền thuyết huyền bí của người Ai Cập thời cổ đối với huyền thoại con cháu Thái Dương thần nữ của người Nhật?

- Ah! Tôi chưa bao giờ để ý về vấn đề này. Hơn nữa, một đàng là lý thuyết tâm linh được dùng làm căn bản niềm tin đưa đến thực hành áp dụng trong diễn tiến nhân sinh dẫn tới tôn giáo được gọi là Điểm Đạo Ai Cập; đàng khác là huyền thoại khai sinh dân tộc không liên hệ chi tới tôn giáo hoặc tín ngưỡng; chúng ta thấy ảnh hưởng của hai sự thể đối với tâm linh và nhân sinh rất khác biệt. Quan niệm hay tạm gọi là huyền thoại dân tộc Nhật là con cháu Thái Dương thần nữ cũng tương tự huyền thoại phát sinh dân tộc Việt Nam. Lạc Long Quân lấy bà Âu Cơ, “đẻ” trăm trứng và sinh ra trăm con; năm mươi con theo cha lên núi; năm mươi con theo mẹ xuống vùng biển tạo thành nguồn gốc con rồng cháu tiên của dân tộc Việt Nam. Thử hỏi huyền thoại này ảnh hưởng gì đến cuộc sống nhân sinh của chúng ta, phương chi nói tới so sánh hoặc liên hệ từ huyền thoại tới niềm tin và thực hành nghi thức tôn giáo. Hơn nữa, đa phần chúng ta quan niệm không rõ ràng, hoặc do không để ý, hoặc không có phương tiện nghiên cứu nên chấp nhận cho qua. Chẳng hạn, nói về huyền thoại ngồn gốc dân tộc không ảnh hưởng chi tới cuộc sống con người, nhưng niềm tin lại ảnh hưởng mạnh mẽ nơi cuộc sống nhân sinh. Dẫu quan niệm dẫn đến niềm tin nhưng huyền thoại không tạo được niềm tin; vì huyền thoại không đụng chạm chi tới cuộc sống. Xét theo phương diện nào đó, huyền thoại mang phần nào tính chất quan niệm, nhưng huyền thoại không phát xuất từ lòng khát khao nhận biết về chính mình, về liên hệ sự hiện hữu của mình đối với dòng sinh hóa nhân sinh dẫn dắt con người tới niềm tin, thường được hiểu lầm với danh hiệu đức tin. Xét về phương diện niềm tin, chúng ta thường lẫn lộn với đức tin. Dẫu niềm tin tăng, hoặc tạo thêm năng lực nơi con người, đức tin là thực thể năng lực nơi con người. Có thể nói, đức tin là thực thể nội tại nơi con người mà đã không được nhận biết.

- Thưa bác, Sỹ nhà con cắt ngang.

- Khoan đã, anh Sỹ, có phải mọi người lần đầu nghe thấy tôi phân tích niềm tin và đức tin phải không? Tôi biết mọi người đang đặt câu hỏi về niềm tin tạo năng lực khác với đức tin là thực thể năng lực thì có thể nói niềm tin kiến tạo đức tin phải không? Thứ nữa, tại sao có những đức tin khác nhau như đức tin Phật giáo, đức tin Công giáo, đức tin Ấn giáo, đức tin Tin Lành, Thệ Phản. Tôi có thể tóm gọn một câu, người ta đã hiểu lầm về thực thể mang danh hiệu đức tin và thường chỉ cho rằng đức tin cũng giống như niềm tin. Điều này có nghĩa những gì được tổ chức tôn giáo cho là đúng, là hợp với giáo lý của giáo phái ấy thì được gọi là đức tin. Thực ra, đó chỉ là niềm tin, là quan niệm kết quả của suy luận hay nhận thức. Đàng này, đức tin là năng lực nội tại bẩm sinh mà chúng ta đã đang không nhận biết. Niềm tin có thể giúp  thêm năng lực, chẳng hạn chúng ta nghĩ rằng làm nhà hàng có lời nhiều nên đem hết năng lực, cố gắng làm nhà hàng. Niềm tin tưởng này làm tăng năng lực giúp con người chịu đựng hầu vượt qua thử thách khó khăn trong thời gian thực hiện mục đích, hoặc đối diện với những chướng ngại, thất bại, mong đạt tới thành quả ước muốn. Tuy nhiên, kết quả ra sao mọi người đều biết. Đâu phải ai làm nhà hàng cũng thành công bởi còn bị lệ thuộc nhiều yếu tố xã hội nhân sinh đồng thời. Ông bà mình thường nói, “Làm giầu có số, ăn cỗ có phần.” Cũng một cửa tiệm, người này đứng bán hàng thì khách khứa vào ra tấp nập trong khi người khác đứng bán, mặt meo như khỉ ăn mắm. Niềm tin chính là niềm hy vọng của ước mơ, mà ước mơ thường không có gì bảo chứng, không dựa trên bất cứ thực tại nào; bởi nếu đã có cơ sở làm nền tảng cho ước mơ, ước mơ lúc ấy đã trở thành chương trình hoặc dự án để thực hiện. Tất nhiên, dự án không phải là ước mơ dẫu chất chứa hy vọng hiện thực.

- Quý anh chị theo Công giáo hoặc Kytô giáo làm ơn nghe cho rõ và chịu khó suy nghĩ, nghiệm chứng câu Phúc Âm, “Kẻ nào bảo núi này xê đi mà nhào xuống biển mà trong lòng không nghi ngại nhưng tin rằng điều mình nói sẽ xảy ra, thì nó sẽ thấy thành sự” (Mc.11:23). Khi bảo núi xê đi có nghĩa bày tỏ ước muốn, ý định; điều này nói lên một thực thể đó là ước muốn, ý định tự nó đã mang quyền lực nào đó có thể di chuyển được ngọn núi. Quyền lực này nơi mọi người nếu nói theo câu Phúc Âm; vì ngôn từ “Kẻ nào” có nghĩa bất cứ ai, không phân biệt màu da, sắc tộc, kiến thức hoặc thời đại. Vấn đề được đặt ra lại là chúng ta có nhận biết quyền lực này nơi mình hay không, và nếu đã nhận biết, có tìm cách nào để sử dụng được quyền lực này nơi mình hay không. Đây chính là một điểm nhỏ nơi câu hỏi đầu tiên và cũng là cuối cùng cho hành trình tâm linh, “Tôi là ai,” tôi thế nào đối với vũ trụ liên miên biến chuyển. Câu hỏi này bày tỏ lòng khát khao bẩm sinh về nhận thức chính mình trong liên hệ cuộc sống với dòng sinh hóa nơi hành trình biến chuyển của vạn vật. Bởi đó, đạo học Đông Phương dẫn đến nhận thức con người là tiểu vũ trụ. Muốn nhận biết đại vũ trụ cần phải nhận biết chính mình. Anh Sỹ, anh muốn hỏi gì?

- Thưa bác, giả sử con muốn ngọn núi xê đi, thế rồi ngày này qua tháng khi đào từng xe đất chuyển chúng tới nơi khác thì ngọn núi cũng rời. Ý định dẫn tới thực hành của việc đào đất di chuyển ngọn núi được thực hiện thì đó là đức tin hay niềm tin?

- Niềm tin dẫn đến hành động dời núi và khi núi đã được dời, niềm tin mất dẫu niềm tin kiến tạo năng lực kiên nhẫn đào đất di chuyển ngọn núi sang chỗ khác. Đức tin là năng lực, quyền lực nội tại đã có sẵn, nếu nói theo Phúc Âm, và cũng chỉ Phúc Âm nói về quyền lực này. Điều kiện chỉ là không nghi ngại. Anh em thử suy nghĩ thêm, điều gì mình không nghi ngại tất nhiên mình đã chứng thực, đã nghiệm chứng rõ ràng. Những câu nói nơi các đạo học cần được nghiệm chứng kỹ lưỡng. Phao Lô nơi thư thứ nhất gửi Thesalonikê khuyên nhủ, “Đừng dập tắt Thần Khí! Đừng khi thị các ơn tiên tri! Nhưng hãy nghiệm xét mọi sự; điều gì lành hãy giữ lấy! Hãy kị điều dữ bất cứ dưới hình thức nào!” (1Thes. 5:19-22). Mới nghe thì thấy khơi khơi nhưng áp dụng vô thực thể cuộc sống không đơn giản chi; cũng nhu nhắm mắt để rồi tưởng rằng mặt trời không soi sáng. Nghiệm chứng không phải là cho rằng, tin rằng thế này, thế kia mà chính là đã thực sự kinh nghiệm được. Tôi đưa ra thí dụ; ngày còn nhỏ, chúng ta thử hết mọi sự, không tin rằng lửa nóng, đến khi bị phỏng tay bởi rờ vô lửa. Sự thực chứng này không ai xóa bỏ hoặc giải thích cho người chưa bao giờ rờ vào lửa có thể cảm nhận được. Nghiệm chứng, thực chứng rất khác biệt với sự hiểu biết do nghe giải thích. Các anh em đã nghe hay đọc công án “Uống trà” bao giờ chưa?

- Uống trà. Hưng nói.

- Nhưng thưa bác, lại Sỹ nhà con lên tiếng, thế sao có câu nói, lửa thì không nóng nhưng tại vì mình cảm thấy nó nóng?

- Đây là câu nói của Huệ Thi được viết thêm vào phần cuối của Kinh Nam Hoa của Trang Tử. Nếu suy nghĩ, nghiệm chứng nơi cuộc đời, câu này không nói gì về lửa nhưng chỉ dùng lửa để ám chỉ một thực thể trạng thái tâm tình nơi một người. Đã có ai nghiệm chứng câu nói này bao giờ chưa?

Môt cánh tay giơ lên, Thanh, chủ nhà.

- Anh Thanh, anh muốn nói gì? Cụ Tài hỏi.

- Thưa bác, con muốn nói với anh Sỹ.

- Thì anh cứ nói.

- Chú Sỹ, chú mày nói như cái đếch.

- Mọi người ngớ ra, và Thanh nói chỉ có thế, không hơn, không kém.

- Sao anh dám nói thế? Trong khi bàn luận, chẳng có gì được cho là đúng, chẳng có gì bị cho là sai; vì ý kiến chỉ là phương tiện dẫn đưa đến nhận thức. Đàng này anh không cho rằng đúng, chẳng cho rằng sai, lại bày thêm ra “cái đếch.” Thế cái đếch của anh là thứ gì? Nếu tôi hỏi đúng, anh nên cảm ơn mới phải. Nếu tôi hỏi sai, mời anh minh chứng, cớ sao nói như cái đếch. Sỹ nói một hơi không kịp thở, thái độ nhơn nhơn tự đắc ra chừng có cơ hội bày tỏ sự cả sáng.

Cụ Tài mỉm cười; Thanh cũng không nói chi. Mọi người ngớ ra, chẳng hiểu Thanh có ý gì sau cả phút im lặng. Xưa nay Thanh không bao giờ nói cà tửng, thế sao hôm nay lại sinh ra ngang ngược như vậy!

- Có ai hiểu anh Thanh nói gì không? Cụ Tài hỏi.

- Hắn nói như cái đếch! Hưng lên tiếng trong khi cười mỉm chi, lặp lại, “Lửa thì không nóng.”

- Hình như anh Thanh và anh Hưng đã nghiệm chứng được câu “Lửa thì không nóng nhưng tại mình cảm thấy nó nóng.” Tôi nghĩ, hai anh không nên nói gì thêm, hãy để mọi người nghiệm chứng câu nói này may ra nó trở thành cơ hội cho bất cứ ai nơi hành trình nhận thức; coi chừng nếu giải thích chỉ làm hại họ. Tôi chỉ muốn nhắc nhở quý anh quý chị, nếu muốn nghiệm chứng câu nói này, nên áp dụng đề nghị của Phao Lô nơi thư thứ nhất gửi Thesalônikê, “Hãy nghiệm xét mọi sự.”

- Thưa bác, sao có thể nghiệm xét mọi sự. Cuộc đời quá ngắn ngủi, thời giờ đâu mà nghiệm xét mọi sự! Sỹ chêm vô.

- Lại nói như cái đếch! Thanh quất thêm.

- Đúng, nói như cái đếch! Hưng đế vô.

Thế là Sỹ đỏ mặt, tía tai,

- Mẹ kiếp,

Cụ Tài giơ tay ra hiệu Sỹ ngưng, đoạn nói, anh Sỹ, nghiệm xét mọi sự, thử xét tâm tình của anh bây giờ và tâm tình khi hỏi! “Lửa thì không nóng!”

- Ah! Đoạn hắn đứng lên, chắp tay vái Thanh một vái trong khi lặp lại, “Nói như cái đếch.”

Cụ Tài lên tiếng,

- Khá lắm!

Thanh thấy Sỹ vái mình trong khi miệng lẩm bẩm nói như cái đếch chỉ nhẹ nhàng lặp lại, “Nói như cái đếch.”

- Mấy ông làm chuyện gì lạ vậy? Vợ Sỹ thấy chồng diễn xuất kỳ cục lên tiếng,

- Ông ấy đang cảm ơn Thanh vì đã bảo “nói như cái đếch,” Hưng trả lời.

- Anh Sỹ, cụ Tài nói, thế là đủ, chẳng nên nói ra, coi chừng nói chỉ có hại cho những anh chị em khác.

- Dạ, Sỹ lên tiếng! Đúng là nói như cái đếch.

Vợ Sỹ thấy chồng trả lời cụ Tài như thế, cảm thấy khó chịu nên lớn tiếng,

- Cái ông quỉ này, dám nói với cụ như thế sao!

- Bu mày nói như cái đếch! Sỹ không giải thích, chỉ ỡm ờ trả lời vợ.

Chị Sỹ lại càng không hiểu mấy người đàn ông giờ này thế nào mà ăn nói lung tung, chẳng ra môn, ra khoai chi hết.

- Có thể anh đã hiểu tại sao tôi không trả lời khi anh hỏi hòa thượng Hương Nham đã ngộ về chuyện gì, anh Sỹ!

- Thưa bác, nói vậy nhưng không phải vậy, Sỹ đáp.

- Giỏi, cụ Tài tiếp.

Chị Sỹ lại càng cảm thấy lạ lùng vì cụ Tài hỏi một đàng, Sỹ trả lời một nẻo thế mà còn được cụ khen giỏi. 

 
- Trở lại vấn đề Điểm Đạo Ai Cập. Dẫu Điểm Đạo có lý thuyết về nguyên thủy hiện hữu của các vị thần minh, sự thực nghiệm của Điểm Đạo Ai Cập mang mục đích để môn sinh thực chứng sự hiện hữu của linh hồn của mình qua kinh nghiệm thoát hồn nơi nghi thức được gọi là Điểm Đạo. Chúng ta kinh nghiệm được, quan niệm thay đổi, lối nhìn thay đổi, hoặc ngược lại, nhưng kinh nghiệm đã qua không thể thay đổi do không ai tắm hai lần trong một dòng nước vì mọi sự đang biến chuyển; trong đó chính quan niệm cũng đang biến chuyển, và dĩ nhiên, bất biến không thể phát sinh biến chuyển; bởi bất biến kể như chết. Kinh nghiệm bất biến nhưng thực thể tạo nên kinh nghiệm vẫn luôn luôn biến chuyển. Đàng khác, một khi tự do được tôn trọng thì không còn sự áp đặt người khác phải hiểu hoặc nhận định theo chiều hướng của mình. Đây là nguyên nhân kiến tạo tinh thần tôn trọng niềm tin của người khác. Điểm Đạo Ai Cập không giải thích, không quảng cáo chỉ giúp phương tiện cho môn sinh thực chứng.

- “Những cuộc lễ điểm đạo huyền môn Osiris là nghi lễ thâm diệu và huyền bí. Cuộc hành lễ này không gì khác hơn là một sự phối hợp giữa những mãnh lực thôi miên, phù phép, và tâm linh nhằm giải thoát tâm hồn người thí sinh khỏi sự trói buộc của thể xác nặng nề trong vài giờ, có khi trong vài ngày để cho y có thể nhớ trong suốt cuộc đời còn lại của y, cái kỷ niệm của một kinh nghiệm độc đáo ghi dấu một ngày quyết định trong đời y, và để cho y xử thế một cách thích đáng sự tồn tại của linh hồn sau khi chết, mà phần đông nhìn nhận như một tín ngưỡng tôn giáo. Người đạo đồ từ kinh nghiệm này có thể đem giảng dạy với một đức tin đã được tăng cường bởi bằng chứng cụ thể do kinh nghiệm bản thân” (ACHB; Tr.126).

 
- “Những cuộc lễ điểm đạo này luôn luôn được cử hành vào lúc ban đêm. Người thí sinh được đặt trong trạng thái xuất thần trong một thời gian dài ngắn không chừng, trình độ điểm đạo càng cao thì cơn xuất thần của y càng dài và càng sâu hơn. Những vị tăng lữ canh chừng y suốt những giờ ban đêm dành cho cuộc lễ này. Đó là cảnh tượng thường diễn ra trong những cuộc lễ điểm đạo huyền môn từ những thời đại cổ xưa trong dĩ vãng. Nó có ý nghĩa gì? Sự sát hại Osiris tức là việc đặt người đạo đồ trong một trạng thái chết giả, nghĩa là trong sự kết hợp tâm linh với Osiris, người sáng lập ra tổ chức huyền môn này. Bằng phương thức thôi miên, gồm có việc sử dụng những chất hương liệu rất mạnh, dùng hai bàn tay truyền nhân điện dọc theo thân mình, cùng với việc sử dụng một chiếc đũa thần; ngườì thí sinh được đưa vào một trạng thái đồng thiếp làm cho y mê man bất tỉnh như người chết. Xác thân y tê liệt, nhưng linh hồn y vẫn tỉnh táo và nối liền với thể xác bằng một sợi dây từ điển vô hình mà chỉ vị chủ lễ điểm đạo có thần nhãn mới nhìn thấy được. Như vậy, mặc dù mọi hoạt động thể xác đã ngưng, nhưng nguồn sinh lực vẫn tồn tại. Tất cả ý nghĩa và mục đích của cuộc điểm đạo này là để dạy cho người thí sinh biết rằng vốn không có sự chết. Người thí sinh được truyền thụ cái chân lý đó bằng một phương pháp rõ ràng và thực tế nhất; nghĩa là bằng cách làm cho y kinh nghiệm qua chính bản thân mình mọi diễn biến khách quan của sự chết; bằng cách dùng một phương pháp huyền bí để đưa y lọt vào cõi giới bên kia. Cơn đồng thiếp của y thâm sâu đến nỗi người ta đặt y trong một cái hòm đựng xác ướp có vẽ tranh ảnh và khắc chữ bên ngoài; nắp hòm được đóng chặt và khóa lại cẩn thận. Xét về bên ngoài, thì y là một người đã chết, nhưng khi cơn đồng thiếp của y hết kỳ hạn, người ta mở nắp hòm ra, và bằng những phương tiện thích nghi, y được làm cho tỉnh dậy. Đó là ý nghĩa của lời huyền thoại tượng trưng nói rằng những mảnh xác bị tách rời của Osiris được ráp nối lại và làm cho ngài được hồi sinh. Sự phục sinh bí hiểm và hoang đường của Osiris không khác gì hơn là sự tỉnh dậy của người đệ tử huyền môn sau cuộc lễ điểm đạo” (ACHB; Tr.105-106).

 
- Thưa bác, theo cháu đọc đâu đó, hình như Kim Tự Tháp chính là nơi dành riêng cho nghi thức Điểm Đạo mà thôi. Thanh lên tiếng hỏi.

- Anh nói đúng, “Những sử gia thận trọng cho biết rằng người ta không hề tìm thấy trong kim tự tháp một quan tài, một xác chết, hay một cỗ xe tang nào, dầu có vài truyền thuyết cho rằng một trong những vị vua Ai Cập có cho dựng trước cửa cung một cái hòm đựng xác ướp bằng gỗ chạm trổ rất khéo, mà người ta đã lấy từ kim tự tháp đem về. Trên những vách tường kim tự tháp không thấy có khắc những chữ ám tự hay chạm hình nổi hoặc tranh vẽ những sự việc xảy ra trong thuở sanh tiền của nhà vua đã băng hà. Nói tóm lại, không hề có những gì mà người ta thường thấy bên trong tất cả những ngôi mộ và lăng tẩm khác của Ai Cập. Các vách tường bên trong kim tự tháp đều trống trơn, không trình bày những mỹ phẩm như tranh vẽ, hình nổi hay ám tự để trang hoàng cho đẹp mắt mà các vị vua Pharaoh thường hay bày biện trong các lăng tẩm của họ, cũng không có dấu vết nào của sự trang trí mà người ta thường thấy ở những ngôi mộ quan trọng nhất của xứ Ai Cập” (ACHB; Tr.34). “Chỉ có một chiếc hòm trống trơn bằng đá đỏ, không đậy nắp, đặt dưới đất trong phòng lớn mà về sau người ta gọi là vương cung. Nhưng hai bên chiếc hòm bằng đá này không có khắc những ám tự hoặc tranh vẽ theo thủ tục thông thường của nền tôn giáo cổ Ai Cập. Cỗ quan tài nằm giữa phòng đầu xoay về hướng Bắc, chân về hướng Nam, năm mươi thước cao hơn mặt đất, trong khi ở những nơi khác người ta thường đào hầm đặt quan tài sâu dưới lòng đất theo tập tục thông dụng khắp xứ Ai Cập cũng như mọi nơi trên thế giới nếu không hỏa thiêu hay điểu táng” (ACHB). Trên vài ngôi mộ cổ ở Ai Cập có ghi thêm vào tên họ người chết mấy chữ “được hồi sinh” hay “người đã tái sinh hai lần.” Những câu này diễn tả trình độ tâm linh của người chết đã được điểm đạo.

 
- Thưa bác, Sỹ hỏi, những phù phép các vị chân tu Điểm Đạo Ai Cập dùng có giống như những phù phép của các pháp sư, thày bùa, thày ngải không?

- Nói đến Điểm Đạo, chúng ta cũng nên biết về khoa pháp môn và đặc tính của khoa này. “Muốn có được cái bản lĩnh đó, người học khoa pháp môn phải trải qua một thời kỳ tập sự lâu dài và nguy hiểm. Bởi đó khoa pháp môn bao giờ cũng vẫn là cái sở đắc của một thiểu số người. Tuy nhiên, thật là một điều nguy hại cho nhân loại nếu những bí thuật của khoa pháp môn được tiết lộ cho mọi người bởi vì những kẻ hung dữ có thể lợi dụng khoa này để làm hại kẻ khác vì mục đích ích kỷ, còn về phần người thổ lộ thì sẽ mất hết quyền năng, không còn hiệu lực gì nữa. Thật ra, theo những luật lệ của khoa pháp môn, mỗi thày pháp có bổn phận phải truyền pháp cho một người đệ tử trước khi qua đời, để cho khoa pháp môn được tồn tại mãi mãi trong nhân loại” (ACHB; Tr.84-85).

 
- “Hơn nữa, dẫu các điều giáo huấn cao thường được xem như bí mật hay bí truyền, tuy thế, không bao giờ định ý ngăn cản một ai đạt được các trình độ cao hơn về kiến thức được cổ võ, mà chỉ là một sự cố gắng nhắm tránh những cuộc trò chuyện bép xép và những suy luận vô ích; nó lôi kéo người dốt vào những nhận thức sớm về các tình trạng tâm thức cao, mà chưa hề có những cố gắng cần thiết để đạt đến các tình trạng ấy bằng phương tiện kinh nghiệm” (MGTT; Tr.43). Chẳng hạn nơi Mật Tông Tây Tạng, “Từ thời xa xưa, trong kinh điển của “Đại Chúng bộ” đã có những tập công thức ảo thuật mang tên là Đà La Ni hay Đái Trí Tạng. Đà La Ni là những phương tiện để định tâm tại một tri thức hay một ảnh tượng thấy được trong thiền định. Chúng nó có thể nhân cách hóa cái tinh yếu của một lời dạy cũng như kinh nghiệm của một trạng thái tâm thức nhất định; trạng thái này nhờ vậy có thể được nhắc lại hay tái tạo tùy ý và bất cứ lúc nào. Do sự kiện này, chúng cũng có thể đuợc gọi là Đái trí hay Tiếp trí. Xét về tác dụng hay chức năng thì chúng chẳng khác gì thần chú, nhưng trước nhất chúng là sản phẩm và là phương tiện phụ giúp cho thiền định. Nhờ trầm tư (chỉ quán) người ta đạt được một chân lý; nhờ Đà La Ni, người ta xác định nó và người ta bảo tồn nó” (MGTT; Tr.35). Các thần chú dùng trong pháp thuật tự bản tính riêng của chúng không tác động được mà chính là nhờ sự trung gian của tâm thức đã có kinh nghiệm về nó. “Chúng không có tự lực, chúng chỉ là những phương tiện tập trung các lực đã có sẵn, giống như một thấu kính hội tụ, tự nó không có một chút nhiệt nào, nhưng dùng nó một cách thích hợp, nó có thể biến đổi các tia nắng vô hại của mặt trời thành tác nhân gây ra hỏa hoạn” (MGTT; Tr.29). “Như vậy, chỉ sau một thời gian chuẩn bị và thực hành dưới hình thức tập luyện liên tục thì các thần chú mới có thể có một ý nghĩa, vì chỉ lúc đó chúng mới đánh thức được nơi người thụ pháp các lực được dồn chứa trong suốt các kỳ thí nghiệm trước và mới có thể tạo ra được các hiệu quả mà lúc sáng chế ra, lời chú đã nhắm đạt được” (MGTT; Tr.29-30)

 
Chúng ta tạm ngưng phần Điểm Đạo Ai Cập tại đây. Dẫu còn nhiều vấn đề kỳ bí, hãy để những ai muốn đào sâu tự mình tìm hiểu. Lần tới, chúng ta sẽ nói về Lão học.

- Thưa bác, xin cho cháu hỏi một câu cuối cùng…

- Anh cứ nói.

- Thưa bác, theo như phần tóm lược đại cương về Điểm Đạo Ai Cập, bác nói tới quan niệm tâm linh của người Ai Cập cổ đại ảnh hưởng tới quan niệm của Thiên Chúa giáo. Như vậy, có gì minh chứng đích xác về niềm tin sống lại nơi Kytô giáo phát nguồn từ thần giáo Ai Cập chăng?

- Những gì tôi đọc từ internet đại khái chỉ là những nhận xét của các tác giả tóm gọn chứ không phải sự nghiên cứu đã được cẩn thận tìm tòi, nghiên cứu, cho nên tôi không trả lời được về niềm tin nơi Kytô giáo có bắt nguồn từ huyền thoại sống lại của Osiris hay không. Nói cho đúng, niềm tin về sự sống lại của Osiris chỉ là huyền thoại như những huyền thoại khác, không phải thực thể nghiệm chứng hoặc sự thể lịch sử; nó chẳng khác gì huyền thoại con cháu Thái Dương Thần Nữ của người Nhật hoặc con Rồng cháu Tiên của người Việt chúng ta. Thêm vào đó, nguồn gốc thần thánh nơi Điểm Đạo Ai Cập được cho rằng từ hơi nước bốc lên cô đọng lại; vậy thử hỏi hơi nước ở đâu ra. Đặt vấn đề như vậy, huyền thoại hay quan niệm về thần thánh của người cổ đại Ai Cập không phải là huyền thoại tôn giáo và như thế dầu danh hiệu mang chữ “Đạo,” nhưng tôi cho rằng Điểm Đạo không phải là một tôn giáo. Tôn giáo phát khởi do lòng khát vọng bẩm sinh tự tâm hồn con người, và để bày tỏ lòng khát vọng này, mọi suy tư được bày tỏ qua ám định sau đó kiến tạo ước định, nghi thức của tập thể, những người có cùng chiều hướng tạo thành tổ chức. Anh chị em nhớ cho rằng, mọi đạo học đều bắt nguồn từ chiêm nghiệm về thực thể hiện hữu chính bản thân hành giả dẫn tới Quyền Lực Uyên Nguyên tối thượng nguồn gốc của mọi sự hiện hữu, hữu hình hay vô hình. Đàng này, quan niệm gốc gác của các vị thần phát sinh từ hơi nước nên đó chỉ là huyền thoại. Ngược lại, quan niệm hay niềm tin sự sống lại xác thân nơi Kytô giáo dẫu cho bị ảnh hưởng hoặc được khơi nguồn từ huyền thoại sống lại của Osiris thì niềm tin sống lại nơi Kytô giáo hoàn toàn tách biệt với quan niệm Điểm Đạo. Điểm Đạo Ai Cập chủ đích thực nghiệm thoát hồn để người trong cuộc kinh nghiệm thực thể hiện hữu chính mình. Hành trình thực nghiệm thoát hồn này phải được chuẩn bị và bổ túc bởi nhiều phương diện tâm linh chẳng hạn niềm tin, lòng khát vọng, ước muốn, niềm xác tín qua sự huấn luyện, dạy dỗ. Tuy nhiên, đa số người ta không để ý phân biệt và nhận định; nên bất cứ niềm ước mơ được ám đặt nơi hình thức nào đều bị cho là tôn giáo. Chẳng hạn, Khổng giáo không phải là tôn giáo nhưng những người tin theo đạo Khổng cho rằng Khổng giáo là một tôn giáo như lối phát biểu tam giáo, Nho, Phật, Lão.

 

- Thưa bác, như thế, niềm tin có thể sai lầm.

- Tôi có thể nói luôn luôn sai lầm. Lý do, tin theo một cách mù mờ hoặc tin theo lời nói, lời giảng thuyết của ai đó đều đặt trên căn bản vô minh, lười suy tư, nghiệm chứng nên luôn sai lầm. Không phải do mình nghiệm được nên không dính dáng gì tới mình. Có lẽ đây là nguyên nhân Thích Ca dạy, “Tin vào những lời ta nói mà không nghiệm chứng tức là khinh ta.” Đồng ý rằng, nhiều khi niềm tin không sai trật nhưng vì nó chỉ là niềm tin thiếu nghiệm chứng nên vô bổ. Thí dụ, chúng ta tin rằng mỗi người có hồn hay linh hồn; điều này không sai nhưng đã bao năm tháng nơi cuộc đời mỗi người, niềm tin này giúp ích gì nơi cuộc sống, đặc biệt nơi hành trình tâm linh, hoặc giúp ích gì cho nhận thức hầu thỏa mãn lòng khát vọng tiềm ẩn bẩm sinh nơi mình. Dẫu chúng ta tin rằng sau khi chết, linh hồn sẽ bị xét xử về những hành vi nơi cuộc đời của mình để rồi cố gắng sống tốt lành khỏi bị phạt sau này thì sự cố gắng sống tốt lành thì cũng chính là con đẻ của sự sợ hãi bị phạt sau này chứ niềm tin linh hồn sẽ bị xét xử sau khi thân xác chết không giúp ích gì cho nhận thức về sự hiện hữu của mình, cũng không giúp ích gì để thỏa lòng khát vọng nơi mình. Cũng như thế, nếu chúng ta tin rằng phải sống tốt lành để khỏi bị luân hồi thành những thứ mà chúng ta không muốn hoặc e ngại sẽ xảy đến cho mình nơi kiếp sau thì niềm tin này cũng là con đẻ của sự sợ hãi điều mình không muốn chứ không giúp ích gì cho hành trình tâm linh chút nào. Bởi thế, chỉ những người dùng nhận thức đặt vấn đề nghiệm chứng về thực thể hiện hữu của chính mình để rồi nhận ra mọi ước muốn, ước mơ, tham vọng, mưu mô, ý định, ý nghĩ phát xuất từ một thực thể nào đó nơi con người của mình được gọi là linh hồn, và từ nhận thức được nghiệm chứng này hướng dẫn cuộc đời mình, hướng dẫn suy tư, ước muốn đối chiếu với kinh sách đạo học hầu nhận biết hành trình nào mình nên theo, lối sống nào mình nên áp dụng nơi cuộc đời; niềm tin phát xuất từ nhận thức được nghiệm chứng này mới không bị sai lầm. Không trải qua hành trình nghiệm chứng, niềm tin có được từ nghe sao biết vậy đều vô bổ, đều được coi là sai lầm bởi mình nghĩ rằng, hoặc cho là tin nhưng không phải niềm tin của mình mà là của người khác. Thử hỏi, người khác ăn mình có no không? Hoặc người khác uống bia mình có say, có lâng lâng để rồi ăn nói bạt mạng không? Người khác cầm dao cắt tay họ chảy máu mình có đau không?

- Thưa bác, nhưng đạo Công giáo dạy phải tin xác loài người ngày sau sống lại, Sỹ nhà con lên tiếng chen vô.

- Đúng là không thể bổ đầu bò để nhét óc chó vô được; mà cố tình nhét óc chó vô, thì đầu bò cũng không thể nào sủa gâu gâu. Bác đã giải thích như thế còn cố gân cổ ra mà cãi. Tình cắt ngang lời Sỹ.

Cả bọn phì cười vì câu nói dí dỏm, coi thường lời nói của Sỹ. Không ngờ anh chàng lầm ngầm mà xổ ra câu nào câu nấy cay cú như thế.

- Anh Sỹ, cụ Tài lên tiếng, nơi đây chúng ta không nói về niềm tin tôn giáo. Điều mà tôi muốn nói là niềm tin thiếu nghiệm chứng thường được gọi là tin thì luôn luôn sai lầm vì nó không phải tự mình kinh qua. Tôi cũng đã nói rõ rằng; tôi không biết về ảnh hưởng của huyền thoại sống lại của Osiris liên hệ hoặc ảnh hưởng tới niềm tin xác thân sống lại nơi Kytô giáo ra sao. Điều tốt nhất, anh hãy tự nghiệm chứng điều anh được dạy dỗ. Ở đây, chúng ta không nói đến Kytô giáo dạy, Phật giáo dạy, Ấn giáo, hay bất cứ tôn giáo nào dạy phải tin thế nào. Anh không chấp nhận những luật điều hoặc niềm tin của bất cứ tôn giáo nào thì anh không thuộc về tôn giáo đó. Hoặc miệng anh nói rằng tin theo nhưng lòng ruột anh còn khúc mắc thì anh phải tự mình tìm kiếm thỏa mãn lòng khát vọng bẩm sinh của anh. Anh không nhớ câu chuyện mười nàng trinh nữ nơi Phúc Âm sao. Năm nàng trinh nữ suy nghĩ, đặt vấn đề có thể thời giờ rước dâu bị trễ nên mang thêm dầu thì được cho là khôn ngoan. Năm nàng khác chỉ tuân theo sự bảo sao làm như vậy nên đã không chịu suy nghĩ, đặt vấn đề; do đó bị cho là ngu muội. Cũng phải nói cám ơn anh đã nêu lên thắc mắc nhưng thắc mắc trật. Mặc dầu thế, nó cũng là cơ hội cho mọi người đặt lại vấn đề về niềm tin của mình.

- Nhưng thưa bác, điều cháu muốn nêu lên lại chưa kịp nói hết; cái thằng khỉ kia nó đã vội sủa. Số là nơi Phúc Âm có câu, “Thần Khi mới tác sinh, xác thịt không ích gì” (Gn. 6:63). Thế thì mắc mớ gì phải nói đến thân xác sống lại. Cháu trộm nghĩ, vì linh hồn tức là thần khí nên không thể chết được, cho nên thân xác chỉ là phương tiện trong giai đoạn thời gian thuộc không gian nào đó như cơ hội cho hồn hoạt động, tạm gọi là luân hồi đi, cháu nghĩ mới hợp lý hợp tình; chứ đã phán xét, rồi hoặc là lên hoặc là xuống đời đời thì sống lại làm gì cho thừa thãi mà phải tin. Sỹ cố giãi bày quan điểm của mình về sự sống lại xác thân.

- Anh chị em nên nhớ lại, lý thuyết Luân Hồi phát xuất từ Ấn học. Lý thuyết này quan niệm rằng vì Atman là một phần của Brahma nên không thể chết được và mọi sự, mọi việc nơi cuộc đời chính là hành động của Brahma; thế nên nếu Atman chưa giác ngộ để trở về cõi uyên nguyên với Brahma thì sẽ được cho thêm cơ hội khác để học hỏi những điều phải học để giác ngộ chứ không phải một cuộc vay trả luân lý, sống cuộc đời không nên, kiếp sau sẽ trở thành con sâu, con bọ, đáng kinh khiếp theo quan điểm nhân sinh. Riêng phần đối chiếu niềm tin được dạy dỗ và Phúc Âm, tôi không có ý kiến vì tôi không bắt ai phải tin bất cứ điều gì, mà tôi thấy nên học từ Thích Ca, “Lời ta nói như chiếc bè; ngón tay ta chỉ mặt trăng nhưng ngón tay ta không phải là mặt trăng.” Ai nghĩ sao thì nghĩ, hiểu sao thì hiểu chứ đừng vội tin, nhất là không có gì phải hay trái nơi đây. Đúng hay sai, phải hay trái tự nơi mình nhận thức; sự thể, sự việc hiện hữu đâu lệ thuộc quan điểm mình cho là đúng hay sai. Riêng vấn đề này, quý anh chị làm ơn hãy đợi tới phần nói về Phúc Âm; chẳng có gì phải vội vã và ấm ức lúc này. Tuy nhiên, chắc quý anh chị ai cũng biết, nơi Phúc Âm lại có câu, “Phúc cho kẻ không thấy mà tin.” Tôi chân thành khuyến khích quý anh chị để tâm nghiệm chứng ngôn từ được gọi là tin được dùng nơi Phúc Âm, hy vọng đầu bò có thể sủa gâu gâu chăng. Cụ Tài vừa nói vừa mỉm cười trong khi liếc mắt nhìn Tình khiến ai nấy cảm thấy vui vui nhớ lại lời phát biểu của anh chàng lầm ngầm.

- Thưa bác, Thanh lên tiếng, có thể rằng người tiền cổ Ai Cập đã nhận ra thực thể thân xác con người bao gồm hầu hết là nước, cỡ 85 phần trăm như khoa học ngày nay chứng minh nên huyền thoại Osiris được sinh ra bởi hơi nước có nguyên nhân từ nhận thức ấy chăng? Thêm vào đó, nếu cháu không lầm thì vị thế và cơ cấu của Kim Tự Tháp chứng tỏ một trình độ nhận thức về toán học và kỹ thuật khá cao. Mới cách đây mấy ngày, cháu đọc nơi net nói về sự thể Kim Tự Tháp trên khắp thế giới bắt đầu phát ra chùm tia năng lượng gì gì đó bắn lên bầu trời mà người ta đã có thể chụp hình được. Cháu cũng đọc đâu đó về nền văn minh Maya thời cổ đại rất phát triển; họ đã phát triển khái niệm “số 0” sớm hơn châu Âu khoảng gần 900 năm, đồng thời kết quả tính toán về thiên văn học theo một không gian và thời gian dài cực kỳ chính xác. Dẫu hệ toàn thân của họ là 20 bắt nguồn từ nhận thức mười ngón tay, mười ngón chân, nhưng họ đã xác định chính xác độ dài của một năm là 365 ngày tức là thời gian trái đất quay hết một vòng quanh mặt trời, nhưng không hiểu tâm linh họ tiến tới đâu…

Cụ Tài ra hiệu cho Thanh ngưng, đoạn nói,

- Nhà bác học Albert Einstein có câu nói, “Trí tưởng tượng quan trọng hơn kiến thức.” Tôi thuộc thế hệ già rồi; hơn nữa, những sách vở ngày xưa tôi tra cứu và nghiệm chứng không thể nào bằng những kiến thức được đăng trên hệ thống internet ngày nay. Mặc dầu biết được như thế, anh chị em cũng nên hiểu cho, với tuổi gần đất xa trời, sự tìm tòi hiểu biết sẽ chậm chạp hơn bất cứ anh chị em nào nơi đây; nên tôi khuyến khích mọi người nên tìm hiểu cho thấu đáo những vấn đề mình cảm thấy thao thức. Chẳng những thế, khi tìm hiểu qua sách vở hay qua mạng lưới điện tử, chúng ta cần tận dụng sự tưởng tượng nơi mình để nhận thức thêm về điều mà ngôn ngữ không diễn tả được, hoặc tác giả đã không để ý mà viết ra. Tôi cũng có xem qua một số bài viết về lịch sử nền văn minh Maya nhưng không muốn đá động đến vì điểm chính yếu mà tôi muốn tìm là nhận thức tâm linh. Có giả thuyết nền văn minh Ai Cập được coi là tiếp nối của nền văn minh Maya, và nền văn minh Maya bắt nguồn từ những người chạy thoát khỏi sự chìm ngập dưới biển của châu Atlantide; nền văn minh này kiến tạo nên những Kim Tự Tháp; và mới đây, tôi cũng đọc qua sự phát sinh năng lượng của Kim Tự Tháp, nhưng những sự kiện này quá bất ngờ, tôi chưa suy nghĩ được gì có thể liên hệ tới hành trình tâm linh con người. Hy vọng anh chị em nào tìm hiểu và suy nghiệm thêm; may ra chúng ta thăng tiến phần nào sự thức ngộ nơi mỗi người chăng. Thôi, thời gian cũng muộn rồi, chúng ta tạm ngưng. Lần tới chúng ta sẽ nói về Đạo Đức kinh.

- Chủ xị cho lần tới, giọng Tình kéo dài

- Lần tới mời cụ và anh em quá bộ đến nhà tôi, ông Thung lên tiếng.

- Đến nhà anh thì ai cầm chịch, rồi lấy gì mà uống; chẳng lẽ trà và bánh ngọt thì có gì hứng khởi cho đầu óc thông minh hơn. Không được, đến nhà anh, lão thì có nhưng đạo thì không! Chán chết! Sỹ nhà con vội vàng nêu ý kiến.

- Chú mày năng lực được bao nhiêu mà thông với minh, thông manh thì có, lại còn đòi thông minh hơn; phỏng chú có biết chú nói gì không?

- Anh nói gì, bộ một tiểu đội mà chưa đủ năng lực sao; gấp mấy lần anh rồi! Thế hun đít cảnh sát mới thông minh sao!

Số là tuần trước trời mưa dai dẳng khiến đường xá ướt nhèm. Chị Thung nấu món canh chua nhưng nhà hết me gói khiến ông Thung phải lái xe ra chợ. Gặp khúc đường đang sửa, bùn đất vữa nơi mặt lộ, chiếc xe cảnh sát phía trước nối tiếp đoàn xe với tốc độ cỡ ba mấy, bốn chục miles. Ông Thung trờ tới, ác hại thay, không hiểu chuyện gì phía trước khiến xe cảnh sát thắng gấp. Do thắng vội, xe ông Thung trượt trên bùn, cát nên đụng nhẹ vào cảng sau xe cảnh sát. May mắn, gặp được người cảnh sát trung niên dễ dãi, lại chẳng có gì hư hại nên ông Thung không bị chi rắc rối, không ticket, không warning.

- Tớ đụng nhẹ để nhắc nhở ông ta quên không gắn phía sau bảng “Don’t Kiss Me.” Tớ đã chỉ cho ông ta sự thiếu sót; do đó không phải lỗi ở tớ mà lỗi ở cảnh sát. Chú mày đâu biết chi mà hun với đốt.

- Vâng, đúng rồi, ông cảnh sát nên cảm tạ và lỡi ngãi vì bị hun đít xe.

- Thôi, thôi, được mời lại còn chảnh. Giỏi lắm thì cũng chỉ uống một ly đã hơn ai, Tình đế vô. Tuy nhiên, nhà anh cả quá cận với hàng xóm lại hơi rộng nên có lẽ không đủ chỗ cho đám này đàn đúm, lỡ ca ok, oca phiền hà đến hàng xóm láng giềng. Tôi đề nghị, nếu không có ai xung phong thì xin mời về nhà tôi. Chuyến biển vừa qua tôi vớ được một đám nhệch (lươn biển), bán không ai mua, ăn chưa hết, mời bác và quý vị thưởng thức lẫu nhệch với bún, nhậu cá khoai kho tiêu sả ớt kèm theo rau diếp, lá thơm cây nhà lá vườn cả một rừng. Ai không đồng ý thì giơ tay; ai đồng ý, yêu cầu ngồi im.

- Lẫu nhệch tạm được nhưng có phơi được ít nhệch khô nào không? Nhậu nhệch khô nướng đã quên chết. Nếu chú không có, tôi ủng hộ một ít, hay là đem nhệch và cá khoai sang nhà tôi nhậu, tôi phụ thêm nhệch khô nướng. Hê, hê, chú Sỹ thừa năng lực bê sang vài chai rượu, ít két bia để minh chứng xem có thông minh hơn được chút nào chăng!

- Để tôi đem rượu sang, ai phúng điếu bia cũng được. Tôi có mấy chai “Bò Đi Ông,” Mờ mờ, Henessy, Cordon Blue, Cordon bliếc gì đó và chai Crown Royal to tổ bố chẳng biết làm gì với chúng, chỉ chật chỗ; tôi sẽ mang tới có lẽ đủ để chú Sỹ say quên đường về cho chừa.

- Hoan hô anh cả! Không ngờ năng lực của anh mạnh đến thế, nhà con sẽ cung phụng bốn két mười hai chai Heineken.

- Nếu anh em nào có cơ hội, nên đọc cuốn Đạo Đức Kinh trước khi chúng ta gặp nhau nói về Lão học lần tới. Dẫu Đạo Đức Kinh chỉ có trên dưới năm ngàn chữ nhưng có khá nhiều vấn đề được đề cập. Hơn nữa, nếu có thể, anh em cũng nên đọc trước cuốn Nam Hoa Kinh của Trang Tử; vì Nam Hoa Kinh phụ giúp cho hành trình nghiệm chứng Đạo Đức Kinh hoàn hảo hơn. Chúc quý anh chị em những ngày sắp tới may mắn….

 
 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

CHƯƠNG 7

 

 

Chiều nay, trời mưa nên không có đám nhóc nhưng lại có vợ chồng Tiên quán phở và cô con gái. Tiên mang theo một đùi dê hấp rượu mùi vị khác thường khiến ai nấy lòng ruột xốn xang, và vì chưa khai mạc do cụ Tài và Hưng chưa tới nên đành uống bia dằn bụng. Mấy người đàn ông, nhóm năm, nhóm ba bàn chuyện trời mây trăng nước hoặc vài vấn đề thiết thực làm ăn. Phía các bà, các chị cũng thế, nhóm nói chuyện ăn mặc hoặc chợ búa, mua bán; nhóm bình phẩm, nhận định người nọ, người kia. Sáu đứa trẻ, ba đứa con nhà Thanh, hai đứa con nhà Tình, cộng thêm con gái nhà Tiên bán phở, chia phe thảy bóng rổ lúc trời ngưng mưa.

 
Sau khi chuẩn bị và kiểm soát món ăn chờ được dọn lên bàn, Thanh ra vườn hái mấy trái ớt tươi hầu giúp cho khẩu vị thêm đậm đà khi ăn món lẫu nhệch. Thanh chọn những trái ớt ương ương, mang màu hung hung gần chín tới. Loại ớt này ăn dòn, không cay gắt mà hương vị lại thơm. Mới bất một cây mà đã cả vốc ớt, Thanh phải bỏ vô túi áo vì khi ra vườn quên không mang chiếc rá hoặc bao nylon để đựng. Tay hái ớt, mắt nhìn những màu sắc xanh xanh của lá cây, đỏ đỏ ớt chín, hung hung hoặc xanh đậm hơn pha ố vàng của những trái ớt đang chờ được bất, Thanh miên man nghĩ tới sự hòa hợp tự nhiên của màu sắc rồi liên tưởng đến cuộc sống con người; chợt nhớ nơi cuốn sách nào đó có câu nói, “Cuộc đời sẽ dẫn dắt một người đi đúng con đường họ phải trải qua.”

 
Từ thuở nhỏ tới ngày vượt biên, có bao giờ anh dám mơ tưởng ngày nào đó sẽ được đặt chân nơi miền đất Âu Châu hoặc Mỹ quốc. Thế rồi vượng lên tâm tình cảm thương cho anh em họ hàng, những người kém may mắn, thời này đang phải bươn trãi kiếp sống, vật lộn tiêu hao tháng ngày sao cho có miếng cơm manh áo; rồi nào con cái nheo nhóc, vợ chồng lầm than mà vẫn lâm cảnh thiếu hụt, giựt gấu vá vai. Hình ảnh những trẻ em trên net nơi những bãi rác kiếm bao nylon đã bao lần gợi lại nơi tâm trí; Thanh chợt thở dài cảm thương cho phận người. Ôi, Thanh thầm hỏi, không biết những em nhỏ đó có cơ hội nào được nghe đến hai tiếng “Tương lai,” hay vì những đống rác quá cao so với thân xác các em nên đã bịt kín khoảnh trời trước mặt! Con đường nào cho các em đi, và nơi một xã hội con người mưu sinh khổ hơn con vật thì lấy gì làm căn bản để thăng tiến; đầu óc nào dám nghĩ đến ngôn từ thần thánh ấy. Ôi, tương lai! Tương lai dân tộc!

 
Những trái ớt nhắc nhở anh bữa nhậu sắp đến; nhệch khô nướng, lẫu nhệch, cá khoai kho tiêu sả, đùi dê hấp rượu, cơm, bún, rau rợ thập cẩm, rồi rượu, bia, nước ngọt, nước trà…, anh tự hỏi mình có thể làm gì giúp anh em, họ hàng nơi quê nhà. Một đất nước nghèo nàn tận cùng xã hội thì có bao nhiêu tiền gửi về cũng chỉ như gió thổi qua nhà trống. Trên net, rồi nghe tới, nghe lui, biết bao chuyện chẳng nên đã xảy ra cũng chỉ vì hoàn cảnh bần hàn. Có câu nói, bần cùng sinh đạo tặc, đói làm giặc, túng làm liều. Mấy lần gửi tiền để người em họ tráng xi măng nền nhà cho sạch, tránh cảnh mấy đứa trẻ lê la bụi bậm, và người em thì qua lá thư nào cũng dùng ngón đòn kêu ca nhà cửa tường xiêu, vách nát. Hình như xã hội ấy đã biến con người thành thứ lừa đảo, kiếm đủ mọi cách để lạm dụng tình thân, miễn sao thêm được chút nào hay chút ấy. Dẫu ruột thịt, thế mà chỉ vì muốn moi móc của không cần mồ hôi, người ta đã dùng những ngôn từ một cách sắc sảo, độc ác khiến cho người đọc mang cảm nghĩ tội lỗi nếu không cho họ tiền. Cô em họ bán nước đá nơi một góc chợ, mình gửi tiền hàng tháng cho ba đứa con cô ta đi học; mới được tháng thứ ba, đã nghe tin cô ta nghỉ bán nước đá, viện cớ mỗi ngày chỉ lời được hơn trăm ngàn (Tiền VN năm 2015). Nỗi buồn bực nào đó dâng lên nghèn nghẹn cổ, Thanh thở dài! Mình làm được chi!

 
Tiếng xe máy bể ống bô xé không gian vòng về phía sân sau nhà cắt ngang tâm tưởng khiến Thanh ngẩng lên nhìn. Sỹ nhà con đeo cặp kiếng đen úp chụp nửa khuôn mặt; phía sau, chị vợ thoải mái đôi tay bám vai chồng. Ah! Hôm nay chị này diện đúng mốt anh hùng xa lộ, quần ống tuýp, áo ngắn tay, trễ lưng, tóc cột đuôi ngựa. Dẫu có chút tuổi, con cái cả tá, nhưng trời ban cho chị ta thân hình thon thả, mi nhon, lại luôn luôn tươi trẻ. Nhìn cặp vợ chồng này đi xe máy thấy cũng hay hay, chỉ tội nó kêu phá làng phá xóm, điếc cả tai.

- Vô thôi, bác tới rồi, Sỹ hướng về Thanh la lớn.

- Sao ông biết? Thanh hỏi.

- Tớ chạy phía sau xe của Hưng mà. Vô thôi!

- Sao giờ này ông bà mới tới? Tụi nhóc đâu?

- Cái quân Mỹ vàng ấy đâu biết ăn lẫu nhệch nên tớ phải tha về một giỏ Kentucky fried. Trên đường về, không biết đứa nào hếch mắt lên, đường thì chẳng chạy, lao ngay xuống rãnh nên kẹt xe cả nửa tiếng đồng hồ; bởi vậy, tớ vác cái ông bể bô này e lỡ kẹt đường nữa thì lách cho tiện.

- Tưởng ông bà tham gia trình diễn hoa hậu xa lộ chứ.

- Anh Thanh lầm to rồi. Ông ấy đâu chịu; sợ đông người chiêm ngưỡng mòn vợ ổng thì sao! Chị Sỹ lên tiếng.

- Bu mày nói đúng đó. Lỡ thằng nào nó bợ mất bu mày thì lấy ai thưa kinh!

- Ối dà! Từ ngày lấy nhau đến giờ ông mới nói được một câu nghe tàm tạm.

Ông Thung mở cửa sau bước ra, lên tiếng,

- Cụ tới rồi, các ông các bà đi du hí mãi đâu mới về?

- Ông sắp xếp anh em an vị; tôi còn phải rửa món cay đắng này, Thanh trả lời.

 
- Hôm nay anh cả làm chủ xị, có chị hai chứng dám nếu không lại bảo tụi này không biết kính lão đắc thọ. Sỹ nhà con chưa kịp ngồi vô ghế đã oang oang phát biểu.

- Các chú định đưa lão vào rọ hay sao! Chẳng nói giấu gì cụ và anh em, mấy cháu nhà tôi chúng biết bố chúng không uống rượu nên biếu rượu để chưng, ngụ ý luôn luôn nhắc nhở lòng hiếu thảo của con cái mỗi khi ai vô nhà. Thế nên, thứ nhất, nhà tôi không có tủ chưng chén kiểu, ly cảnh, phương chi chưng rượu. Đàng khác, quăng vô thùng rác thì tiếc, để vô góc nhà e bị mốc hoặc bay hơi hết chăng. Điều khốn khổ nhất lại là chúng chiếm hết chỗ đi lại; thôi thì mang qua đây nhờ quý vị rước đi cho nhà cháu nhờ. Nhưng mọi sự kể ra cũng chưa phiền hà bằng nỗi e sợ của chị hai…

- Cái ông này, chị Thung kêu lên…

- Cái với con gì, ông Thung quay qua vợ giả bộ oan uổng, bà ấy cứ sợ lỡ tôi uống say ngủ quên.

Mọi người phá lên cười trong khi chị Thung cảm thấy hơi lạ không hiểu vì sao họ cười. Ông Thung giơ tay làm hiệu, nói tiếp,

- Vì chúng tôi, kể là cũng có tí tuổi, không biết sống chết lúc nào, nên tối nào cũng tụng kinh. Bà ấy sợ tôi uống say ngủ quên tụng kinh. Bằng chứng là mấy lần đầu nhóm họp với anh em để nghe cụ nói, lỡ về muộn nên bà ấy cứ cằn nhằn ham vui quên cả kinh sách. Mà đâu phải nhắc nhở nhiều chi, bà ấy nhắc đi, nhắc lại ít ít thôi, cả ngàn lần. Tôi xin phép được hỏi cụ và anh em, dẫu có tí tuổi nên hay quên thì cũng chỉ cần một vừa, một phải, dăm bảy trăm lần là quá đủ, đàng này cả ngàn lần; do đó cuối cùng tôi phải bợ bà ấy đi theo để được chia sẻ thú đau thương cùng tôi cho trọn đạo nghĩa vợ chồng. Đến đây, tôi xin hết lời, cảm ơn cụ và quý anh em đã chịu khổ nhịn thèm để nghe.

 

Thế là ầm lên những tiếng vỗ tay, cười nói hả hê. Chị Thung thấy lòng mình vui vẻ thoải mái với mọi người, không ngờ ông Thung dạo này ăn nói hoạt bát, lanh lợi ngược hẳn lại kiểu cách đã bao lâu nay kín đáo, nhẹ nhàng, và chừng mực, e mất lòng người khác hoặc lỡ mang tai tiếng. Ông Thung lấy chai Hennessy XO, mở nắp, rót vô ly của cụ Tài, sau đó rót cho mình, đoạn chuyền cho người kế tiếp. Đến người cuối cùng bên tay phải cụ Tài là anh Thanh thì chai rượu cũng vừa hết.

 
* * *

 
- Hôm nay chúng ta nói về Lão học, cụ Tài lên tiếng sau khi bàn ăn đã được dọn dẹp sạch sẽ chỉ còn lại chén, tách uống trà và những chai bia. Đã có anh chị em nào đọc qua cuốn Đạo Đức Kinh chưa?

- Thưa bác, cháu có đọc bản dịch và diễn giải của cụ Thu Giang Nguyễn Duy Cần và một đôi bài viết trên internet, nhưng cháu cảm thấy hình như các tác giả cứ lòng vòng phía ngoài, hoặc nhận định Lão học một cách quá ư phiến diện, hay cho rằng Đạo Đức Kinh là một thứ triết lý nhận định về cuộc sống. Đại khái, nói chung, dẫu có người Tây phương nghiệm chứng phần nào về Lão học đã đào sâu về những kinh sách, quan niệm thời hơn kém ba ngàn năm trước được coi như những thành phần cấu tạo nên Đạo Đức Kinh, nhưng hình như lối nhận định của họ vẫn bị ảnh hưởng nặng nề diễn giải cho người khác hiểu chứ không nói lên được kinh nghiệm nghiệm chứng hay thực chứng những công án nơi Lão học. Cháu dùng ngôn từ công án để chỉ về những câu nói có vẻ nghịch thường nơi Đạo Đức Kinh; thí dụ, “Người biết không nói, kẻ nói không biết,” hoặc “Đi xa tức là về gần.” Nếu cháu không lầm, đa số các tác giả người Việt hay Tàu đều đã có những nhận định sai lầm về Lão học, ngay nơi câu khởi đầu của Đạo Đức Kinh, “Đạo khả đạo phi thường đạo.” Thiển nghĩ, theo ngôn ngữ, không thể dịch tên riêng nhưng họ đã diệt tên riêng, biến chữ “Tào” sang chữ “Đạo.” Tào có nghĩa quyền lực tối thượng, thực thể Uyên Nguyên, hoặc Thượng Đế, Thiên Chúa, Ông Xanh, Ông Trời thế rồi giải nghĩa Tào là Đạo, Đạo là đường, “The Way” để suy luận theo lối nhìn triết học và cho rằng Lão học là đường lối dạy con người theo lối sống thế tục trong khi Lão học, Phật học, Trang Tử, Ấn học, Kinh Thánh, Phúc Âm, là những đạo học, những phương tiện cho con người nghiệm chứng nơi hành trình tâm linh hầu thức ngộ. Thưa bác, đại khái như thế, nói ra vô cùng và cũng chẳng nói được gì. Thanh nói một hơi và cho rằng chẳng nói được gì.

 
- Anh chị em đã có ai nghiệm được câu nói của Lão học, “Người biết không nói; kẻ nói không biết” chưa? Đã có lần tôi nhắc qua nhưng nếu không để ý nghiệm chứng, chắc có lẽ anh em đã quên.

- Thưa bác, cháu có thể kể về trường hợp nghiệm chứng của mình không vì cháu thấy lần trước bác giải thích và thường thì nhắc đến ngôn từ nghiệm chứng, thực chứng chứ chưa dẫn dắt chúng cháu nghiệm chứng. Thế nên, cháu nghĩ kể lại kinh nghiệm nghiệm chứng may ra mang lại hữu ích chăng; cháu không dám đoan quyết.

- Anh nói đúng, và tôi đã cố ý không trình bày bất cứ kinh nghiệm nghiệm chứng nào vì như tôi đã nói, giải thích chỉ làm hại anh em; có chăng chỉ giải nghĩa phớt qua với chủ đích thách đố, nhưng hình như anh em thấy tôi già cả không thèm chấp; nên không ai nổi tự ái lên mà đào sâu vô những công án; nói cách khác, nghiệm chứng hoặc thực chứng công án. Sách vở cũng không trình bày bất cứ hành trình nghiệm chứng nào, mà có chăng chỉ nói phớt qua hay giải nghĩa; nên người đọc nếu không để ý sẽ không bực mình vì lối nói mù mờ do tác giả đã không kinh qua nghiệm chứng thì cũng chẳng nhận thức được gì. Mời anh chia sẻ.

- Thưa bác và mọi người, lần trước hình như chú Sỹ ngộ được câu “Nói như cái đếch,” chú có giải nghĩa được nhận thức đó không?

- Thì có gì đâu, người dùng câu, “Nói như cái đếch” không bực tức mà người nghe lại xốn xang lòng ruột thì câu nói đó tự nó là nó, lòng ruột người nghe xốn xang hay không tùy lòng ruột của mình. Nói cách khác, câu nói, “Lửa thì không nóng nhưng tại mình cảm thấy nó nóng” không nói gì về lửa mà nói về phản ứng ngay tại tâm tư của mình. Cháu chỉ biết nói thế, không hiểu đúng hay sai, thưa bác.

- Tôi nghĩ mọi người đều hiểu, và anh Sỹ giải thích rất rõ ràng, nhưng có anh em nào nghiệm chứng được câu nói đó, làm ơn giơ tay.

Ba cánh tay giơ lên, Sỹ nhà con, Thanh, và Hưng.

- Trước khi anh Thanh trình bày hành trình nghiệm chứng riêng của mình, tôi muốn nói về nguyên tắc nghiệm chứng. Nếu anh chị em thực sự muốn áp dụng; tất nhiên, anh chị em sẽ cảm nhận được niềm vui không thể diễn tả. Đó là, đem câu nói nào đó khó hiểu hoặc nghịch thường đối với mình áp dụng nơi chính mình; nghĩa là mình đứng vào trường hợp của câu nói đó để rồi lục lọi nơi kinh nghiệm ở quá khứ của mình. Suy nghĩ tới, suy nghĩ lui, kiếm đủ mọi cách, giải đủ mọi kiểu sao cho câu nói nghịch thường đó có ý nghĩa nơi nhiều trường hợp, đặc biệt trường hợp nào đó tương tự nơi kinh nghiệm của mình. Tôi chỉ có thể đề nghị như thế. Vấn đề không phải là sự giải nghĩa của tôi mà chính là sự thực hành của mỗi người. Xét thế, có nói thêm cũng vô ích vì dẫu nói thêm cũng chẳng nói được gì. Nào, mời anh Thanh.

- Thưa bác, cháu xin nói thêm một câu về phương pháp nghiệm chứng. Đó là, bất cứ câu nào nói về vấn đề hay sự gì, cũng đang nói về tâm hồn của chính người nghiệm chứng. Ai có tai thì nghe. Bây giờ cháu xin trình bày hành trình nghiệm chứng của mình về câu nói nơi Lão học, “Người biết không nói; kẻ nói không biết.”

 
- Số là năm 1975 cháu học gần xong lớp 12 thì chạy loạn ngày 30 tháng tư. Ba tháng sau được định cư tại Mỹ. Bố cháu có việc làm tại lò mổ heo, làm những công việc nặng mà người Mỹ không ai muốn làm như quét dọn chuồng nhốt heo, rửa những xoong, chảo, đường kính cao hơn đầu người cũng như quét dọn chung quanh bên ngoài xưởng nhốt heo. Được ít ngày cháu cũng nhận được việc làm tại hãng cung cấp nước cho thành phố, làm những công việc của một người phụ cho nhân viên để học thêm những công việc chuyên môn như cắt ống nước, làm ren ống, đào đất cho thợ sửa những ống nước bị rò rỉ. Sáu tháng sau, khi thấy gia đình tạm yên ổn với đồng lương nhân công của bố cháu, cháu nghỉ việc và nhập học lớp 11 vì nhà trường nói cháu cần học hai năm trung học chuẩn bị Anh văn trước khi lên đại học. Năm 1978 nhân tiện ghé qua một tiệm sách tiếng Việt tại thành phố Chicago vào hai tuần nghỉ thường niên khi về thăm gia đình, cháu mua những cuốn Phật Học Tinh Hoa, Lão Học Tinh Hoa, Tinh Hoa Đạo Học Đông Phương, Cái Cười Của Thánh Nhân và một vài cuốn khác để đọc dần. Cháu đọc cuốn Lão Học Tinh Hoa trước; vừa mở sách, ngay nơi trang thứ hai phía dưới nơi góc phải được in câu, “Tri giả bất ngôn; ngôn giả bất tri,” đồng thời cũng in thêm câu dịch nghĩa, “Người biết không nói; kẻ nói không biết.” Thế là lòng ruột của cháu nổi lên một trận hoang mang. Cháu đọc hết cuốn sách nhưng cũng chẳng biết đại khái cụ Thu Giang Nguyễn Duy Cần bàn luận những gì mà tâm trí lúc nào cũng vương nỗi thắc mắc vì câu nói nghịch thường, người biết không nói; kẻ nói không biết.

- Ngày qua tháng lại, những cuốn sách khác đã được đọc hết, cháu đọc lại cuốn Lão Học Tinh Hoa… Tính cho tới năm 1989 vị chi 11 năm sau, cháu đã đọc cuốn này 5 lần mà cũng chẳng hiểu được gì. Sách nhà Phật, cháu muốn nói sách viết về Phật học chứ không phải sách viết về Phật giáo; cụ Nguyễn Duy Cần cũng như các tác giả khác nói về nào là định tâm, quán tưởng, công án, tùm lum tà la. Những sách giảng kinh chẳng hạn Kinh Kim Cang, Kinh Viên Giác, Kinh Đại Niết Bàn, còn bày vẽ thêm tâm Phật, tánh Phật; rồi nào “Kiến tính thành Phật,” ngược lại gặp Phật giết Phật, gặp tổ giết tổ, gặp pháp bỏ pháp; nào ngũ tổ Hoàng Nhẫn cầm gậy đánh chó giơ lên thách đố trước ba ngàn môn đồ, “Nói đi, cái này là cái gì; nói rằng nó là cây gậy đánh chó, ta đánh cho 30 hèo; nói rằng nó không phải là cây gậy đánh chó ta cũng đánh cho 30 hèo; nói đi, nói đi,” trong khi ba ngàn môn đồ miệng như ngậm thóc, không ai dám lên tiếng. Sách về Ấn học cũng thế, nào là Hattha Yoga, nào Kyrâ Yoga, muôn ngàn thứ công phu, quán tưởng, quán tính. v.v… Sách nào cũng hay, pháp nào cũng tuyệt vời nhưng chẳng giúp ích gì cho cháu. Nơi cuốn Phật Học Tinh Hoa, cụ Nguyễn Duy Cần còn ghi lại câu truyện thức ngộ của hòa thượng Hương Nham và cũng chẳng giải thích gì. Cụ còn ghi lại một số truyện nơi Nam Hoa Kinh và những câu nói khác thường, đóng thành cuốn Cái Cười của Thánh Nhân. Qua sách vở, cháu thấy nơi vườn đạo học đông phương được ghi lại lắm vị chân nhân, nhiều người thức ngộ, kẻ thì đốn ngộ, rồi nào tiệm ngộ, lại đến tông phái này, đạo giáo kia, chỉ những danh hiệu không cũng nhớ chẳng hết phương chi phép tắc, pháp tắc, rồi kinh, rồi niệm, bùa nọ, chú kia, nhào nháo như món gâm bô của Mỹ. Đọc những sách đó, cháu cảm thấy mình ngơ ngơ chứ không ngộ được chút nào. Thế nhưng, câu quỷ quái, người biết không nói; kẻ nói không biết cứ như tà ma, luôn luôn ám ảnh tâm tư. Do đọc những sách về đạo học Đông Phương, cháu bị tiêm nhiễm nên phần nào, chắc cỡ chững vài phần trăm, nói ngang giống họ; bởi vậy đôi khi vô tình nói về vấn đề nào đó, bạn bè, người chung quanh đều lên án cháu nói ngang, hoặc khác thường. Có điều, cháu đồng ý với tác giả Lin Yu Tang khi ông viết nơi cuốn được dịch là Một Quan Niệm Sống Đẹp, “Bên Tây Phương không có đủ nhà tù để nhốt kẻ điên trong khi nơi Đông Phương chúng tôi, có người điên nào thì lại được vô cùng kính trọng và sùng bái; chẳng hạn, Lão tử, Thích Ca, Giêsu.”  

- Thế rồi cháu để ý tới cuốn Kinh Thánh sau khi đọc về mấy kinh chẳng hạn kinh Bhagavad Gìta, được dịch là Chí Tôn Ca, kinh Viên Giác. Có điều lạ lùng, vì theo đạo Công giáo nên khi để ý, cháu thấy mấy Phúc Âm còn nói ngang hơn mấy vị chân sư, tổ sư. Thế mới lạ kỳ, nhưng sao không thấy ai cho là nói ngang, nói ngược; trong khi những lời viết trong đó còn nghịch thường hơn; chẳng hạn, “Kẻ trước hết sẽ trở nên sau hết,” hoặc, “Ai yêu mạng sống mình thì sẽ mất nó.” Nơi cuốn Cái Cười Của Thánh Nhân, cụ Nguyễn Duy Cần ghi lại hai câu, khi mới đọc chúng khiến cháu giật mình, đó là, “Cái bóng của Thượng Đế là quỷ vương,” và câu khác, “Thượng Đế và Satan là một.”

 - Cháu đánh đàn cho ca đoàn hát nơi nhà thờ nên để ý nghe giảng giãi Phúc Âm, nhưng chỉ thấy Phúc Âm được giải nghĩa như những bài học luân lý. Dĩ nhiên, nếu hiểu Phúc Âm theo quan điểm luân lý thì phải đối diện với câu nọ chống nghịch lại câu kia không thể nào hòa giãi hợp lý hợp tình được. Tuy nhiên, cháu không dám ý kiến, ý bọ, bởi e rằng bị kết án rối đạo thì quả là phiền. Nói ra thì mang họa mà không nói ra thì lòng ruột ấm ức. Thôi đành học theo Khổng học, ngũ thập tri thiên mệnh. Chuyện đời là thế, nên sống sao cho êm đẹp mọi bề; bởi chúng khẩu đồng từ, nhà sư cũng chết. Đôi lần nghe giảng giãi câu Phúc Âm, “Người giầu có khó vào nước thiên đàng hơn con lạc đà chui qua lỗ kim.” Cháu tìm hiểu lỗ kim là thế nào và nhận ra, cho dù được ám chỉ là chiếc cổng hẹp hoặc lỗ kim may vá thì cũng không cách nào con lạc đà chui qua được. Hoặc câu, “Nếu mắt các ngươi làm cớ cho ngươi vấp phạm thì móc mà quăng chúng đi,” đâu ai áp dụng theo nghĩa từ chương hay luân lý đâu. Cháu nghĩ, nếu hiểu theo nghĩa từ chương, đó là một kiểu khuyến khích con người sống buông thả một cách tuyệt vời.  

- Cháu cũng đọc những câu truyện khuyến khích suy tư chẳng hạn nơi 12 cuốn sách của Anthony de Mello hoặc những công án, nhưng không hiểu tại sao câu nói nơi Lão học cứ luôn luôn dằng dai ám ảnh chẳng khác gì quỷ ám, ma đùa, hết tháng nọ qua tháng kia rồi năm này qua năm khác. Mãi cho tới năm 1989, tức là hơn kém 11 năm, vô tình cháu đọc cuốn Hành Trình Về Phương Đông, bản dịch từ cuốn The Journey to the Far East, cháu không nhớ rõ người dịch là Nguyễn Hữu Kiệt hay Nguyên Phong. Về sau cháu được biết tác giả bản tiếng Anh là một người Mỹ, sinh sống tại Texas, sách được viết qua dạng tập truyện ngắn và dùng lối nhìn vật lý để minh chứng quyền lực hiện hữu hay quyền lực sự sống đang hoạt động nơi mọi loài, mọi vật. Nhờ nhận thức này, cháu bạo phổi, thay vì dùng danh hiệu Thượng Đế, Ông Trời, Thiên Chúa, Chân Như, Brahma, Tào, v.v. để chỉ về quyền lực tối thượng, cháu dùng danh hiệu Quyền Lực Hiện Hữu, Quyền Lực Sự Sống nơi mọi loài, mọi vật. Từ đó, cháu nhận thấy những ngôn từ chẳng hạn tạo dựng, hoặc ban phát hay gì gì đi nữa đã bị dùng sai hoặc cố tránh né do không dám chấp nhận thực thể quyền lực hiện hữu, quyền lực sự sống đang chan hòa và hoạt động cũng như ngự trị nơi muôn loài.

- Thế rồi bỗng một hôm vô quán cà phê của một cặp vợ chồng quen biết, cháu gặp trường hợp họ đang tranh luận về sự ăn mặc và cung cách sống của đứa con gái 14 tuổi. Nói qua nói lại, vô tình cháu hỏi một câu ngây ngô, “Vậy giả sử chị thương anh ấy hơn là ý kiến riêng thì sao!” Đồng thời câu hỏi tiếp theo, chị thương anh ấy đến độ nào? Chị ta trưng lên nhiều sự việc, khía cạnh, đầy vẻ ngớ ngẩn và nói đó là dấu hiệu của tình yêu. Cuối cùng, chị ta đâm quạo, phát biểu, câu hỏi gì kỳ vậy, yêu thương thì chỉ biết chứ sao có thể nói được; ngôn bất tận ý. Vừa nghe thấy trả lời thế, cháu nghiệm được câu nói, “Người biết không nói, kẻ nói không biết.” Theo cháu, câu này chính thức phải là, người biết nhưng không thể nói và càng cố gắng giải thích thì cũng chẳng giải thích được gì. Sở dĩ câu này dằng dai 11 năm làm khó cháu có thể bởi vì người ta cố ý cắt bớt, thay vì không thể nói lại đánh lận con đen, và cũng không thèm đưa thí dụ.

- Để kết luận, cháu thấy muốn nghiệm chứng câu nào hay công án nào, việc đầu tiên là tâm trí luôn luôn bị câu đó luẩn quẩn thách thức. Thứ đến cần phải suy nghĩ bằng mọi cách đồng thời tìm hiểu qua mọi phương diện sống. Cuối cùng, một điều không thể thiếu đó là cơ hội. Nếu tâm trí không luôn luôn để ý, cháu tạm gọi là luôn luôn định tâm tìm hiểu, cơ hội có tới cũng không thể nào kiếm lại, chẳng khác gì “Phúc bất trùng lai.” Qua kinh nghiệm này, để nghiệm chứng, cháu thấy cần phải hòa mình vào câu nói, đóng một vai trò nào đó vì cái gốc của câu nói ngay nơi chính mình. Bởi thế đã có câu nói, bất cứ những gì chúng ta có thể hiểu được đã có sẵn trong ta. Những gì không được sinh ra với chúng ta, sẽ không bao giờ chúng ta có thể hiểu được.

 - Khi đã ngộ được câu đó, đối với những câu khác, ý tôi muốn nói, những công án khác? Cụ Tài lên tiếng hỏi.

- Có thể rằng, thưa bác, qua 11 năm tâm trí vật lộn với nỗi thao thức nhận biết, cháu đã có được thói quen, tạm gọi như vậy để áp dụng vào sự nhận thức những vấn đề khác. Có điều, mình có được niềm vui bất tận, nhưng đồng thời lại trở thành cô độc tuyệt đối bởi không kiếm được ai chia sẻ, thách đố thăng tiến thêm. Ngay cả đối với vợ mình là người thân thiết nhất, hiểu mình nhiều nhất, cũng như mình biết nhiều nhất vẫn vô phương thông cảm, có chăng được, hay bị chấp nhận mình, rất phù hợp câu nói, “Người biết không nói.” Riêng đối với những công án khác, hay những câu nói đạo học khác, hình như chúng cùng nhau tụ hội thành một chân trời mở rộng cho mình xông xáo tạo thêm năng lực chấp nhận nỗi cô độc nhân sinh. Nhưng thật lạ, hình như sự cảm nghiệm hay nghiệm chứng tạo nên thực trạng hơi kỳ cục và đó là sự nghiệm chứng cá nhân chỉ đúng nơi tâm tưởng, chẳng nên rao bán hay nói ra, bởi nói ra sẽ trở thành cớ cho những đầu óc thế tục vấp phạm.

- Lại càng cô độc, Hưng đế vô.

- Vâng, thưa đúng như thế. Thật ra, khi đã tự mình nghiệm chứng được công án nào đó tất nhiên có được kinh nghiệm; nên sẽ nghiệm chứng những công án khác dễ dàng hơn; do đó dễ gặp phải một lầm lỗi dễ thương hơn, có thể do lòng tốt muốn khuyến khích người khác thức ngộ, và cũng có thể có ý định tìm hiểu xem điều mình cảm nghiệm được có thực sự không còn thiếu sót chăng. Người có ý định nghiêm chỉnh như thế sẽ dễ dàng chia sẻ nhận thức với người khác. Nhưng sau một thời gian, hồi tưởng lại, chắc chắn người ấy sẽ nhận ra bao cố gắng của mình đều tốn công vô ích. Cháu chỉ dám nói về kinh nghiệm cá nhân của mình. Lần đầu tiên nghe thấy câu, “Không thể bổ đầu bò mà nhét óc chó vào được” đã khiến cháu giật mình. Nó gợi lại đã không biết bao lần ăn năn vì ý định tốt lành của mình vô tình kết quả đúng vào trường hợp câu nói nơi Phúc Âm, “Của thánh đừng cho chó, châu ngọc chớ quăng trước miệng heo kẻo chúng dày đạp dưới chân và quay lại cắn xé các ngươi.” Ăn năn chẳng biết bao lần và vấp phạm cũng không thể đếm được khiến cháu sinh mặc cảm và tự hỏi bộ mình muốn nổ sao!

- Vậy anh giải quyết cách nào? Cụ Tài lên tiếng, tôi hỏi với mục đích ngăn ngừa, hoặc nói cách khác, một ngày nào đó có những anh em nơi đây tới thời điểm thức ngộ, họ biết trước để tránh bớt mặc cảm kết án chính mình.

- Thưa bác, thấy người ta luẩn quẩn trong nhận thức hạn hẹp thế tục nên mình muốn giúp họ nhận thức vượt lên, nhưng mình nói gà, họ nói thóc. Nhiều khi có người nói như tát vào mặt mình, và chắc chắn họ sẽ cho mình là thằng khùng. Đúng, dưới con mắt nhận định thế tục, người thức ngộ đúng là thằng khùng; thằng khùng bởi vì ngu xuẩn dám đem của thánh cho chó, và cũng bởi nếu một người chưa ngộ được câu nói quá ư đơn giản, không thể bổ đầu bò mà nhét óc cho vô được. Cháu đang có ý định sẽ tìm tòi nơi kho tàng Tục Ngữ, Ca dao xem có được câu nào nói về trường hợp này không. Dĩ nhiên, khi nhận ra lòng tốt, ý định ngay chính nơi mình đã trở thành cớ vấp phạm cho người khác, và đã nhận thực được lời cảnh cáo nơi kinh sách cháu đã quyết định dẹp bỏ cái lòng tốt ngây ngô của mình để mở rộng lòng chấp nhận người khác như chính họ; họ ra sao, hãy để họ an vui với thú vui của họ. Tuy nhiên, thấy người ta luẩn quẩn mà không nhào vô giúp họ chắc chắn được gọi là độc ác. Ôi, cái lòng tốt hại mình, phiền lòng người này, quả là đáng chán. Có lần cháu nghĩ tới cảnh con nhặng xanh bay tới đậu trên xác một con chuột chết xình, đẻ trứng và chúng nở ra những con giòi bò lổm ngổm, ăn thịt vữa nơi xác con chuột chết xình. Khi đẻ xong, con nhặng xanh bay đi thì những con bọ lên tiếng khinh khi cho rằng con nhặng xanh ngu xuẩn vì không biết thưởng thức thiên đàng chúng đang an hưởng. Nghĩ như thế nhưng cháu tự hỏi lại, mình là con nhặng xanh hay là con bọ đang lúc nhúc nơi xác chuột chết!

- “Đừng nói vào tai kẻ ngu xuẩn kẻo nó khinh thị nét tinh tế của lời con nói,” Sỹ nhà con lặp lại câu cách ngôn nơi Kinh Thánh; “Đừng đàm luận với kẻ ngu xuẩn, kẻo cả con nữa, con sẽ trở nên gìống nó.” (KT)

- Thế anh quyết định ra sao? Cụ Tài lại hỏi.

- Thưa bác, cháu chẳng quyết định được như thế nào vì không nói thì độc ác, mà nói ra lại trở thành cớ cho người khác vấp phạm. Trạng thái này giống như thân phận chiếc lưỡi bị kẹp giữa hai hàm răng, trên đe, dưới búa.

- Tôi tóm lược đại khái về hành trình nghiệm chứng; anh em nên để ý. Đó là luôn luôn đặt vấn đề về một câu nói, về một công án nào đó qua nhiều phương diện nhưng tâm điểm là chính mình. Kiểm chứng hay lục lọi nơi kinh nghiệm quá khứ, câu nói đó rơi vào trường hợp nào trong cuộc đời của mình. Đặc biệt, không nên sợ sai lầm vì diễn trình này chỉ xảy ra nơi tâm trí anh em, đâu ai có thể biết được. Đây chính là thực hành định tâm; tâm trí luôn được định nơi một câu nói để suy nghĩ, suy nghiệm. Tuần này, tháng này, năm này chưa nghiệm ra, cứ tiếp tục suy nghĩ tới khi nào nghiệm được mới thôi. Chúng ta biết rõ, thân xác chúng ta, cuộc đời mỗi người, và những hoạt động hay sự việc xảy đến chung quanh, cũng như sách vở, internet, những cuộc nói chuyện với người khác, đều là phương tiện giúp chúng ta thức ngộ. Vấn đề chỉ là chúng ta có liên tục để ý tìm hiểu hay suy nghiệm câu nói đó hay không. Tất cả những sự giải thích, giải nghĩa cũng chỉ đều là phương tiện. Cho tới khi tự mình nghiệm được câu nói hay công án nào đó; những công án khác sẽ dề dàng được nghiệm chứng. Tuy nhiên lại cần để ý câu nói nơi Lâm Tế Lục, “Gặp Phật giết Phật; gặp pháp bỏ pháp.” Tất cả những gì được gọi là giải thích đều không phải tự mình, chúng chỉ là phương tiện chứ không phải tự mình chứng, chúng là sản phẩm của người khác, không phải là điều mình ngộ. Và khi đã ngộ rồi chúng ta lại phải đối diện với một thế giới hữu vi tràn ngập chung quanh. Lời khuyên tuyệt vời chúng ta có thể thấy nơi Kinh Thánh. Nơi Cựu Ước thì rõ ràng, mộc mạc, “Đừng nói vào tai kẻ ngu xuẩn kẻo nó khinh thị nét tinh tế của lời con nói.” Nơi Phúc Âm, chúng ta đọc được, “Của thánh đừng cho chó, chớ quăng châu ngọc trước miệng heo…”

- Thưa bác, một cánh tay đưa lên.

- Anh Sỹ muốn nói gì?

- Thưa bác, tại sao lời Kinh Thánh nặng nề khinh thị con người như thế? Giọng Sỹ có vẻ bực bội.

- Tại ngu quá mà, Tình đế vô.

- Người ta bảo ngu như lợn thì người ngu được gọi là lợn chứ có gì mà phải sao với giăng, Phủ lên tiếng.

- Chả biết ai ngu, bạn của người ngu có lẽ ngu hơn đứa ngu, Sỹ đáp trả.

- Yêu cầu anh em nghe bác phá ngu, ông Thung đành dẹp loạn.

- Tại anh theo đạo Công giáo nên cho rằng lời Kinh Thánh là Lời Chúa, và cũng cho rằng Chúa không có quyền ăn nói cay đắng như thế. Lời Kinh Thánh là những lời khôn ngoan trãi dài từ thế hệ này qua thế hệ khác được gom tóm lại dưới mọi hình thức hầu giúp con người thức ngộ. Tôi nói anh em nên để ý, những lời khôn ngoan khi đến tai những kẻ thế tục mang vẻ rất ác nghiệt, khinh thị. Thứ nhất, những lời khôn ngoan chỉ nói về tâm linh, nên là phương tiện cho những hành giả tâm linh thức ngộ. Thứ hai, tất nhiên, nơi hành trình tâm linh, bất cứ những gì cản trở phải được dứt bỏ. Đâu phải phi lý mà nơi Lâm Tế Lục có câu “Gặp Phật giết Phật, gặp pháp bỏ pháp, không tin ai hết, không để ai lừa dụ.” Đến ngay những lời giải thích, giải nghĩa, pháp của vị này, lời khuyên của vị kia cũng bị coi như cản trở thì những kẻ chạy theo thế tục để đạt được lợi nọ ích kia và bị coi là heo, là chó hãy còn quá nhẹ. Đồng ý rằng chúng ta vì có cuộc sống nhân sinh nên phải chăm sóc cho thân xác và bảo vệ cuộc sống nơi mình, nhưng cuộc sống nhân sinh không thuộc về chúng ta mà chỉ là phương tiện, là cơ hội cho chúng ta thức ngộ. Không biết dùng cuộc đời này để thăng tiến tâm linh, để thức ngộ thì có gọi là ngu, là lợn hay chó nào khác chi vì cả đời cũng chỉ kiếm miếng ăn sống qua ngày rồi chết không hơn.

- Ới ngu ơi là ngu, Tình kéo dài giọng than.

- “Sống ở trên đời, ăn miếng dồi chó; chết xuống âm phủ, biết có hay không.” Người Mỹ có câu nói, “You are what you eat.” Thích ăn dồi chó mà không chấp nhận bị gọi là chó mới là điều lạ thường. Phủ chêm vô.

- Ăn thịt lợn thì giống lợn, nhưng Kinh Thánh nói là heo chứ đâu phải là lợn mà chạnh lòng… ha ha. Hưng lên tiếng.

- Mấy cái ông này, bác đang nói thì cứ rối lên heo với chó, vợ Sỹ than!

 
- Tuy nhiên, cụ Tài giơ tay ra hiệu và nói tiếp, không phải cứ suy nghiệm là có thể tự động ngộ được một công án hay câu nói bất thường. Luôn luôn định tâm về một công án cũng cần cơ hội để thức ngộ. Vì tâm trí luôn luôn định hay để ý về điều nào đó nên khi gặp lại được sự kiện nơi quá khứ hoặc vô tình sự kiện nào đó chung quanh phù hợp kích hoạt sự nhận thức, hành giả, người nghiệm chứng mới có thể ngộ. Tôi đưa ra một công án rất thường để anh em thử nghiệm chứng, “Đánh mày, đánh tao.” Tôi nói trước, anh em nên để ý may ra có thêm kinh nghiệm về nghiệm chứng. Bây giờ chúng ta bắt đầu đề mục chính đó là Lão học. Ngưng một chút, cụ tiếp,

- Cũng như tất cả các đạo học khác, không ai có thể minh định chính xác Lão học có từ bao giờ. Xét ngay như mấy cuốn Phúc Âm sinh sau đẻ muộn nhất cũng chỉ biết được viết vào khoảng năm 70 đến 100 năm sau Công Nguyên. Một số nhà nghiên cứu về Lão học cho rằng sự thành hình của Lão học được gom tóm trong một thời gian dài từ ba ngàn cho tới sáu trăm năm trước Công Nguyên. Cũng giống như Tục Ngữ, Ca Dao của dân tộc Việt Nam, trải qua các thời đại, những câu khôn ngoan được sắp xếp lại đồng thời bổ túc, thêm mắm, thêm muối, sao cho hợp lý, hợp tình nên khi đọc, chúng ta thấy đôi khi tư tưởng thay đổi bất chợt, không liền lạc chuyển tiếp như những câu truyện chúng ta thường đọc. Một điều nên để ý đó là tất cả các đạo học đều nói về tâm linh, về nhận thức sự hiện hữu của con người và sự liên hệ giữa con người với Quyền Lực Hiện Hữu, hoặc Quyền Lực Sự Sống tối thượng nơi con người và nơi tạo vật. Nói đúng hơn, ai cũng đang có sự sống, quyền lực hiện hữu đang hoạt động nơi mình nhưng không được để ý. Đạo học nói về sự sống này nơi mỗi người, và hành trình cũng như phương cách để nhận thức bản thân, mà lục tổ Huệ Năng gọi là bản lai diện mục. Nhà Phật gọi là Tính hay Tánh, và chúng ta thường gọi là linh hồn. Bên Ấn học gọi là Atman.

- Lão học dùng danh xưng Tào để chỉ về Quyền Lực Tối Thượng, Quyền Lực Hiện Hữu, Sự Sống hay Thượng Đế. Nếu đem so sánh danh xưng, chúng ta thấy nhà Phật với danh hiệu Chân Như, Ấn học thì gọi là Brahma, Kinh Thánh gọi Thiên Chúa. Và nếu so sánh các cách thức hay phương pháp để thức ngộ, tức là để nhận thực được bản lai diện mục của con người thì quá nhiều, muôn ngàn pháp không thể kể cho xiết chẳng khác gì ngạn ngữ chúng ta thường dùng, “Đông thày thối ma, nhiều cha con khó lấy chồng.” Tuy nhiên, mục đích của các pháp, các hành trình, cho dù chiêm nghiệm, chiêm niệm, hoặc minh triết, tựu trung chỉ là, tôi tạm mượn nguyên tắc của lục tổ Huệ Năng, “Kiến tính thành phật.” Tất cả các đạo học là sản phẩm nghiệm chứng của các nhà thức ngộ, những người đã kiến tính, đã nhận thực được mình là ai, mình thế nào, liên hệ ra sao đối với thế giới, vũ trụ này và với Quyền Lực Hiện Hữu Tối Thượng đang hoạt động nơi mình, cũng như nơi vũ trụ vô biên giới này. Thế nên, Lão học chính là thành quả gom tóm sự khôn ngoan về hành trình nhận thức tâm linh từ ngàn xưa của dân tộc Trung Hoa, và cuốn sách được dịch là Đạo Đức Kinh hay còn được gọi là Tào Tề Chinh, xuất hiện cỡ sáu trăm năm trước Công Nguyên. Biết như thế, bây giờ chúng ta thử xét xem, Lão học nói gì, và diễn đạt thế nào.


- Ai cũng nhận thấy suy nghĩ rất khó vì muốn suy nghĩ cần có những kiến thức tối thiểu và những mối liên hệ về điều mình để ý tới; thế nên người ta ngại suy nghĩ. Thêm vào đó, tùy theo nhận thức, kiến thức sẵn có, sự suy nghĩ sẽ bị ảnh hưởng để rồi đưa đến những nhận định không được toàn vẹn. Đàng khác, chiều hướng suy tư ảnh hưởng nặng nề đến thành quả nhận định. Chẳng thế mà đã có câu, “Lòng buồn cảnh có vui đâu bao giờ” (Kiều). Đọc Đạo Đức Kinh, nếu vội đọc nhận định của những diễn giả chúng ta sẽ bị ngụp lặn trong muôn ngàn rắc rối do những chủ đích đã được định sẵn và dùng Lão học như phương tiện biện minh cho kết quả mà học giả, diễn giả, muốn nhắm tới. Có người nhìn Đạo Đức Kinh qua lăng kính chính trị để rồi cho rằng Lão học dạy con người phương cách sống sao cho hợp thời, thuận theo giòng đời. Người khác rút ra những câu nói nơi Lão học với ý định chỉ về khoa chữa trị tâm lý hay tâm bệnh; kẻ lại biến Lão học thành căn bản cho tôn giáo qua cái nhìn luân lý thế tục.

- Một vài tác giả mới đây đã có nhận định khác về Lão học qua hành trình cảm nghiệm; chẳng hạn Richard Seymour nơi bài viết, “A Conversation with the Author of Tao Te Ching: Annotated & Explained,” hoặc Casey nơi bài viết “Introduction to the Tao,” nếu chúng ta đọc trên net. Cũng nơi net, vào thời điểm này (2015), có một vài bản nhận định tiếng Việt quá ư sơ sài và cũng chỉ lặp lại đơn sơ, phiến diện về Lão Tử ở Hàm Cốc viết Đao Đức Kinh.

- Đại đa số học giả nghiên cứu về Lão học đều chấp nhận huyền thoại về văn bản Đạo Đức Kinh. Nơi cuốn sách Đạo Đức Kinh của cụ Thu Giang Nguyễn Duy Cần, được chép, “Theo sử ký Tư Mã Thiên, Lão Tử là người nước Sở, huyện Khổ, làng Lệ, xóm Khúc Nhân, ở tỉnh Hồ Nam bây giờ. Ở Châu lâu, sau thấy Châu suy, nên bỏ mà đi. Đến cửa Quan, quan lệnh là Doãn Hỉ nói: ‘Ngài toan đi ẩn, xin lượng vì tôi để lại bộ sách’” (ĐĐK; tập I, Tr. 11-12). Tuy nhiên, theo Richard Seymour, Tần Thủy Hoàng đốt sách, giết học trò, Mao Trạch Đông với cách mạng văn hóa nên Đạo Đức Kinh đã không còn giữ được nguyên bản do đã không được viết thành sách mà nguồn gốc lại do truyền miệng chẳng khác gì tục ngữ ca dao. Thế nên, cuốn sách được gọi là Tào Tề Ching (Đạo Đức Kinh) chỉ còn lại một phần nơi những người chạy sang Đài Loan.

- Thiển nghĩ, ngay câu đầu tiên của Đạo Đức Kinh được viết, “Đạo khả đạo, phi thường đạo” đã là đầu mối cho cái nhìn phiến diện của biết bao học giả về Lão học. Chữ “Tào” có giọng đọc hay cách viết giống chữ Đạo nên người ta viết ra thành chữ Đạo, hoặc bởi danh hiệu Tào Tề Ching được phiên âm sang tiếng Việt thành Đạo Đức Kinh nên Tào thường được dịch thành Đạo và lại được suy diễn thành đường lối. Như vậy theo nghĩa này, Đạo Đức Kinh được viết để dạy con người sống cho có đạo đức theo Lão học. Xét theo danh hiệu, Lão Tử có nghĩa một vị thầy đáng kính trọng, không phải tên của một người và danh hiệu này cũng bị hiểu lầm là tên của tác giả cuốn Đạo Đức Kinh.

- Như tôi đã tóm gọn, Tào đại khái có nghĩa Ông Trời, Thượng  Đế, Quyền Lực Hiện Hữu, Quyền Lực Sự Sống. Chúng ta là hiện thể của quyền lực hiện hữu, sự sống mà nào ai biết, cũng như không hiểu sự sống, sự hiện hữu của mỗi người, của mọi sự, ở đâu ra. Ngay như tư tưởng thầm kín nơi mỗi người cũng phải có sự hiện hữu vì nếu nó không hiện hữu, sao có thể biết. Nói theo nhà Phật, bởi vì không thể đặt tên nên tạm gọi là Tào và Tào thì không thể nghĩ bàn. Nơi Đạo Học Đông Phương, nếu không để ý chúng ta sẽ bị rắc rối, phiền hà rồi suy luận sai lầm, luẩn quẩn trong việc phân định ngôn từ. Thomas Augustin có câu nói, “Thiên Chúa là Đấng không thể dò thấu. Chúng ta không thể nói được gì về Thiên Chúa. Những gì chúng ta nói về Thiên Chúa chỉ là tưởng tượng.” Anh em có thấy điểm nào tương đồng của câu này với câu “Đạo khả đạo phi thường đạo không.” Tôi muốn nói, phải gọi là, “Tào khả Tào phi thường Tào” mới đúng. Mấy anh em Công Giáo nên để ý suy nghĩ câu, Thiên Chúa mà chúng ta có thể hiểu được, nói được thì không phải là Thiên Chúa đích thực. Chúng ta chỉ có thể cảm nghiệm chứ không thể nói được gì. Tôi muốn đưa thêm một thí dụ về sự nhận định phiếm diện đã bao lâu nay để anh em so sánh; chẳng hạn nơi Lão học có câu, “Đạo sinh nhất, nhất sinh nhị, nhị sinh tam, tam sinh vạn vật.” Cũng vậy, nơi Dịch học cũng nói,”Thái cực sinh lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh tứ tượng, tứ tượng sinh bát quái.” Ngay hình vẽ nhất nguyên lưỡng cực được gọi là thái cực sinh lưỡng nghi. Chữ “Sinh” mang nghĩa bao gồm chứ không phải phát sinh ra. Cũng như một người, bao gồm thân xác và linh hồn. Thái cực ngay nơi mình mà có bao giờ để ý đâu trong khi cứ dán mắt vào đồ hình rồi tụng niệm, thái cực sinh lưỡng nghi. Nói rằng Đạo sinh nhất, tất nhiên Đạo ở ngay nơi cái nhất.

- Quá hay, Tình buột miệng!

- Hay gì, Sỹ nhà con vội đế vô. Vậy ông có biết con gà có trước hay quả trứng có trước không?

- Chỉ có thế mà không hiểu, về nhà đuổi gà cho vợ thì sẽ hiểu ngay. Nói rằng con gà sinh trái trứng và trái trứng sinh con gà thì con gà và trái trứng là một chứ không phải là hai. Còn con gà có trước hay trái trứng có trước, thời đó chưa có tôi sao tôi có thể nói; đó là việc của Tào. Mà Tào khả Tào phi thường Tào. Nghe chưa!

- Đúng là thứ đổ bùn sang ao mà cũng nói. Tào gì, tào lao thì nghe rõ.

- Mấy cái ông này, bác đang nói thì cứ chõ miệng vào. Thôi im đi cho người ta nhờ. Vợ Sỹ lên tiếng.

- Thế bu mày vẫn chưa hiểu bác nói gì à? Tào hiện hữu thành bu mày và bu mày với Tào là một vì bu mày bao gồm Tào và cái xác mụ đàn bà… Bu mày đã biết Tào là gì chưa. Người ta đang dùng biện chứng để suy nghiệm… bốp… hắn đập thẳng thừng con muỗi vo ve bên má, miệng lẩm bẩm, mày dám vào phe mụ ấy để dọa tao sao, đoạn ngửa bàn tay phủi con muỗi chết bẹp… trong khi Tình lại a lên một tiếng.

- Có chuyện gì vậy anh Tình, cụ Tài hỏi.

- Thưa bác, đánh mày, đánh tao.

Mọi người chợt vỡ lẽ tại sao cụ Tài đưa lên công án đơn giản.

- Tôi biết nhưng vội hỏi làm những anh em khác mất cơ hội. Đáng lẽ ra tôi chỉ nên hỏi riêng anh. Nhân tiện tôi giải thích thêm, các công án đều là những sự thể đơn thuần, sự việc đơn giản. Nếu để tâm suy nghĩ, cơ hội xảy đến anh em mới có thể ngộ được. Anh em biết bài thơ con cóc không?

- Dạ biết.

- Tác giả bài thơ con cóc muốn nói gì vậy?

- Thưa bác, thì tác giả tả con cóc trong hang, con cóc nhảy ra, con cóc nhảy đi, đúng là thơ con cóc. Sỹ trả lời.

- Cụ Tài cười, như vậy sao có thể áp dụng nơi câu nói, “Lửa thì không nóng?” Thế là Sỹ nhà con ngớ ra, đành im lặng tự hỏi sao có thể liên hệ kỳ cục. Cụ Tài nói tiếp,

- Chúng ta thấy được chính những quan niệm, kiến thức ảnh hưởng tới sự nhận định. Ngược lại, muốn ngộ nơi đạo học, chúng ta cần cảm nghiệm, hòa mình vào câu nói để nghiệm chứng ý ám định của câu nói. Những đạo học Đông phương đều nói về bản thể nội tâm của con người; trong khi chúng ta bị ảnh hưởng lối phát biểu kỹ thuật Tây phương nên chỉ hiểu theo nghĩa từ chương; bởi đó, không để ý đến sự thể tâm tình tác giả bài thơ con cóc muốn truyền đạt nên thường nhạo cười bài thơ này. Có thể nói đại đa số người Tây phương không thể nào cảm nghiệm đạo học Đông phương, mà có chăng chỉ khiến người chân thành tìm hiểu chán nản. Chả thế mà có câu nói, niềm vui của bậc thức giả khiến người ngu bực mình, trái lại niềm vui của người ngu làm bậc trí xót thương. Đa số người Tây phương nhìn đạo học Đông phương như những triết thuyết; tuy nhiên, nếu không cảm nghiệm mà áp dụng đạo học Đông phương như một triết thuyết nơi cuộc đời, sẽ khiến con người rối loạn tâm thần trở thành điên loạn.

- Tào là bản thể nơi chính mình, là tâm hồn, linh hồn của một người. Được sinh dưỡng nơi thế giới hữu vi, chúng ta mơ ước và theo đuổi niềm mơ vật chất nên sinh phiền não, lo lắng. Lão học đề nghị, bớt, càng ngày càng bớt đến độ không còn gì để bớt thì trở về với chính mình, sống huyền đồng với Tào, làm một với Tào. Mọi sự, mọi vật đều là diễn biến của Tào; chuyện phải xảy ra như thế nên Lão học cho rằng, “Thiên địa bất nhân, dĩ vạn vật vi sô cẩu,” (Trời, Đất bất nhân, coi vạn vật như loài chó rơm), chưa cúng thì nâng niu, lúc cúng xong rồi thì quăng bỏ. Lẽ trời luôn luôn biến chuyển, sống hòa với lẽ trời, tùy thời, tùy nơi, uyển chuyển như nước.

- Như vậy, Lão học là một lẽ sống chứ không phải một triết thuyết. Lẽ sống này cần nhận biết chính mình thế nào. Để tâm nhận thức, chúng ta thấy, cho dầu suy nghĩ đến cách mấy, chúng ta vẫn hơn tất cả những gì chúng ta có thể nhận biết về chính mình. Tự nhận biết về mình và chấp nhận mình là mình để sống hòa hợp với đời, với Tào.

- Thưa bác, một cánh tay giơ lên, Tùy, con người ít nói, như vậy sẽ bị cho là lập dị vì theo mình mà sống thì sẽ không giống bất cứ ai. Chẳng lẽ, cả thế gian say, một mình ta tỉnh? Coi chừng mà ngược lại! Cháu thấy nó làm sao ấy!

- Bộ anh không biết câu nói của Trang Tử sao, “Vì mình có thân xác như mọi người nên sống như mọi người, nhưng lòng mình thì khác hẳn.” Coi chừng chúng ta thường hiểu lầm điều được gọi là vô vi nơi Lão học theo nhãn quan hữu vi. Nói cho dễ hiểu, khi chúng ta đeo kiếng râm (kiếng mát) sẽ thấy mọi sự đều tăm tối. Muốn nhìn cho rõ, bỏ chiếc kiếng râm đi. Quan niệm, kiến thức của một người chẳng khác gì chiếc kiếng râm. Đàng khác, trời đất xoay vần, biến chuyển, xuân đi, hạ tới, thu về, đoạn biến sang đông; con người không thể thay đổi được thì cần phải sống hòa hợp chứ chẳng lẽ mùa lạnh mặc áo mát, mùa nóng mặc áo rét? Bởi thế, muốn thấy thế giới thay đổi, chúng ta thay đổi lối nhìn, thay đổi quan niệm nơi mình. Tại sao trời lạnh lại cởi trần đi ra ngoài đường rồi càm ràm trời bất công không nắng ấm? Anh em nên nhớ, Lão học là một trong những đạo học Đông phương. Các đạo học không nói về hữu vi mà dùng sự kiện, sự việc hữu vi nói về cuộc sống tâm linh nơi mỗi người. Thế nên, vô vi tức là nhìn thì không thấy gì nhưng mọi sự biến chuyển nơi tâm của mình. Hãy tỉnh thức, nhắm mắt lại để nhìn thấy rõ hơn!

- Tôi nói ra ngoài lề một chút. Đa số người ta cho rằng Lão học dạy về thuật trị nước, giúp vua. Thưa không, vua cũng ở nơi mình, nước cũng ở nơi mình và giúp là giúp chính mình thức ngộ, giúp mình nhận biết chính mình. Chẳng hạn, Tào như nước, muốn sửa gì nơi mình cần phải uyển chuyển, kiên trì. Thử hỏi, đã bao lần anh em quyết tâm, cố gắng chừa sửa một điều chẳng nên nào đó nơi mình, và đã bao năm rồi, anh em đã thực hiện được chưa. Lão học đề nghị trở về nguyên bản với Tào. Tất cả những gì được khuyên để thực hiện cần phải được áp dụng nơi hành trình tâm linh một người chứ mắc mớ gì Lão học nói về việc ông vua trị nước. Nếu nói về việc ông vua trị nước, chúng ta cần gì phải nói nơi đây. Thử hỏi, mấy ông vua thèm nghe ai, trong khi ai chẳng biết giáo đa thành oán; mà có chăng quyền lực tuyệt đối sẽ phát sinh sa đọa tuyệt đối mà thôi; không vậy thì đã có những triều đại bền vững đến muôn đời.

- Thưa bác, sao cụ Nguyễn Duy Cần giải thích vô vi là “làm một cách kín đáo, không tư tâm, không vị kỷ. Người thi ân không biết là thi ân, người thọ ân không dè là thọ ân. Bậc thánh nhân trị nước mà dùng đến đạo vô vi, dân không hay là mình bị trị” (ĐĐK. Tập 1; tr. 24). Hưng hỏi.

- Anh làm cho anh thì có gì mà tư tâm, vị kỷ, nếu không là an nhiên tự tại thì là gì?

- Thưa bác, như vậy chẳng lẽ thiên hạ say hết, một mình ta tỉnh? Rồi sao có thể biết mình tỉnh nếu không có một đường hướng rõ ràng, và đâu là đường hướng?

- Mục đích và cũng là điểm tiên khởi của bất cứ đạo học Đông phương nào cũng chỉ là nhận biết chính mình, trả lời câu hỏi tôi là ai cho tới tận cùng. Nhà Phật thì kiến tính thành phật; Ấn học thì cha ta với ta là một; Lão học thì huyền đồng; Tào, Chân Như, Brahma đã sẵn ở nơi mình, vấn đề chỉ là làm sao nhận ra thực thể, bản lai diện mục, linh hồn nơi mình thì cần phải học nơi đâu. Anh quên câu nói nơi Lâm Tế Lục rồi sao, găp phật giết phật, gặp pháp bỏ pháp. Nếu anh cố theo phương pháp nào đó của người khác, làm sao anh biết mình đi đúng đường hay trật đường, và anh sẽ ra sao khi phương pháp đó không thể giúp gì cho anh được nữa. Tào đã ở nơi mình thì chỉ có phương pháp nơi mình mới có thể kiếm ra Tào nơi mình; vì chúng ta không thể kiếm Tào nơi người khác. Chúng ta nên nhớ một điều, dẫu chúng ta cố gắng đến mấy để chứng tỏ mình thế nọ, thế kia, thì vẫn còn thua kém bổn lai đích thực của chúng ta. Chúng ta thực ra vẫn tuyệt vời hơn tất cả những gì mình đã có thể tưởng tượng về chính mình. Nơi hành trình thức ngộ, chỉ khi nào tự mình ngộ được công án nào đó mới có được kinh nghiệm cảm nghiệm; bởi không ai có thể giải thích được cảm nghiệm của họ cho mình. Chẳng hạn nơi trường hợp của anh Sỹ, hoặc anh Tùy vừa rồi. Bởi đó, hành sự thì nên chuyên tâm, chẳng nên bận tâm về kết quả cũng chẳng nên ngưng trệ hoặc lệ thuộc vào bất cứ gì vì hết thảy hiện tượng đều được phát xuất từ tự tính. Có lẽ anh quên lời khuyên của lục tổ Huệ Năng, “Ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm,” nhất thiết vạn pháp bất ly tự tính (GLTH; tr. 169).

- Thưa bác, con muốn suy nghĩ lắm nhưng nó cứ tối như đêm ba mươi, chẳng biết suy nghĩ thế nào. Cứ nghe bác nói về chứng với nghiệm khiến lòng ruột xốn xang nhưng càng cố gắng suy, càng rối, càng thử nghiệm càng thấy trống rỗng chẳng biết đường nào mà mò, lối nào mà đi. Vợ Sỹ lên tiếng.

- Vậy chị thấy thế nào về bài thơ con cóc?

- Thưa bác, con thấy bài thơ con cóc nói lên hành động của con cóc, không thêm, không bớt. Chỉ nói con cóc trong hang, con cóc nhảy ra, con cóc ngồi đó, con cóc nhảy đi. Không nói con cóc nhảy đi đâu, về bên trái hay bên phải, không kể lý do tại sao con cóc nhảy ra hoặc giả dụ có con bọ, con chấy gì trong hang khiến con cóc nhảy đi.

- Chị nói đúng và nhận thức đúng, không thêm bớt, không tưởng tượng hay đặt vấn đề. Nhìn và nhận thức sự vật, sự việc như chính nó. Đây là phương pháp tuyệt vời nhất để nhận thực chính mình thế nào. Mở rộng lòng để nhận thực ra chính mình thế nào là bước đầu cần thiết nơi hành trình kiến tính, hành trình trả lời câu hỏi tôi là ai. Hãy đơn sơ, chân thành nhìn thực vào cuộc đời của mình, chị sẽ biết mình là ai; không cần thêm mắm, pha muối, chẳng cần pháp nào dẫn dắt, không cần suy tưởng; khi đã biết mình là ai, mình thế nào, tất nhiên kiến tính, biết được thực thể, bản lai diện mục của mình thì chị cần gì phải nghiệm, phải chứng vì tất cả đã hiện ra rõ ràng đâu cần cầu mong hay mơ ước chi.

- Thưa bác, thế sao sách vở viết tràng giang đại hải nào là pháp bất nhị bất tam, rồi quán nọ, hàng kia, rồi nào thế liên hoa, liên lá, nào tam bảo, tứ bảo, nào trung đạo hạ đạo, nào tướng, nào quân, ôi thôi lắm phép, nhiều chước, rối tung cả lên. Lại còn tông nọ, phái kia, bắc nam lộn tùng phèo, cả như bác nói cứ đơn sơ ngờ nghệch như bu nó thì dễ quá rồi, chỉ cần vài lon bia hoặc ly rượu thì tha hồ tự tại, tự nhiên, chẳng cần pháp tắc cũng thực hiện được. Sỹ nhà con xổ một tràng dài.

- Anh chưa quán tưởng, chưa đơn sơ, ngờ nghệch, sao có thể biết lắm thế. Hãy cứ ngờ nghệch, đơn sơ như bu nó, tất nhiên anh sẽ ngộ.

- Làm sao mà có thể chấp nhận ngu ngơ như thế. Con bò nó không uống rượu vì nó ngu như bò. Làm người phải biết uống rượu, uống bia, phê hơn uống nước chứ. Chẳng lẽ ăn cơm cũng như ăn thịt ăn cá thì đâu còn sinh thú gì nơi cuộc đời thiên biến vạn hóa này. Thưa bác, vậy đạo học hay những tông nọ, phái kia cố gắng biến con người thành những cục đất, cục đá, ăn không biết ngon, uống không thấy thú vị sao?

- Điều anh vừa diễn giải đúng như định kiến phương Tây khi nhận định đạo học Đông phương. Như thế không thể nào nghiệm chứng được câu nói của Trang Tử, vì ta có xác thân như mọi người nên sống như mọi người, nhưng lòng ta khác hẳn. Tôi không có bản dịch nào khác về Đạo Đức Kinh ngoài bản dịch của cụ Thu Giang Nguyễn Duy Cần. Chúng ta thử xét sơ lược xem mục đích của Đạo Đức Kinh ra sao. Có điều, anh em thử áp dụng nghiệm xét về Lão học bằng cách tôi nêu lên những câu nói và anh em nói lên nhận định.


- Câu đầu tiên của cuốn Đạo Đức Kinh, anh em đều biết, đó là “Đạo khả đạo phi thường đạo.” Như chúng ta vừa nhận định thì “Đạo” dịch từ chữ Tào. Và bởi vì dịch thành đạo thì lại bị lệ thuộc ngôn từ mang nghĩa thành đường lối nên đa số các học giả cho rằng Lão học dạy về phương pháp trị dân cho những người cầm quyền mà quên rằng đạo học dùng sự việc thế tục nói về hành trình tâm linh nơi mỗi người. Định hướng như thế, chúng ta cũng nhận thức được Tào hay Quyền Lực Hiện Hữu, Quyền Lực Sự sống, Bản Thể Tuyệt Đối mà nơi các đạo học khác dùng những danh hiệu khác chẳng hạn như atman, linh hồn, tâm phật hay phật tính đang hiện diện nơi mỗi người. Không ai có thể nói gì được về Tào mà chỉ có thể nghiệm chứng.

- Chương hai được dịch nghĩa sự tương đối của sự thể chẳng hạn thấy tốt đã có xấu, có với không cùng sanh, trước và sau cùng theo. Cụ dịch tiếp, “Vậy nên thánh nhân dùng Vô Vi mà xử sự, dùng bất ngôn mà dạy dỗ để cho vạn vật nên mà không cản, sống mà không chiếm đoạt, làm mà không cậy công…” Nào mời anh em cho nhận định. Nhưng tôi nhắc lại, đạo học dùng hữu vi để nói về tâm linh.

- Thưa bác, hành xử vô vi bởi nói ra, giải thích không được nên đâu thể dạy ai bởi dạy dỗ, giải thích đều chẳng nói được gì nên đành bất ngôn.

- Thưa bác, cái này phải dùng gậy ông đập lưng ông mà thôi. Đó là “Người biết không nói; kẻ nói không biết.”

- Ai có nhận định gì nữa không?

- Nhưng, thưa bác, nếu như vậy cách nào để đỡ đẻ tinh thần, giúp người ta thăng tiến?

- Anh đã thăng tiến chưa mà muốn giúp người khác thăng tiến. Chắc anh đã quên câu nói, “Chân thành, năng nổ, nhưng thiếu hiểu biết chỉ là phường phá hoại.”

- Nhưng,

- Nhưng cái gì! Tình lên tiếng, nghiệm thì không lo nghiệm, chỉ muốn làm phường phá hoại.

- Có còn anh em nào thắc mắc về điều mà Lão học gọi là Vô Vi không?

- Thưa bác, Tào nơi mình làm mọi sự nhưng không được nhận biết là đang hoạt động chỉ thấy thân xác múa may quay cuồng, tào lao thiên tướng. Nếu hiểu Vô Vi là không làm gì tất nhiên đã nhảy qua phần hữu vi.

- Có lẽ anh em đưa ra nhận định hay hơn tôi mặc dầu khó hiểu hơn nhưng lại chính xác hơn. Nào, chúng ta cùng nâng ly. Không ngờ cái lười biếng do khó giải thích mang lại kết quả chẳng ngờ. Mời, cụ Tài nâng ly mời mọi người.


Chị Sỹ giơ tay,

- Thưa bác, mấy ông ấy nói gì vậy? Thế nào là vô vi, vô viếc, lại còn gập ông đập lưng ông, người biết không nói, kẻ nói không biết.

- Bu mày sao không hỏi nhỏ tôi! Thức thiệt đang chình ình ở đây mà la toáng lên như thế lỡ người ta cho rằng mình là thức giả thì sao. Sỹ nhà con lên giọng kẻ cả. Nào có gì đâu, dễ như ăn ớt. Đối với đạo học thì chỉ có một đường lối duy nhất là nghiệm chứng mà thôi; nhà Phật gọi là kiến Tính. Ai chứng người ấy biết và không ai có thể giải thích cho ai. Tào ở nơi mình, chỉ mình mới có thể chứng được cho mình. Tào là chủ, thân xác, cuộc đời là phương tiện nên không thấy Tào hoạt động, tạm mệnh danh là Vô Vi. Vì không thể nói ra được dẫu mình biết nên gọi là người nói không biết, kẻ biết không nói. Bu mày thương tớ, bu mày biết rõ nhưng bu mày không thể giải thích cho bất cứ cô nào, chị nào để họ thương tớ như bu mày được. Chỉ có thế mà không hiểu. Bu mày mà giải thích cho em nào thương tớ được thì bu mày thức ngộ là cái chắc.

- Cái ông quỷ này, nói đứng đắn coi…

- Đứng đắn như thế mà còn chê. Bu mày không biết giữ thể diện cho phu quân.

- Đúng rồi, hắn bị khinh như chiếc gối ôm nên mới một tá nhóc. Nếu được kính nể chắc chắn không nhà nào chứa nổi! Phủ đấu vô.

- Ngộ mà, mọi người trên đời say, chỉ mình ta tỉnh không ngộ thì là gì? Sỹ làm một hơi bia, nói tiếp, cũng xin cảm ơn anh cả, rượu của anh cả để lâu uống phê thiệt.

- Chúng ta tiếp chương 3, cụ Tài đọc, “Không tôn bậc hiền tài khiến cho dân không tranh dành. Không quý của khó đặng, khiến cho dân không trộm cướp. Vì vậy, cái trị của thánh nhơn là làm cho dân hư lòng, no dạ, yếu chí, mạnh xương. Làm theo vô vi ắt không có gì là không trị.” Đoạn cụ im lặng đưa mắt nhìn thoáng qua.

- Thưa bác, một cánh tay giơ lên, anh Thanh, chủ nhà, nếu coi nhận định, ước muốn thế tục của chính mình là dân chúng thì mới có thể giải thích tạm được. Nói như vậy, đây là phương pháp định tâm, nhận định mọi sự cũng không là gì để nghiệm chứng Tào; vì nói theo nhà Phật, mọi sự không rời tự tính.

- Ai có ý kiến gì nữa không?

Mọi người im lặng vì vẫn còn đang lúng túng bởi nếu hiểu theo nghĩa từ chương của câu nói thì không kiến tạo lòng đua tranh tất nhiên ngu dân để trị. An ổn đấy nhưng dân chúng không có ý chí vươn lên mà có thể càng ngày càng chấp nhận có sao sống vậy ngược lại với cuộc đời luôn luôn biến động thay đổi để thăng tiến. Thế nên, nghe thấy Thanh nêu nhận định cho rằng những ước muốn thế tục nơi mình được coi là dân chúng, mọi người liền nhớ lại lời nhắc nhở của cụ Tài, đạo học nói về hành trình tâm linh nơi một người.

- Tâm động vì còn so sánh hơn kém, vẫn còn lệ thuộc nhĩ ngã phân biệt. Nếu nhìn sự vật và sự việc trái phải cùng là một, đều là hiện thể của Tào thì tâm định. Thế nên, bất cứ những gì xảy đến, ngay như ước muốn tốt lành của mình cũng chỉ là sự biến chuyển của Tào. Không cho gì là quí, chẳng cho gì là hèn không phải là ngu dân vì còn phân biệt quí tiện vẫn còn luẩn quẩn nơi hữu vi phân biệt. Mấy anh em Công Giáo có thể nghiệm câu, “Hãy để kẻ chết chôn kẻ chết của chúng” theo nhận thức này. Tôi đọc tiếp chương 4,

- “Đạo thì trống không nhưng đổ mãi mà không đầy. Đạo như vực thẳm, dường như tổ tông của vạn vật. Nó làm nhụt bén nhọn, tháo gỡ rối rắm, điều hòa ánh sáng, đồng cùng bụi bặm. Nó trong trẻo thay, lại dường như trường tồn. Ta không biết nó là con ai, dường như có trước Thiên Đế.”

- Thưa bác, nơi kinh Bhagavad Gìtà viết, “Này Arjuna, Ta là Đại Ngã ngự trị trong tâm hồn vạn vật: Ta là lúc khởi đầu, là chốn trung gian và là cứu cánh của vạn vật. Ta là thần chết cấu xé muôn loài, Ta là nguyên ủy của tất cả những gì sắp sửa sinh ra. Trong các phẩm hạnh của nữ tính, Ta là danh giá, là giàu sang, là thịnh vượng, là lời nói, là ký ức, là thông minh, là đức kiên trì và lòng tha thứ... (CTC. Tr. 100-103). Xét như vậy, Tào cũng giống như Brahma nơi Ấn học. Phủ phát biểu.

- Như vậy anh em nhận thấy, những đạo học đều có một điểm chung và đó là Quyền Lực Hiện Hữu tối thượng đang hoạt động và biến chuyển nơi tạo vật.

- Thưa bác, thế sao nhà Phật nói thuở nguyên thuỷ, Chân Như phẳng lặng, tĩnh tịch, nhưng vì vọng tưởng càng ngày càng chồng chất nên phát sinh vạn vật. Nói như vậy có phải vọng tưởng ảnh hưởng Chân Như? Hưng hỏi.


- Chúng ta vừa nhắc đến lúc nãy, cái một bao gồm cái hai, đối diện cái ba tạo thành vạn vật, Nói rằng vì vọng tưởng chỉ là kiếm lý do nghe cho êm tai. Thực ra, do sự biến chuyển, hoạt động của Chân Như phát sinh vạn vật thì nghe hợp lý hợp tình hơn.

- Thưa bác, như thế ngôn từ sinh có ít nhất hai nghĩa, bao gồm và tạo dựng?

- Nói cho đúng, chỉ là tạm dùng ngôn từ mà thôi. Có lẽ anh đã không để ý đến câu nói nơi Trang Tử, được ý quên lời! Cụ Tài điềm đạm. Nào chúng ta nghe tiếp chương 5,

- “Trời đất không có lòng nhân, coi vạn vật như loài chó rơm. Thánh nhân không có lòng nhân, coi trăm họ như loài chó rơm. Cái khoảng giữa Trời Đất giống như ống bể. Tuy trống không mà vô tận, càng động lại càng khơi ra. Càng nói nhiều, càng không sao nói hết được, thà là giữ lấy cái trung.” Ai có ý kiến gì không?

- Thưa bác, Phủ lên tiếng, vì tất cả là biến chuyển cũng như biểu hiện của Tào nên sống chết, có không cũng giống nhau, trọng hay khinh cũng chỉ nơi Tào nên nói trời đất không có lòng nhân, coi vạn vật như chó rơm. Đại khái, nếu nhìn theo hữu vi thì rõ ràng thấy Tào, hoặc là trời đất không biết coi trọng hoặc thương xót bất kỳ ai. Thánh nhân là người học theo Tào, nghiệm chứng sự hiện diện của Tào nơi mình; nói khác đi, Tào hiện thể nơi thánh nhân để hoạt động; do đó thánh nhân là người thức ngộ, nhận biết mọi sự đều là diễn tiến của Tào. Thánh nhân cũng là một với trăm họ nên thánh nhân không theo về phe phái nào hoặc đúng hoặc sai, hoặc phải hoặc trái do đó được gọi là giữ lấy cái trung; trung nghĩa là ở giữa. Thêm nữa, càng giải thích về bản chất của Tào càng chẳng nói được gì nên tạm gọi là người nói không biết.

- Ai có ý kiến thêm bớt chi nữa không?...

Không thấy ai giơ tay, cụ Tài nói tiếp,

- Tôi chỉ tạm đọc một số câu trong vài đoạn của cuốn Đạo Đức Kinh, bản dịch của cụ Thu Giang Nguyễn Duy Cần. Anh em nhận thấy, nếu định hướng Lão học theo tâm linh, chúng ta sẽ thấy ý nghĩa khác hẳn lối nhìn từ chương. Và cũng vì lối nhìn từ chương này đối với các đạo học, đã phát sinh nhiều điều hiểu lầm. Nhìn một cách tổng quát về các đạo học, con đẻ của đạo học là tôn giáo, nhưng thành viên của những tổ chức tôn giáo đã áp dụng đạo học một cách từ chương, cộng thêm ý định triển dương tổ chức, đôi khi còn vì tham vọng muốn mọi người dễ nhận biết nên đã có những cố gắng đơn giản hóa, hoặc dùng những ngôn từ dễ nhận biết hầu cho những kẻ dù thiếu học thức cũng có thể chấp nhận, thành ra đã biến bản văn đạo học trở nên vô lý và huyền thoại. Thí dụ, nơi Phúc Âm có câu, “Người ta không lấy rượu mới đổ vào bì cũ,” nơi bản dịch nào đó, nếu tôi không lầm thì một bản dịch Kinh Thánh tiếng Anh được viết, tạm dịch, “Người ta không lấy rượu mới đổ vào bình cũ.” Thay vì “Wineskin,” người ta dùng chữ “Jar.” Anh chị em nào muốn đào sâu hơn nơi Lão học, nên đọc thêm bản dịch và nghiệm chứng.

- Tôi nhắc lại, những bản văn đạo học thường được gọi là kinh, đó là tác phẩm của những bậc thức ngộ và những câu nói khôn ngoan khó hiểu thường được gọi là công án được soạn thành kinh để người đời chiêm nghiệm hay nghiệm chứng. Tôi muốn nói chiêm nghiệm chứ không phải chiêm niệm hoặc tụng niệm. Chiêm niệm hay tụng niệm được dùng để định tâm. Nơi tôn giáo, cũng vì không chiêm nghiệm nên cũng thường dùng các kinh sách đạo học để tụng niệm.

- Thưa bác, Hưng lên tiếng, nơi Đạo Đức Kinh có câu đại khái, “Vậy sự vật trong đời, bớt là thêm, thêm là bớt” (ĐĐK; Tập II; tr.226), trong khi nơi khác lại nói bớt, bớt càng ngày càng bớt đến độ không bớt được nữa là thế nào; vì bớt cũng là thêm và thêm cũng là bớt?

- Anh có ý định diễn dịch và biên khảo Lão học theo kiểu từ chương của các học giả Tây phương không? Thế anh không chấp nhận sự thể sự vật và sự việc tự chúng mang phần đối nghịch nội tại ư và nếu không như thế sự thể tất nhiên không biến chuyển và chẳng có gì để nói tiếp. Một đàng bớt, càng ngày càng bớt, bớt đến độ không bớt được nữa tất nhiên trở về với nguyên bản gọi là trạng thái huyền đồng, hòa nhập làm một với Tào. Hành động vô vi này không ai biết, chỉ hành giả tự biết. Nhà Phật gọi là hành động lau bụi bám trên mặt gương. Nếu nhìn về sự thể nhất nguyên, lau bụi, gương trở nên sạch, sáng, thì bụi tan đi bao nhiêu, gương sạch thêm bấy nhiêu. Có phải bớt bụi, thêm sạch, thêm sáng không? Một câu nói lên sự cần thiết nơi hành trình tâm linh; câu khác giải thích sự thể nơi hành trình tâm linh. Hai câu cũng là một mà thôi, vì “bản ngã mà không còn thì thiên tánh mới hiện ra” (NHK; Tập I; tr. 156). Xét như vậy, chúng ta thấy cuốn Nam Hoa Kinh phụ giúp hành trình nhận thức Lão học thêm sáng tỏ.

- Nơi trang đầu tiên của tập I, cụ Nguyễn Duy Cần ghi lại lời nơi kinh Nam Hoa, “Có nơm là vì cá; đặng cá hãy quên nơm. Có dò là vì thỏ; đặng thỏ hãy quên dò. Có lời là vì ý; đặng ý hãy quên lời. Ta tìm đâu đặng người biết quên lời hầu cùng nhau đàm luận” (NHK; tập I).

- Thưa bác, Hưng hỏi tiếp, cháu muốn trở lại Đạo Đức Kinh một chút. Cháu muốn hỏi tại sao lại nói “Đi xa tức là về gần?”

- Nhiều câu nơi các sách đạo học tôi không muốn nhắc tới; đặc biệt những câu nói nghịch thường với chủ đích để anh em nào thực sự muốn thăng tiến nơi hành trình thức ngộ mà nhà Phật gọi là tiệm ngộ nghiệm chứng. Lý do tôi đã giải thích rõ ràng đó là tôi không muốn cướp cơ hội của anh em bởi sự giải thích không giúp ích gì mà coi chừng còn làm chậm trễ sự thức ngộ nơi anh em. So sánh câu nói, “Đi xa là về gần,” với câu nói, “Bớt là thêm, thêm là bớt,” chúng ta thấy được gì? Tự đặt vấn đề, bớt gì, thêm gì đối với cuộc đời một người cũng như đối với hành trình thức ngộ? Thế nào là đi xa? Đi xa từ đâu và tới đâu? Về gần, nơi nào là gần? Đối với sự nhận biết nơi hành trình tâm linh, càng nghiệm chứng, càng để tâm suy nghiệm, hành giả càng tiến gần tới thức ngộ tức là càng về gần sự thức ngộ. Xét về cuộc đời; đi xa nhất là trường hợp nào?

- Chết! Sỹ nhà con buột miệng, đoạn im re.

- Rồi sao? Hồn, phần không chết được đi về đâu?

- Thưa bác, hồn còn tùy thuộc sự mơ tưởng, ý định khi còn sống.

- Đạo học nói về gì?

- Thưa bác, mục đích của các đạo học là dẫn dắt cũng như khuyến khích con người thức ngộ, thăng tiến nơi hành trình tâm linh để nhận biết bản lai diện mục, nói theo kiểu lục tổ Huệ Nàng; nếu nói theo Lão học, Ấn học thì hòa nhập với Tào, với Brahma. Đúng rồi, thế thì đi xa, càng đào sâu vào nghiệm chứng càng trở về nguyên bản của mình. Hưng trả lời.

- Tuy nhiên, bởi con người từ khi sinh ra đến khi trưởng thành luôn luôn liên hệ mật thiết với cuộc sống hữu vi nên lề lối hay phương thức cũng như tâm trí đã bị sự thể hữu vi nặng nề ảnh hưởng. Các kinh sách đạo học, dĩ nhiên gom góp những dụ ngôn, ngụ ngôn, công án do những bậc thức ngộ để lại, là một trong những phương tiện hay cơ hội giúp con người thỏa mãn lòng khát vọng bẩm sinh hầu thăng tiến nơi hành trình tâm linh. Nam Hoa Kinh gom góp những câu chuyện ám định được gọi là dụ ngôn hầu giúp hành giả Lão học thăng tiến. Có điều,”Ngữ bất tận ngôn, ngôn bất tận ý”, mà trong trường hợp bản dịch, quả thật rất khó cho chúng ta am tường lời nói được ghi chép lại nơi bản chính.

- Thưa bác, đôi khi có thể suy nghiệm những công án lại là chạy trốn tâm trạng không thể giải quyết một vấn đề nào đó nơi thực tại cuộc sống.

- Có thể nói đó là lối giải quyết tuyệt vời nhất. Thay vì để sự việc hữu vi làm phiền lòng bởi đôi khi hiện thực cuộc đời dồn con người vào thế triệt buộc vô phương trốn thoát, biết đâu lại là cơ hội cho người đó định tâm suy nghiệm bởi đã có câu, suy nghĩ rất khó nên người ta sợ hoặc không dám suy nghĩ. Tự nhận thức về chính mình, chúng ta thấy, chúng ta là những thứ lừa nơi hành trình tâm linh luôn luôn muốn thảnh thơi, thoải mái do không muốn bất cứ gì vướng mắc nơi tâm tư. Kinh nghiệm cuộc sống cho thấy, làm chủ cực khổ và tâm trí bị phiền hà hơn đi làm công nên người ta chấp nhận đi làm thuê cho thảnh thơi đầu óc. Thế nên, với lối nhìn nhân sinh thì suy tư, suy nghiệm tâm linh khó khăn, đôi khi mệt mỏi hơn suy tính làm ăn và dường như chẳng được lợi lộc gì cho cuộc sống. Tuy nhiên, ai đã kinh nghiệm sẽ thấy những chướng ngại trên đường đời là cơ hội tuyệt vời cho con người giải mã lòng khát vọng thầm kín bẩm sinh để thăng tiến tâm linh. Tôi muốn nói nơi trường hợp suy nghiệm tâm linh mà thôi chứ không phải chạy trốn bằng cách tìm hiểu một vấn đề gì để giết thời gian; dẫu bình thường, đối với những khó khăn cuộc sống, bình tĩnh nhận định, thực hiện tất cả những gì cần thiết theo nhận biết của mình, và chấp nhận kết quả có thể xảy đến tồi tệ nhất cũng yên được phần nào tâm tưởng, và kết quả ai cũng biết,vẫn khá hơn sự tồi tệ nhất mà chúng ta có thể nghĩ tới. Tôi không nhớ đã nói với anh em chưa, sự hiểu biết bình thường ngăn chận dòng suy tư của con người. Chính sự hiểu biết phiến diện thế tục đình chỉ sự tìm hiểu thâm sâu hơn, cản bước hành trình tâm linh.

- Nam Hoa Kinh có đồng quan điểm về Tào với Đạo Đức Kinh (NHK; Tập I; tr. 53). Nơi Thiên Tri Bắc Du được viết,

“Đông Quách Tử hỏi Trang Tử,

- Cái gọi là Đạo ở đâu?

- Không có chỗ nào là không có nó.

- Xin chỉ ra mới được.

- Trong con kiến.

- Thấp hơn nữa.

- Trong cọng cỏ.

- Thấp hơn nữa.

- Trong miếng sành vỡ.

- Thấp hơn nữa.

- Trong cục phân.

Đông Quách Tử không hỏi nữa” (NHK; Tập I; tr. 53-54).

- Nam Hoa Kinh chủ trương sống thuận theo cái tánh của Tào, của trời đất; nương theo sự biến chuyển để hòa mình với cái lẽ vô cùng của Tào. “Thuận theo cái tánh của trời đất tức là thuận theo cái Tánh tự nhiên của mình; quan trọng nhất là gìn giữ cái Tánh ấy, đừng để nó lu mờ vì tư dục, đừng để cho hoàn cảnh huyễn hoặc, thay đổi” (NHK; Tập I; tr. 157). Anh em có thấy quan niệm này giống Kiến Tính hay không? Thế cho nên, “Nơi mình thì lo mà thực hiện sự “Huyền đồng” cùng tạo vật, không phân trong và ngoài, ta và người nữa, không thấy lớn, nhỏ, thọ, yểu. Còn nơi vật, thì biết để cho vạn vật, vật nào cũng được an theo chỗ đã an bài của chúng nên không bắt buộc ai phải theo mình, nghĩa là không lấy mình mà đánh giá sự phải quấy của người. Đó gọi là chí nhơn vô kỷ”(NHK; Tập I; tr. 157).

- Tóm lại, nói chung, sơ qua những điểm chính yếu chúng ta thấy, mục đích chính của các đạo học minh chứng một sự thể tối thượng, được gọi qua những danh hiệu khác nhau, đang ngự trị và hoạt động nơi tạo vật. Các đạo học là những tác phẩm của những bậc thức ngộ dưới những hình thức công án, dụ ngôn để ám định khiến tâm trí con người phải định tâm suy nghiệm. Trong sự định tâm suy nghiệm này lại cần nhờ đến phần nào kiến thức; tâm hồn hành giả đồng thời cần được hoàn toàn mở rộng không lệ thuộc ngôn từ, quan niệm, thành kiến, để chấp nhận chính mình trước tiên hầu kiểm chứng mọi mặt, mọi vấn đề suy tư qua kinh nghiệm sống của mình. Kinh nghiệm sống cá nhân, những lời nói hoặc động tác hữu ý hay vô tình xảy ra chung quanh, sách vở, phương tiện truyền thông, hoặc những người chung quanh mình, được coi là những phương tiện hay cơ hội cho mình chứng và nghiệm. Anh em cũng nên để ý; những chứng nghiệm của mỗi người không ai giống ai. Chúng ta nên nhớ câu trả lời của tổ Huy Sơn khi Hương Nham năn nỉ giải thích, “Nếu ta nói ra cho ngươi biết, nhất định sau nầy ngươi sẽ mắng ta vì đó chỉ là cái biết của ta, không ăn thua gì đến ngươi cả!” Tổ Huy Sơn gọi là “Cái biết,” hay là sự thức ngộ cũng vậy. Nếu không ai có ý kiến thêm bớt gì, có thể nói chúng ta tạm cho qua phần Lão, và Trang học. Có điều, tôi có một câu hỏi, dạo này chúng ta nghe nói về thiền khá nhiều. Nào thiền sư, thiền môn, thiền phái, cả đạo thiền nữa, anh em có ai “ngâm kíu” về sự thể được gọi là thiền chưa? Cụ Tài mỉm cười vì học theo tiếng lóng nhóm trẻ.

- Thưa bác, cháu nghe đâu có vị sư nhà Phật bỏ ra lấy vợ rồi xưng mình là thiền sư. Như vậy có phải các vị sư không có vợ thì được gọi là đại đức, hay thượng tọa, và vị sư có vợ thì được gọi thiền sư! Sỹ nhà con hỏi.

- Cái ông này, lúc nào cũng tửng tửng, không nói được câu nào đứng đắn bao giờ. Vợ Sỹ nhăn chồng.

- Thiền sư thì có tóc nên có vợ. Nhà sư không có tóc nên không có vợ. Tình đế vô.

- Tại sao thiền sư phải có tóc? Trên thế gian này biết bao người không có tóc mà đâu phải là sư! Phủ nhào vô.

- Thiền sư phải có tóc vì để được vợ dạy dỗ; nhà sư không có tóc làm sao mà nắm nên không có vợ tất nhiên vừa hợp lý hợp tình. Tình đế thêm.

- Anh cả, anh nghĩ sao? Sỹ lên tiếng.

- Tôi biết chắc đầu tôi có tóc nhưng không phải là thiền sư; thêm nữa, tôi có vợ nên càng không phải là sư thì biết thế nào mà nói!

- Cái ông này lại lây chú Sỹ hay sao, chị Thung nhăn chồng.

- Lây cái gì mà lây; muốn lây cũng không được. Bà thấy không, chú ấy mới cưới vợ được ba mươi mấy năm mà cả tiểu đội. Tôi lấy bà hơn bốn mươi năm mà chỉ được mấy đứa? Có lẽ bà không muốn chắc? Ông Thung ngang ngang luận lý.

- Đúng rồi, Sỹ cao giọng. Nhà em thiền từ ngày lấy vợ đến giờ hãy còn thiền đó. Có thiền mới có công lực, không thiền thì hết ý!

- Chú nói thiền, là thiền thế nào? Thanh thêm giọng.

- Có nhiều cách thiền, lắm kiểu định tâm. Nào là thiền nằm, thiền ngồi, thiền đứng, thiền đi, thiền ăn, uống, nhậu; thôi thì đủ mọi sự đều thiền. Nhà con sợ lục tổ Huệ Năng mắng, sống thì ngồi không nằm, chết thì nằm không ngồi nên cứ làm bừa đi, may ra chết có thể ngồi được chăng, và cứ gọi nó là hành thiền đấy quý vị ạ.

- Vậy còn thế nào là tỏi thiền.

-Tỏi thiền là khi mình nhậu thiền với tỏi gà, tỏi vịt đó. Dễ thế mà không ngộ được; uổng công bác trình bày bao lâu nay, tốn không biết bao nhiêu rượu bia. Ối giời! Cũng may mà ngộ được chữ tỏi thiền.

Sỹ nhà con vẫn đang muốn thao thao, cụ Tài giơ tay ra hiệu ngưng, cụ nói,

-  Có tác gỉa cho rằng thiền phát xuất từ Đại Thừa của nhà Phật, xuất hiện từ thế kỷ thứ nhất trước Công Nguyên. Nhờ dựa trên tính đa dạng của giáo pháp để mở đường cho một số lớn chúng sinh có thể giác ngộ, Thiền thực sự phát triển vào thời điểm Phật học giao thoa và ảnh hưởng mạnh mẽ bởi Lão học. Chúng ta thấy, cho dù chứng theo pháp nào, cuối cùng cũng chỉ được tóm gọn nơi bốn chữ, “Kiến Tính thành Phật.” Nơi thành ngữ tiếng Anh, Zen (thiền) cũng có nghĩa là ngộ, nói theo tiếng lóng. Tiếng Việt mình nói, tôi ngộ ra, có nghĩa cảm nhận được một cách thâm sâu, thì nghĩa của chữ “Ngộ” này cũng được coi là tiếng lóng. Anh Sỹ vừa dùng tiếng ngộ rất chính xác, và nó cũng có nghĩa là thức ngộ.

- Nói về gốc gác, có thể nói lục tổ Huệ Năng là nguồn gốcphát sinh thời vàng son của Thiền và các bậc thức ngộ thường dùng công án và dụ ngôn để kích động suy nghiệm của hành giả.

- Bởi vì “Trực chỉ nhân tâm, kiến tính thành Phật” (GLTH; Tr.184), nên không ai dám tự xưng mình là “Zen Master.” Không hiểu tôi phải nói thế nào, điều này có nghĩa, bất cứ ai cho rằng họ là thày dạy về Zen thì cũng chẳng nên để ý. Anh Sỹ, anh hiểu thế nào?

- Thưa bác, đã tự suy nghiệm thì mình là thày dạy chính mình; bởi cái biết của người khác không phải là cái biết của mình. Sỹ trả lời.

Một tràng pháo tay rộ lên. Không ngờ con nhà này hiểu thấu đáo đến thế.

- Đúng là chó ngáp phải thịt quay. Tình tửng tửng nói.

- Vẫn còn hơn ngáp phải ruồi. Phủ phụ họa.

- Các ông nói gì! Sao coi thường phật gia thế! Sỹ nhà con lên giọng.

- Hoan hô phật sắp thành! Thế là bước vô giòng họ thích dzồi!

- Thích đủ thứ! Đại đức thích đủ thứ.

- Tại sao lại đì hắn vậy? Phải là thượng tọa thích đủ thứ!

- Không được, không được! Đại đức thích đủ thứ.

- Bầu! Bầu cho hắn làm đại đức thích đủ thứ. Ai đồng ý giơ tay. Tình lớn tiếng.

Những cánh tay nam giới giơ cao tiếp nối những giọng hò la đồng ý sôi nổi kéo dài. Tay chưa kịp hạ xuống; những tiếng hò la vẫn đang vương vọng thì ý kiến mới lại được đề nghị,

- Vô vọng bất thành quan! Yêu cầu mọi người im lặng để đại đức mời anh em tham ngộ nhập giới. Tình hồ hởi lên tiếng.

- Đúng, đúng, vô vọng bất thành quan; và ai đó cất lên câu hát, uống rượu, không say, nào hay; uống rượu mà say mới hay. Đã không nâng thì thôi, nâng một lần là hết một chai. Những chai Heineken được nâng cao và vội trống rỗng để nhường các chai đầy bia khác tiếp nối.

- Vọng thì vọng, ở đời, chưa ai sợ thằng này nên thằng này đâu sợ ai. Thưa bác, nhân tiện đây, vợ chồng con kính mời bác và quý hành giả nam cũng như nữ tuần tới ghé qua tệ xá để chúng con đón mừng may ra con có thể trở thành thánh nhân. Ai đồng ý xin ngồi yên, ai không đồng ý mời giơ tay giải thích lý do.

- Mới là phật gia mà đã đòi chờm hơm thánh nhân, thêm một khao vọng nữa.

- Thánh nhân nơi nhà Lão đâu khác gì phật gia nơi nhà Phật, đàng nào thì cũng ngộ mà thôi; sao ông còn cố phân chia cái nhất nguyên đạo học Đông Phương.

- Nhưng phật gia chỉ mới kiến tính thành phật, thánh nhân phải huyền đồng, không vợ, không con, không ăn, không uống, nhất là say xỉn. Hưng bày thêm điều kiện.

- Tôi sai, Sỹ lớn tiếng. Cứ hỏi bu nó coi, xưa nay tôi sai đã nhiều, sai thêm chút nữa chưa chết thằng tây nào. Nhậu thì nhậu, đâu ai đã sợ ai.

- Mời anh cả tuyên bố thành quả, Tình chế thêm.

Ông Thung giơ tay ra hiệu im lặng.

- Thưa cụ, thưa quý anh chị em, để chào mừng chú Sỹ thức ngộ và được sự chấp thuận của chị hai, chú Sỹ mời mọi người tới tham dự bữa cơm mắm muối tại tư gia của chú ấy tuần tới, tôi xin đại diện anh em mà vui lòng chấp thuận. Tuy nhiên, không hiểu chú Sỹ định lập đàn cầu siêu hay dựng mâm cúng quảy như thế nào; cụ nghĩ sao xin cho thêm ý kiến ạ.

Cụ Tài mỉm cười vì giọng điệu ép buộc ngang tàng, ngược lại mang hình thức dưới dạng ăn nói trang trọng của ông Thung. Cụ cảm thấy niềm vui nào đó vượng lên nơi tâm trí. Tên Sỹ này quen thói ăn nói bạt mạng, vẽ rồng vẽ rắn thêm chân, bẻ quặt bẻ quẹo, châm chọc đủ mọi hạng người, trẻ không tha, già không thương, thế mà nhận thức tiến triển chằng ngờ. Cụ lên tiếng,

- Phật gia hay thánh nhân cũng chỉ là danh hiệu khiến những người không nghiệm chứng bối rối, bực mình. Anh Hưng bới thêm điều kiện áp đặt lên bậc thánh nhân nhà Lão, ngăn cản chức vị tự phong của anh Sỹ. Thôi thì anh Sỹ nên chấp nhận cương vị thiền sư tha hồ hợp lý, hợp tình. Như vậy, tuần tới chúng ta quá bộ chúc mừng thiền sư Sỹ cho phải phép, kẻo được mời mà không tới lại mang tiếng kỳ thị. Có điều, thứ năm tới, nếu có thể được tôi nhờ anh Thanh cùng tôi ra phi trường đón linh mục bạn của tôi. Ai có ý kiến gì nữa không?

- Thưa bác, vậy điểm chính yếu của thiền là gì, nhờ bác giải thích lỡ có ai vặn hỏi một cách láo lếu cháu còn biết đường trả lời. Sỹ hỏi.

- Thiền sư không biết thiền là gì, chỉ biết thích đủ thứ.

- Thích đủ thứ là danh hiệu, không phải hàng hiệu.

- Thiền đủ thứ là bất cứ gì cũng thiền. Người ta thích một món thì được gọi là thiền sư thích một món; chú mày thích đủ thứ tất nhiên là thiền sư thích đủ thứ, bộ oan sao.

- Tôi muốn hỏi nguyên tắc chính yếu của thiền là gì chứ đâu hỏi thiền cái gì.

- Bác mới nói thiền phát sinh từ Đại Thừa nhà Phật, hòa nhập với Lão và bị ảnh hưởng mạnh mẽ của Lão nên cũng chỉ kiến tính thành Phật mà thôi. Tiểu Thừa có nghĩa chiếc xe nhỏ, chứa đựng được ít; Đại Thừa là chiếc xe lớn thì chứa được nhiều nên tha hồ chứa lung tung, không cần kiêng kỵ bởi Đạt Ma sư tổ nói rõ, một vị phật không thể phạm tội được nên cứ làm tưới đi. Muốn thích đủ thứ phải suy nghiệm như thế. Thiền đủ thứ là không gì không thiền. Lục tổ Huệ Năng khuyến khích hành thiền. Thiền đủ thứ là hành đủ thứ, hành đại, hành tào lao thiên tướng. Chỉ có thế mà không biết cũng đòi làm thiền sư.

- Người nào ngộ theo nhà Phật thì được gọi là phật gia; người theo Phật học mà chết thì gọi là phật tử. Người ngộ theo Lão thì gọi là lão gia; người theo Lão học mà chết thì gọi là Lão tử. Người ngộ theo Thiền thì gọi là thiền gia; nhà sư theo thiền thì gọi là thiền sư. Chú mày muốn được gọi là thiền sư thì phải cạo đầu.


Đến lúc này, ồn ào thì cứ ồn ào; kẻ nói cứ nói, người nghe cứ nghe, nhưng chẳng nghe được gì vì dăm ba miệng cùng nói, nên cứ uống, và bia cứ mở. Mấy khi lòng dạ được sảng khoái, thảnh thơi, do qua sự giải thích của cụ Tài, ai nấy đều cảm thấy Phật học cũng thế; Lão học cũng vậy, và Thiền đều cùng một mối kiến tính thành phật. Đặc biệt lần này cụ Tài đổi phương pháp; thay vì cụ giải thích lại đặt vấn đề nêu câu hỏi giúp mấy anh em động não. Cụ Tài ra hiệu, rồi lên tiếng,

- Chúng ta thấy, phương pháp hiểu Đạo Học Đông Phương chỉ có một con đường duy nhất là nghiệm chứng. Nơi hành trình nghiệm chứng, ai chứng, người nấy biết, và cái biết không ai giống ai được gọi là ngộ. Ngộ hay thức ngộ là sự cảm nhận sâu xa về một vấn đề nào đó tùy thuộc người ngộ. Như vậy không ai có thể giải thích sự thức ngộ cho bất cứ ai, và nếu giải thích dẫu hợp tình hợp lý thì cũng không giúp ích gì cho người nghe mà coi chừng còn làm hại người nghe bởi đã cướp mất cơ hội thức ngộ của họ. Xin cảm ơn anh chị em đã bỏ thời giờ tham gia đàm luận về đạo học đông phương. Lần tới, chúng ta sẽ có linh mục Nguyễn Công Hải nói chuyện với anh em về Phúc Âm. Anh Thanh, chiều thứ năm cỡ ba giờ chở tôi đi đón ngài được không. Chuyến phi cơ đáp xuống sân bay Gulfport vào lúc 3giờ 45. Muộn rồi, chúng ta giải tán để anh em nghĩ dưỡng sức, chuẩn bị cho những công việc ngày mai.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

CHƯƠNG 8

 

 
Chiều thứ năm, cụ Tài và Thanh tới phi trường Gulfport-Biloxi, MS, đón linh mục Nguyễn Công Hải. Máy bay bị trễ hơn nửa tiếng; Thanh mua hai ly cà phê rồi cùng cụ Tài trở lại nơi đậu xe ở tầng thứ ba ngắm cảnh từ trên cao. Nhân dịp có ít phút truyện trò riêng tư với cụ, Thanh hỏi về nhận định của cụ đối với lớp người Việt tha hương ngày nay nơi đất Mỹ.

- Tôi để tâm theo dõi thấy đại khái dẫu đã 40 năm tính từ năm 1975 tới nay, người Việt mình vẫn còn bị tự ty mặc cảm quá nhiều. Đồng ý rằng đa số người Việt ngày ấy và sau này vượt biên thuộc những thành phần kể như không có học thức; có những người không biết viết hay đọc chữ quốc ngữ. Cũng không lạ gì, vì họ có sẵn tàu bè hoặc sống gần bờ biển nên dễ có dịp vượt biên. Sau này, từ khi có chương trình H.O., mới có thêm người đã được cắp sách tới trường khi còn ở Việt Nam, nhưng sự học thức đại đa số cũng chỉ hết trung học đệ nhị cấp. Định cư nơi một đất nước hoàn toàn khác biệt về ngôn ngữ, tập quán, nơi mà dân chúng đại đa số có thói quen cũng như có được sự giáo dục cộng đồng, đồng thời bị tuyên truyền sai lầm về cá tính cũng như lối sống người Việt nên có những cái nhìn khác biệt đối với những người mới tới. Cũng phải đồng ý rằng có những người Mỹ, sống nơi một nước nổi tiếng văn minh như thế cũng không đọc hay viết được ngôn ngữ của họ.

 
- Đối với hạng người thiếu hiểu biết này, họ thường tỏ ra ganh tỵ với người Việt; bởi họ tưởng người tỵ nạn được chính quyền Mỹ ưu đãi, cấp dưỡng hoàn toàn. Dĩ nhiên, với giới này, vì thời còn nhỏ họ lười lĩnh, ỷ y không chịu học nên không biết đọc, biết viết; dù rằng nơi những nước văn minh nền giáo dục học đường rất được chú trọng và ưu đãi. Lớn lên làm được đến đâu, ăn xàì tới đó chẳng để ý gì về ngày mai phương chi tương lai. Ngày xưa, các hãng xưởng có những chương trình giúp nhân công để dành tiền nhưng họ không bắt ép ai chấp nhận bất cứ đề nghị nào nếu không muốn. Lại nữa, nơi một đất nước kỹ thuật phát triển và trù phú như đất Mỹ, dân chúng thường di chuyển tùy thuộc công sở hoặc môi trường; nên họ không có ý niệm sở hữu một căn nhà cố định cho tới trước khi về hưu. Mà anh biết, không học hành, thiếu ý thức tự lập, tạo nên bản tính nương tựa nơi chương trình an sinh xã hội trong khi quen thói ăn xài. Nếu thử so sánh hai lối sống giữa một gia đình người Mỹ nghèo với một gia đình người Việt, lối tiêu xài của gia đình người Mỹ nghèo có thể gấp ba gia đình người Việt. Đi chợ, anh để ý sẽ nhận ra người dùng thẻ phụ cấp thực phẩm; họ mua những thứ mà có lẽ anh không bao giờ dám mua. Có người mua steak về cho chó của họ ăn. Có lần tôi cho một người Mỹ quen mượn một trăm Mỹ kim vì tiệm bán đồ cũ của anh ta không sinh lợi đủ để trả tiền thuê nên phải đóng cửa. Trong ngày dọn hàng ra khỏi tiệm, anh ta mua đồ ăn trưa được nấu sẵn một cách thừa thãi, quăng vô thùng rác hơn một nửa. Một phần ba két nước ngọt mới mua, vì không để vô tủ lạnh anh ta bật nắp đổ đi hết. Phải mượn tiền mà quen thói xài như thế, phỏng có được gọi là nghèo không?

 
- Dù thế nào chăng nữa, người Việt mình sống nơi đất nước người, đương nhiên tự mang khoảng cách văn hóa, tiếng Mỹ gọi là “Culture gap,” dẫu thái độ có cố gắng cách mấy cho phù hợp với dân chúng nơi đồng đất nước người cũng không thể nào có thái độ và phản ứng giống người bản xứ. Hơn nữa, văn hóa Đông Phương áp đặt trên con người những khuôn mẫu sao cho xã hội có thứ tự, lớp lang dễ cai trị, càng khiến cho người Việt Nam nơi những đất nước mới càng thêm tự ty mặc cảm. Từ sự tự ty mặc cảm này đã phát sinh nhiều chuyện nhố nhăng làm phiền lòng những người ý thức. Tuy nhiên, cũng phải chân thành nhìn nhận rằng những nước thứ ba là cơ hội tuyệt vời cho những con em Việt Nam về đường học vấn. Có điều, không hiểu tại giới hạn truyền giống bẩm sinh hay vì lý do gì mà chỉ được một số ít người Việt vượt hẳn lên. Ông bà mình có câu, “Làm quan có mả, làm kẻ cả có giòng;” điều mà tôi muốn nói là nơi bậc trung học và đại học, sinh viên người Việt khá nổi nhưng lên cao hơn nữa tự dưng biến mất chẳng khác gì nước đá  hòa tan nơi dòng sông. Thử hỏi bao nhiêu người Việt trên thế giới, và chúng ta có được bao nhiêu phát minh mới từ họ?

 
- Xét riêng về mặt nhận thức, tôi thấy người Việt mình bị thế giới vật chất hóa xâm nhập sâu đậm. Cũng chẳng lạ gì, đang mang thân phận khổ cực, đầu tắt mặt tối suốt ngày, đôi khi không lo đủ miếng cơm manh áo, nay gặp thời cơ có công ăn việc làm, cho dù tiền lương không bằng người bản xứ, nhưng quen lối sống tằn tiện thì cũng có dư của ăn của để nên càng chăm chỉ lo làm lụng. Đàng khác, người Việt tỵ nạn đã trải qua mảnh đời không dám nghĩ tới tương lai, không nơi nương tựa lúc khốn cùng; tất nhiên ý chí cũng như khả năng sinh tồn rất mạnh mẽ. Thế nên, có cơ hội thì họ ra sức làm e lỡ khi chuyện chẳng ngờ xảy đến còn có chút vốn liếng giải quyết; bởi không người thân thuộc, chẳng ai quen biết thì chạy vào đâu. Ai không kinh nghiệm, “Có tiền mua tiên cũng được;” cho dẫu sinh trưởng trong hoàn cảnh nghèo nàn do đất nước rơi vô cảnh triền miên chiến tranh lại chẳng trù phú gì; mơ ước về cuộc sống của con dân Việt phải nói là rất cao. Mơ ước này không đặt nặng đến tiền bạc, ra giầy vào dép, hoặc nhà lầu xe hơi, nhưng là một cuộc sống ổn định, tương lai vững chắc. Mộng của người Mỹ chỉ là có được căn nhà thuộc về mình và mảnh vườn nho nhỏ trồng bông, trồng hoa. Mơ ước của người Việt mình có thể nói như lời của một bài hát nào đó, “… Có con trâu, có nương rau, thiên đường này mơ ước bao lâu.” Mơ ước có con trâu, có nương rau tất nhiên mình đâu cần phải lo lắng về nơi ở vì đã có nhà. Dù không để ý đến ước mơ, nhưng anh thấy, người Việt mình nơi đất nước này, hầu hết mỗi gia đình đều mua được căn nhà không to thì nhỏ. Dân bản xứ thất nghiệp một tuần là xốn xang lo khai thất nghiệp, nhất là vào thời kỳ này, kinh tế xập xệ, thất nghiệp cỡ bốn, năm tháng thì nhà băng kéo nhà; những cảnh gia đình tan nát, vợ chồng mỗi người một ngã, con cái giao về ông bà nội ngoại là chuyện không hiếm xảy ra nơi đất nước văn minh này.

 
- Cũng vì nơm nớp e sợ viễn ảnh quá khứ có thể xảy đến nên người Việt tỵ nạn lo cắm đầu cắm cổ làm việc đến độ bỏ bê cả việc giáo dục con cái. Xét cho ngay, cả hai vợ chồng mờ sáng đi làm, chiều muộn mới về tới nhà, có người làm hai việc thì còn thời giờ nào mà giáo với mác; thêm vào đó, trẻ ở nhà trường, nghe, học, và nói tiếng Mỹ, dù chỉ mới dăm bẩy tháng, một năm, lại không có cơ hội nói tiếng Việt ở nhà thì tâm tình càng ngày càng cách xa cha mẹ; dẫu cha mẹ tối ngày gắng sức làm lụng để nuôi dưỡng chúng. Rồi nào đình đám, tang ma, và khi có chút của ăn của để lại phải nghĩ đến cái xe khá hơn, căn nhà thanh lịch hơn cho nở mày nở mặt với đời. Ngay câu tục ngữ, “Đẹp tốt phô ra, xấu xa đậy điệm” đôi khi cũng làm khổ biết bao gia đình chỉ vì không nhận thức chín chắn.

 
Nửa tiếng trôi mau, hai người trở lại đón cha Hải. Vừa đi ngang qua các gian hàng bán vé phi cơ, Thanh thấy một cụ già đầu tóc bạc phơ, vai quàng một túi xách, chiếc áo lạnh khoác nơi tay trái, và tay phải nắm cán cầm, có thể kéo dài, của chiếc vali nhỏ có bánh xe đang đi ngược lại. Cụ Tài bước vội tới chào hỏi và quay lại giới thiệu Thanh với ngài. Thanh đỡ lấy cán cầm vali, miệng nói,

- Con xin chào cha. Cha có còn phải lấy thêm đồ gì nơi quầy hàng hóa không?

- Chào anh, mọi sự chỉ có thế. Coi chừng đụng bể chai rượu lễ trong đó. Ngài trao tay cầm vali cho Thanh nhưng vẫn kè kè khoác túi xách trên vai.

- Cha đưa luôn túi xách cho con.

- Khỏi cần, để tôi mang được rồi. Nhà anh ở gần nhà ông bạn tôi hay xa?

- Thưa cha, nói gần thì cũng không gần, mà xa thì cũng không xa. Muốn tới thì gần mà không muốn tới thì xa.

- Anh học được kiểu nói của ông bạn tôi bao giờ vậy? Hay là ông bạn Tài đầu độc anh ta rồi phải không? Ngài quay sang cụ Tài hỏi, giọng nhẹ nhàng, mang phần vui tươi, dí dỏm.

- Thế ra cha cũng biết nhiều về cụ Tài ư? Thanh hỏi.

- Không nhiều, tính đến nay cỡ chừng hơn kém 50 năm. Anh Hưng và các cháu dạo này ra sao? Ngài hỏi cụ Tài.

- Cảm ơn cha, vợ chồng chúng vẫn thường vậy. Cháu nhỏ nhất đã xong đại học rồi. Cụ Tài trả lời.

- Mới ngày nào còn thấy nó đang học lớp 12 mà!

- Năm năm rồi còn mới mẽ gì nữa! Cụ Tài nhẹ nhàng. Ba đứa lớn đã có vợ, có chồng, con cái biết đi học rồi. Để chiều nay kêu chúng đến chào ông. Mời ông cụ và anh chị Thanh sáu giờ tối nay ghé qua nhà Hưng dùng cơm tối với cha Hải. Cụ Tài hướng qua Thanh nói.

- Cháu định tối nay mời cha và cụ dùng cơm ở nhà cháu rồi tối mai làm tiệc mời cha quản nhiệm và ban điều hành để giới thiệu cha mới tới. Thanh hơi bỡ ngỡ.

- Nếu vậy cần gì tôi phải nhờ anh đưa tôi đi đón ngài. Vợ chồng Hưng đang nấu ăn chờ chúng ta về ngồi tiệc đó.

- Để cháu gọi nhà cháu và bố cháu sửa soạn. Bây giờ mình bỏ đồ của cha xuống nhà cháu và đón bố cháu cùng với bà xã cháu đi luôn.

- Đưa luôn mấy đứa nhỏ sang ăn cho vui.

- Vậy nhà cháu phải lái xe chở tụi chúng.

- Em hả! Em nói bố cùng em và mấy đứa nhỏ chuẩn bị, sau khi anh chở cha về tới nhà bỏ đồ, mình sẽ qua nhà anh Hưng ăn cơm tối. Cỡ chừng nửa tiếng nữa anh về tới nhà. Thanh gọi điện thoại cho vợ.

- Cha và cụ đứng chờ nơi đây để con lấy xe tới đón, khỏi phải đi bộ. Thanh nói hai người đứng đợi và đi lấy xe.

 
***
 
Chín giờ sáng hôm sau, Thanh cùng bố và cha Hải đi câu cá hánh nơi ngõ nước vô Back Bay ở cầu nối Biloxi với Ocean Springs, giữa tháng mười một, trời đã đổ lạnh. Cha Hải mới đầu bởi chưa quen với sóng nước lúc tàu chạy nên đi lại hơi khó khăn, vả lại ngài cũng đã có tuổi. Khi tầu đã được thả neo cách chân cầu cho người đi chơi chừng 100 feet lúc con nước đang lên trong khi trời yên sóng gió, Thanh lấy thùng mồi tôm sống và mắc câu cho cả ba người. Mới đầu, cũng tưởng như câu mồi chết nên quen thói quăng câu ra xa, thế là con tôm sống mắc hờ nơi lưỡi câu bay vô định hướng. Trong lúc ngài cuốn câu thì bố con Thanh đã kéo lên hai con hánh khá lớn. Cha Hải lò mò bắt tôm mồi, nhưng Thanh đã vội nói, cha để con mắc mồi cho kẻo không quen bóp chết tôm mồi cá hánh không chịu ăn.

- Thì ra cái nghề này cũng lắm công phu! Tám mươi ba tuổi rồi mà vẫn chưa học xong; có lẽ ông cha mình nói “Ông bảy mươi phải học nơi ông bảy mươi mốt là sai hay sao?”

Bố anh Thanh lên tiếng,

- Thời buổi này có lẽ hàng văn ăn ngược; bởi ông bảy mươi mốt coi chừng phải học nơi đứa bé mười tuổi. Nhà có ba đứa nhỏ, chúng nó gõ computer làm đủ thứ chuyện, nào lên net, nào chơi game. Thế mà mình rờ đến nó thì máy chạy đàng máy mà người gõ đàng người, chẳng còn biết lối nào mà rờ nữa.

- Gõ computer thì tôi cũng tạm được nhưng mà rờ rờ con tôm mồi này thì có lẽ như anh Thanh nói, bóp nó chết mất.

Vừa nói chuyện, vừa câu, chỉ một chốc đã được mười mấy con hánh khá lớn, nhỏ nhất cũng cỡ 3, 4 pounds đổ lên. Thanh đề nghị,

- Hay là tối nay mình mời cha quản nhiệm và mấy ông trùm, ông trưởng, ăn lẫu cá hánh với bún. Nướng chừng 4 con, còn bao nhiêu nấu lẫu, xào lòng cá với hành tây, thêm độ hai con vịt luộc nữa là tha hồ xôm tụ, bố nghĩ sao?

- Cũng được, nhân tiện giới thiệu cha Hải cho họ biết đỡ mất công chở ngài đi chào cha quản nhiệm. Bố Thanh trả lời, câu thêm mấy con nữa rồi về ăn trưa.

Cha Hải không nói gì, bắt thử tôm mồi mắc vô câu…

- Thế là chết tiêu một chú tôm mồi, cha Hải lên tiếng. Có lẽ mình được sinh ra để nói chứ không phải để mắc mồi tôm sống. Đúng là phường phá hoại! Anh Thanh, mắc dùm tôi mồi câu, nếu không tôi lại bóp chết thêm con tôm mồi! Tôi muốn câu thêm một con nữa cho đủ bộ ngũ hành.

- Thì cha cứ chấp nhận tốn cỡ 100 con mồi sẽ học được nghề câu mồi tôm sống.

- Thế sao mình không đi câu vào sáng sớm bởi tôm nha nhá, cá hừng đông…

- Cá biển ăn theo con nước thủy triều. Khi nước thủy triều lên, cá vô lạch kiếm mồi. Hôm qua mùng năm âm lịch nước lừng, cá lơ lửng ngoài khơi. Hôm nay mùng 6, nước chảy mạnh tới trưa thì đẫy. Sáng sớm lúc 6 giờ, nước mới vừa bắt đầu lên, các cá con loanh quanh gần bờ vô sớm, sau đó những con cá lớn mới vô thì câu vào khoảng 9 giờ tới 11 giờ mới có cá lớn.

- À thì ra thế! Biết hết mọi sự nhưng sự cần thiết không biết thì cũng coi như không biết gì. Cổ nhân mình nói kể cũng không sai, trăm hay không bằng tay quen…

- Thưa cha, cha về chơi được bao lâu. Nội trong hai tuần nữa, con định đi câu một chuyến lấy cá ăn mùa đông, câu ngoài khơi thú hơn trong này.

- Trong lúc đang có cá hánh nhiều như thế này sao không để dành mà lại phải đi câu xa? Cha Hải hỏi.

- Ngoài sâu mới lắm cá ngon, chẳng hạn như cá hồng, cá thủ đỏ, cá ngộ lớn, câu đã tay lắm. Câu mồi sống kéo cá không đã chút nào. Mình trả giá cho niềm vui mà cha! Thanh nói.

- Tôi cũng không có việc gì, có thể ở tới ba hay bốn tuần hoặc hơn tùy ý. Ông Tài nói tôi về chơi nhân tiện nói chuyện với nhóm thanh niên về Phúc Âm. Nghe đâu ông ấy đã giải thích về đạo học Đông Phương cho các anh rồi phải không?

- Thưa vâng. Con mới tham dự được mấy buổi tối vì trước đó con về Chicago mất ba tuần, nghe đâu bác Tài đã nói với anh em được ba lần. Thoạt đầu con cứ tưởng bác Tài có tuổi rồi, vả lại bề ngoài bác có vẻ trầm tĩnh, nhẹ nhàng, nếu không muốn nói là kín đáo và khuôn mẫu, nhưng đến khi nghe bác nói chuyện về đạo học mới thấy nhận thức của bác được coi như không có ranh giới, bất cần phép tắc, hoặc khuôn mẫu, đẳng cấp hay lề thói. Mấy người ăn nói tào lao, bặm trợn cũng không còn đường nói ẩu; mà hình như, đạo học chỉ hợp với những tâm hồn chân thành, dám liều suy nghĩ. Đối với con, đó là cơ hội để mở rộng tâm hồn đối diện với thực thể uyên nguyên vô hạn định đang hoạt động nơi tạo vật. Con cứ tưởng vì học hành bên này nên suy tư rộng mở có thể nói tới mức quá trớn; ai ngờ, cả mấy ngàn năm trước người ta đã đi quá xa. Thế rồi đem so sánh những chiều hướng đạo học với tôn giáo, con thấy hình như đạo học đối nghịch với tất cả các tôn giáo.

- Tôn giáo đối nghịch với đạo học chứ! Anh có nói lộn không?

- Thưa cha, cha nói đúng vì đạo học có trước tôn giáo. Xin phép cha để con tháo dây đưa tàu về kẻo cũng muộn rồi; cha vô ngồi nơi ghế gần vô lăng bởi tàu phải quẹo hơi mất thăng bằng.

 
* * *

 
Tối nay tại nhà Sỹ có thêm hai vị trùm, và hai người ở ca đoàn của cộng đồng họ đạo khiến không khí hơi khác lạ. Thay vì thói quen ăn nói bạt mạng giữa những anh em đã lâu quen biết, đàn đúm, lại có thêm chút kiến thức về đạo học, vả lại, hai vị trùm cũng không xa lạ gì với những anh em Công giáo, nhưng, do thấy mấy người không theo Công giáo, dẫu quen biết, tham dự nghe cha Hải nói chuyện nên các vị này hơi ngỡ ngàng khiến bầu không khí hơi thiếu cởi mở. Sau màn ăn nhậu, dùng rượu bia thay xăng dầu hâm nóng những bộ máy nói và những chiếc bàn đã được thu dọn sạch sẽ chỉ còn lại những chai bia hoặc ly rượu đang uống dở, cụ Tài lên tiếng,

- Như anh em đã biết, đây là cha Hải bạn quen biết của tôi đã gần 50 năm. Nếu có cơ hội và thời giờ, tôi sẽ kể về lý do và cơ hội chúng tôi quen biết nhau. Tối nay và một đôi tối trong những tuần kế tiếp, tôi mời ngài gặp gỡ anh chị em để trình bày về Phúc Âm. Có điều tôi quên đã không nhắc nhở anh em đọc Phúc Âm trước khi tham gia hội thoại. Thiển nghĩ, sau buổi tối nay, chúng ta ít nhất còn có cả tuần lễ cho lần họp tới, hy vọng anh em có đủ giờ đọc qua. Ngài đã về hưu và hiện đang ở tại Philadelphia, mấy lần tôi đề nghị ngài về miền Nam cho ấm áp, nhưng có lẽ duyên chưa tới nên ngài vẫn còn lưu luyến hơi hướng miền giá lạnh Bắc Mỹ.

 
- Mọi người đều biết tôi không theo đạo nào hết. Sở dĩ tôi phải minh định vì hôm nay có thêm một vài vị theo Công giáo tham dự. Mục đích của những buổi hội thoại là nhận định về những đạo học mà không phân tích hay nói gì về tôn giáo. Như các anh em đã tham dự những lần trước đều biết, chúng ta nêu lên những nhận định cốt lõi của các đạo học, và nói theo ngôn từ của anh Sỹ, chủ nhà, đó là “Ngâm kíu” một số công án hay dụ ngôn nơi các đạo học hầu tăng thêm nhận thức tâm linh. Bởi tôi không theo tôn giáo nào nên không muốn nói gì về tôn giáo. Hôm nay nhân tiện có cha Hải, nếu anh em có thắc mắc gì về liên hệ giữa tôn giáo và đạo học, anh em cứ việc nêu lên hy vọng ngài sẽ giải thích thỏa đáng cho lòng khát vọng của anh em. Bây giờ, tôi xin nhường lời. Cụ Tài đưa tay, mời cha.

 
- Thưa ông bạn già và quý anh chị em, tôi tên là Nguyễn Công Hải vượt biên năm 75 thuộc dạng dân Việt số 9, sinh năm 1932. Những ngày còn ở Việt Nam trước năm 75 tôi đăng lính không quân và được bổ nhiệm làm việc tại phi trường Biên Hòa với chức danh quân vụ thượng sĩ nhất coi một tiểu đội túc trực đường bay cho quân đội. Sang tới đất Mỹ, tứ cố vô thân và được một gia đình người Mỹ bảo trợ, sau đó mấy tháng, tôi gia nhập một nhà dòng và sau khi học hai năm thần học tại Chicago, tôi bị nhà dòng đuổi với 5 thứ tội mà tôi chỉ nhớ được hai tội đặc biệt đó là “Anti American” và “Sturbon.” Sau đó tôi xin gia nhập địa phận Philadelphia và chịu chức linh mục năm 1985, tới nay được 30 năm. Qua những năm tháng làm việc với chức vị linh mục giữa những cộng đồng người Mỹ và ít tháng với người Việt, tôi nhận thấy phần nào lòng thao thức của con người muốn phân định một cách rõ ràng về niềm tin của mình cùng những sự liên hệ với cuộc sống thực tại của con người, và hành trình tâm linh, hành trình đức tin. Có lẽ vì những ngày còn ngồi ghế trung học, tôi theo ban B, toán và lý hóa, nên những suy tư của tôi được đặt nặng trên khuôn mẫu lý luận. Bất cứ những gì được coi như tự trời rơi xuống thật khó cho tôi chấp nhận; nên tôi tìm hiểu và đào sâu về chúng qua sách vở, đặc biệt suy tư sao cho hợp lý và hợp tình, và có thể chấp nhận được. Những gì được gọi là phải tin, chẳng có gì cho tôi đặt vấn đề; vì dù lý luận đến mấy cũng không có gì để minh chứng và đụng chạm đến được nên tôi đành chấp nhận gọi là tin cho qua.

 
- Thế nên, trước khi chúng ta hội thoại, tôi muốn biết quý anh chị em có nhận định gì về sự liên hệ của tôn giáo và đạo học?

- Thưa cha, Sỹ nhà con vội lên tiếng. Theo như con thấy thì đạo nào cũng là đạo; đạo nào cũng dạy ăn ngay ở lành, giúp đỡ người khác nếu có thể và đóng góp để phát triển tổ chức tôn giáo của mình. Nhà thờ thì đóng tiền trả lương cho các linh mục, trả chi phí bảo quản nhà thờ, giúp lung tung, nhóm truyền giáo này, hội truyền bá Phúc Âm kia. Nhà Phật thì cúng dường, cúng chiếu, ăn chay, không ăn mặn nhưng ăn giả mặn, không ăn thịt, ăn cá, nhưng ăn giò giả làm bằng đậu phụ, ngoại trừ không lấy vợ, lấy chồng giả. Một số tôn giáo cấm uống bia, bởi bia độc hơn rượu nên có mộ bia mà không có mộ rượu; rồi đạo này ăn mặn thì một vợ; đạo kia ăn chay thì hai ba vợ cũng được nên con đang định ăn chay cho thỏa mãn tình yêu không biên giới. Xét chung, con nhận thấy đạo học chỉ dạy về hành trình thăng tiến tâm linh cá nhân. Tôn giáo có luật này, luật nọ, có điểm tới chẳng hạn như niết bàn hoặc thiên đàng nếu nói chung chung. Con xin ngưng vì có quá nhiều thứ đạo nên lắm thứ luật không thể biết hết phương chi nói hết ạ.  

- Anh định ăn chay mà còn muốn tình thật không giả, sao không tình chay cho thuận lý, hợp tình? Cha Hải cười cười hỏi Sỹ.

- Thưa cha, con chưa ăn chay, chỉ mới có tình chay mà bu nó quá quắt lắm nên mới định đổi thành ăn chay may ra có được tình mặn. Sỹ lý luận.

- Cái ông này ăn nói lung tung, vợ Sỹ nhăn chồng.

- Một vợ nằm trên giường, hai vợ mời ra đường, ba vợ lọt xuống mương, bốn vợ vô nhà thương. Tình đế vô.

- Thưa cha, ông Thung lên tiếng, tôi theo đạo Phật, đôi khi ăn chay, nhưng không có tình mặn có lẽ cũng giống như chú Sỹ nói; bởi bà nhà tôi cũng chẳng vừa gì. Thế nên, ăn chay hay ăn mặn, tình chay hay tình mặn có lẽ tùy thuộc mụ chủ nhà chăng.

- Cái ông này, ông học được lối ăn nói tào lao bao giờ thế? Chị Thung lên tiếng ngăn chồng.

- Chị nói vậy oan cho chúng tôi rồi. Chúng tôi học anh cả chứ đời nào anh cả học chúng tôi; đâu có chuyện hàng văn ăn ngược như thế phải không anh cả. Hưng nói.

- Thưa cha, thưa cụ, chả nói giấu gì, bởi cụ (Tài) dạy rằng, ý kiến, ý nghĩ không đúng không sai; nó tùy thuộc môi trường được bày tỏ mà trở nên thế nào chẳng khác gì câu nói “Lửa thì không nóng.” Ai cảm thấy nóng thì người ấy biết. Thực ra, xưa nay tôi là kẻ ít mồm, ít miệng, chỉ có một cái à, nhưng vì cha mới tới, lại có thêm mấy vị nơi cộng đồng Công giáo tham dự nên tôi phải lên tiếng để tối hội thoại thêm vui tươi, chứ nếu khô khan quá chỉ tốn thêm rượu bia mắc mỏ. Ông Thung giải thích.

- Tôi nghĩ, sự liên hệ giữa đạo học và tôn giáo ông bạn tôi đã giải thích, nếu tôi không lầm, nhưng coi chừng anh em vô tình không để ý thôi. Tôi biết ông bạn tôi không thích nói dài dòng, mà đôi khi còn cắt bớt để người nghe có cơ hội nhận thức thêm. Nếu để ý đến tâm tình của chúng ta khi tham dự những nghi thức tôn giáo hay khi một mình cầu nguyện, cúng bái, chúng ta sẽ nhận thấy mỗi người được sinh ra với lòng khát vọng nào đó nên luôn luôn thao thức kiếm tìm. Tôn giáo là tổ chức quy tụ những người có cùng  niềm tin giống nhau dẫu họ tự nhận thức hay được dạy dỗ hoặc giáo hóa như thế nào. Tôn giáo phát sinh từ đạo học; chúng ta thấy đạo học phát triển tại vùng nào thì tôn giáo mang tên đạo học đó phát sinh.

- Thưa cha, nếu nói rằng tôn giáo phát sinh từ đạo học vậy sao không thấy tôn giáo dạy về đạo học mà chì thấy nói về luân lý? Tình hỏi.

- Anh lấy gì chứng minh câu hỏi của anh? Cha Hải điềm nhiên đặt vấn đề.

- Thưa cha, Tình lên tiếng, đồng ý rằng những bài đọc thì thuộc về Kinh Thánh Cựu Ước và Tân Ước nhưng khi giảng thì con chỉ thấy các cha giải thích lời Chúa theo nghĩa luân lý làm như chúng con là phường vô luân. Con nghĩ, tới nhà thờ để thờ phượng Chúa chứ không phải đến để học những bài học luân lý áp dụng trong đời sống. Hơn nữa, nếu nhận định lời Chúa qua nhãn quan luân lý, câu Kinh Thánh này đối nghịch với câu Kinh Thánh kia khiến chúng con trở thành người đi giữa hai lằn đạn. Chẳng hạn, một đàng thì cha giảng rằng Thiên Chúa yêu thương vô bờ bến, hy sinh chính con một ngài để chuộc tội cho loài người; đàng khác cha lại cũng giảng Chúa phạt. Một Thiên Chúa yêu thương vô bờ bến không thể nào lại là một Thiên Chúa công thẳng được vì như vậy không hợp lý và hợp tình chút nào. Ấy là con chỉ mới nói đến một khía cạnh; còn những khía cạnh khác chẳng hạn con theo đạo Công giáo tức là thuộc về Kytô giáo, nhưng hình như những lề lối được áp dụng xưa nay chẳng khác gì nơi Cựu Ước, tức là theo Thiên Chúa giáo của người Do Thái. Con thấy mấy điểm cứ được nhắc đi nhắc lại nào là cầu nguyện xin Chúa giúp sức, ăn ở ngay lành để sống xứng đáng làm con cái Chúa. Con tự nghĩ, đã có Chúa Giêsu chịu chết cho tội lỗi nhân loại thì sống tốt lành, thánh thiện coi chừng lại chứng tỏ từ chối ơn cứu chuộc, khinh thường cái chết của Chúa Giêsu. Suy luận thêm một chút, nói rằng Chúa chết để chuộc tội cho mọi người sẽ mang lại kết quả phản tác dụng. Con muốn nói rằng, người ta sẽ nghĩ, bởi Chúa đã chết để chuộc tội cho mình thì sự chết của Chúa Giêsu trở thành bảo hiểm cho mình tha hồ phóng túng vì đàng nào ngài cũng đã chết từ hơn kém hai ngàn năm trước…

- Ai có ý kiến gì không?

- Thưa cha, ông trùm Lực lên tiếng, thưa ông trùm, các ông các bà đang hiện diện nơi đây. Lần thứ nhất con tham gia nhưng nghe ông Tình nói không thể chấp nhận được nên con xin trả lời. Xin cha và quý vị thông cảm nếu có gì thiếu sót. Thưa cha, thưa ông Tình, chúng ta được Chúa ban cho có cuộc đời để thờ phượng Chúa nên việc thờ phượng Chúa là bổn phận chính yếu. Nếu chúng ta không cầu nguyện xin Chúa soi sáng và chúc lành thì cuộc đời chúng ta sẽ ra sao. Chúa ban cho chúng ta sức khoẻ để làm lụng nuôi sống gia đình thì chúng ta phải cảm tạ Chúa. Chúng ta phải sống tốt lành để khỏi làm mất lòng Chúa, để hưởng ơn cứu độ, được hưởng nước thiên đàng sau này. Chúa đã hy sinh con một của ngài là Chúa Giêsu chịu chết trên thánh giá đổ máu mình ra chuộc tội cho thiên hạ; như vậy nếu không sống tốt lành, thánh thiện, thờ phượng Chúa tức là chối bỏ công chuộc tội của Chúa Giêsu. Mười giới răn Chúa đã phán với ông Môi Sen là những điều luật chúng ta phải giữ cho đẹp lòng Chúa. Nếu không tuân giữ thì đáng phải phạt sa hỏa ngục; như thế là Chúa công bằng, mình làm mình chịu thì có chi mà không công bằng. Dạ, thưa con xin hết ạ.

 
Ông trùm Lực khoảng năm mươi mấy, sáu chục tuổi đang làm việc cộng đồng Công giáo, rất mộ đạo, con cái đã lớn có gia đình hầu hết, chạy loạn hồi 75. Gia đình gom tụ lại và vay mượn, tậu được một cây xăng trên Hwy 90, làm ăn tương đối khấm khá. Tình nghe mà lắc đầu nhưng không nói gì, không phải bởi xưa nay hắn vốn không thích nói nhiều mà thấy ông trùm Lực trả lời theo kiểu “Ông nói gà, bà nói thóc” nên im lặng chờ xem cha Hải trả lời ra sao.

- Ông Sỹ, chủ nhà, cha Hải kêu đích danh.

- Thưa cha, con nghe các ông bà xưa nói các cha là đức chúa trời ngôi thứ tư nên con chờ nghe cha phán quyết. Sỹ ỡm ờ.

Bầu không khí trở nên căng thẳng bởi câu hỏi của Tình hơi nặng đối với những cặp tai người Công giáo. Lời thật mất lòng nhưng đây là lần đầu tiên cha Hải nói chuyện và thực ra, ngài cũng chưa nói gì. Dẫu mọi người, trừ mấy người mới tham dự đều hiểu rằng ý kiến không đúng, không sai, nhưng Tình lại nêu lên nhận định riêng về tôn giáo. Không thấy ai nói gì, cha Hải lên tiếng,

- Sự nhận định của anh Tình đúng với mọi tôn giáo. Mặc dầu tôn giáo phát xuất từ đạo học nhưng tôn giáo là một tập thể con người có tổ chức nên cần phải có những quy luật của tổ chức. Tôi thử đặt vấn đề, chúng ta có biết mục đích của tôn giáo là gì không? Tại sao chúng ta theo tôn giáo? Tôn giáo bao gồm những gì? Và mang lại lợi ích gì cho con người? Ngưng một chút ngài tiếp,

- Như tôi đã nói, điều mà mọi người đều có thể nhận biết; đó là mỗi người chúng ta được sinh ra với lòng khát vọng nào đó, và khi để ý nhận định, có thể đơn giản nói rằng chính lòng khát vọng này là đầu mối cho những thao thức tiềm ẩn kiếm tìm; nếu không để ý hồi tâm sẽ không nhận ra. Lòng khát vọng tiềm ẩn này là gì; đó là muốn nhận biết mình thế nào, thân phận mình ra sao; tại sao mình có cuộc đời; tại sao mình không được sinh ra sớm hơn hoặc muộn hơn? Thế rồi cuộc đời sẽ dẫn dắt mình về đâu? Chẳng lẽ mình có cuộc đời rồi sẽ qua đi mất tăm tích được đánh dấu bằng cái chết? Mình có liên hệ gì với vũ trụ này không? Có quyền lực nào ảnh hưởng nơi cuộc đời của mình, và quyền lực ấy là gì? Đại đa số con người đối diện với cuộc đời thường thì chấp nhận đã được sinh ra thì phải sống và lo giải quyết những nhu cầu sống; và dĩ nhiên, những thăng trầm trong cuộc sống che khuất nỗi khát khao, thao thức. Cũng có những người không bằng lòng chấp nhận thân phận một cách tự nhiên mà muốn nhận biết và làm chủ cuộc đời của mình nên đặt vấn đề và tìm hiểu, hoặc nhận thức về giá trị con người và cuộc đời trong dòng sinh hóa vô tận này. Thế nên, đã có những người dùng cả cuộc đời mình để chiêm nghiệm, suy tưởng, nghiệm chứng thực thể con người, và để lại những gì chúng ta gọi là kinh điển đạo học. Nếu để ý chúng ta thấy, tâm trí nơi mỗi người luôn luôn động, luôn luôn suy nghĩ, hoặc thao thức kiếm tìm một vấn đề hay một chuyện nào đó. Để thoả mãn thao thức này, một số người có cùng quan điểm họp lại có tổ chức. Đây là hình thức ban sơ của tôn giáo. Và dĩ nhiên, quy luật, điều lệ của tổ chức phát sinh.

- Tôi nghĩ ông bạn tôi đã giải thích những sự thể này, nhưng tôi nhắc lại. Vì tôn giáo bắt nguồn từ đạo học nên những vị rao giảng nơi tôn giáo có bổn phận nghiệm chứng đạo học, chia sẻ nghiệm chứng của mình với tín đồ để họ so sánh cũng như tìm ra phương pháp thăng tiến tâm linh cho mỗi người, và chứng nghiệm với tín đồ, giúp họ nhận thức để thức ngộ. Tôi nghe ông bạn tôi nói đã trình bày Phật, Ấn, Lão, Mật Tông cho anh em rồi phải không? Riêng tôi sẽ cùng với anh em chúng ta chứng nghiệm Phúc Âm. Tuy nhiên, trước khi nói về Phúc Âm, có vài vấn đề cần phải được minh xác; chẳng hạn như con người mình thế nào; Thiên Chúa là gì; bởi vì mỗi người có những kinh nghiệm riêng, trải qua những môi trường sống khác nhau nên thường thì có những nhận thức khác biệt; trong khi đàm luận, chúng ta lại dùng chung những ngôn từ. Để tránh cảnh đồng ngôn dị ý, tôi nghĩ sự phân định rõ một vài vấn đề trước khi bước vào Phúc Âm là điều nên đặt ra. Điều đầu tiên tôi muốn nêu lên đó là con người mình thế nào.

- Thưa cha, ông trùm Canh lên tiếng, thì Chúa đã tạo dựng nên con người có xác, có hồn như Kinh Thánh đã dạy. Chúa dựng nên một người nam và một người nữ. Người nam bỏ cha mẹ mình để nên làm một với vợ mình sinh thêm con cháu thờ phượng Thiên Chúa. Bởi vậy, bổn phận của mình là phải thờ phượng kính mến Chúa, phải tin vào Chúa quan phòng, phải có đức tin cho gia đình được êm ấm, phải sống ngay lành, làm gương sáng cho gia đình, con cái. Hơn nữa, Chúa dạy rằng các con là ánh sáng và là muối đất cho muôn dân nên mình phải sống đúng những điều răn Chúa dạy để làm gương cho những người chung quanh. Chúng ta cũng phải sống khiêm nhường làm chứng cho Chúa vì Chúa đã tạo dựng nên chúng ta giống hình ảnh của Ngài, lại sai Chúa Giêsu xuống thế chuộc tội cho loài người nên cần tin theo Chúa Kitô, sống và truyền bá Phúc Âm. Thưa cha, như vậy con nghĩ, truyền bá Phúc Âm của Chúa chưa đủ mà phải sống theo Phúc Âm; vì mình nếu không sống theo sao có thể truyền bá, sao có thể là ánh sáng cho muôn dân, sao có thể là muối ướp mặn đời.

 
Ông trùm Canh tuổi độ chừng ông trùm Lực; hai ông cùng làm việc cho cộng đoàn Công giáo ở Biloxi. Giữ chức vụ trùm nơi cộng đoàn thì cũng có chút tiếng tăm giữa những người đồng hương Công giáo; thế nên thấy ông trùm Lực lên tiếng chẳng lẽ mình lại ngồi không, lỡ người ta tưởng mình không biết gì thì còn mặt mũi nào cho xứng chức vị làm trùm. Hơn nữa, ngày xưa cũng học xong tú tài I và bị động viên đeo lon chuẩn úy, và sau ba mươi tháng tư đi cải tạo mất gần mười lăm năm, đoạn theo chương trình H.O. sang Mỹ từ năm 1992 tới nay cũng hai mươi mấy năm. Nhờ trời, làm ăn cũng khấm khá, mấy đứa con cũng đã lớn, học hành đến nơi đến chốn, đứa kỹ sư hóa học, đứa dược sư nên cuộc sống thanh thản và có thời giờ làm việc giúp cộng đồng họ đạo. Nào có lạ gì, đối với các cha thì cứ đem Chúa ra mà hù; mọi sự đổ tại quan phòng yêu thương của Chúa là êm chuyện. Đúng hay sai chẳng lẽ cha dám nói ngược lại. Lõm bõm nhớ được đôi câu Kinh Thánh nơi bài viết nào đó ở báo Trái Tim Đức Mẹ cùng với lý luận và nhận định về nghĩa vụ truyền giáo của giáo dân, ông xả hết, mượn nó để chứng tỏ uy thế và sự hiểu biết của mình.

 
Thấy hai ông trùm cộng đoàn bán cái mọi sự cho Chúa của họ, Thanh tự hỏi không hiểu cha Hải sẽ có phản ứng như thế nào vì nghe cụ Tài giới thiệu ngài sẽ nói về Phúc Âm. Sỹ thì tửng tửng nêu lên tính chất thế tục của các tôn giáo mà không thấy cha nói gì. Hai ông trùm nói lên nguyên những cái phải, tùy thuộc nhãn quan tôn giáo, may mà không nói rằng mình phải được sinh ra làm người trong khi câu hỏi lại là nhận định về con người thế nào, Có lẽ hai ông này không biết gì về đạo học. Cha Hải thì điềm tĩnh như không, lại ra vẻ chăm chú nghe. Khi hai ông trùm nói xong, ngài hỏi Hưng,

- Anh Hưng, anh nghĩ thế nào?

- Thưa cha, cháu thấy hai ông trùm bên họ đạo nói theo nhãn quan tôn giáo nên không có ý kiến vì cháu đâu theo đạo Chúa, trong khi câu hỏi lại đặt vấn đề nhận định về con người.

- Tôi đồng ý với nhận định của anh. Thế anh có nhận định gì về con người.

- Thưa cha, qua sự học hỏi nơi các đạo học Đông Phương do bác trình bày đồng thời khuyến khích anh em tụi cháu đặt vấn đề nhận thức về chính mình, cháu nhận thấy con người của mình bao gồm hai thành phần đối nghịch hoàn toàn, tưởng như xung khắc khó hòa giải nhưng lại hòa hợp làm một bất khả phân ly, lại rắc rối khó thể nghĩ bàn. Một con người gồm có một thân xác và một phần hồn giống như Lão học hoặc dịch học trình bày về đạo nhất nguyên. Chỉ phần hồn thì không ai biết và nếu chỉ xác không sẽ mục nát, nhưng hồn kết hợp với xác, hồn trở thành chủ thể và xác trở thành công cụ cho hồn làm việc, hay hoạt động nơi thế giới hữu hình. Sự hòa hợp hay liên kết của hồn và xác, nói thế không đúng, mà cần được gọi là nhất thể, sự trở nên một của hồn và xác phát sinh tư tưởng, ước muốn, ý nghĩ, ý định, tham vọng. Mỗi thành phần của thân xác đều là phương tiện hay công cụ của phần hồn. Cả thân xác, cả cuộc đời một người đều là công cụ cho hồn làm việc hay hoạt động trong một khoảng thời gian nào đó tạm gọì là cuộc đời một người. Phần hồn được Phật học gọi là Tính hay Tánh do đó lục tổ Huệ Năng dạy rằng “Kiến Tính thành Phật,” điều này có nghĩa nhận biết bản lai diện mục của mình được gọi là thức ngộ, hay phật, vì phật là người thức ngộ. Cháu xin hết.

- Thế còn nơi Lão học?

- Nơi Lão học, thưa cha, được gọi là thánh nhân. Nơi Ấn học, tiếng Việt gọi là chân nhân. Thưa cha, con không biết nơi Thiên Chúa giáo gọi là gì, tiên tri hay phàm tri. Sỹ nhảy vô trả lời.

- Thế anh có biết nơi Kinh Thánh nói gì về loài người không?

- Thưa cha, nơi cuốn sách Khởi Nguyên của Kinh Thánh được viết, Thiên Chúa tạo dựng con người theo hình ảnh của Ngài, thì con người là hình ảnh của Thiên Chúa. Cảm ơn cha đã đặt câu hỏi nên con ngộ được câu trả lời của câu hỏi bao lâu nay ấm ức. Như vậy Thiên Chúa cũng có hai mắt, một mũi, hai tai, một miệng, trong miệng có răng, trên đầu có tóc. Nhưng có điều con chưa bao giờ nhìn thấy cũng như chưa bao giờ nghe thấy Chúa nói. Sỹ xổ một hơi.

- Thế mà cũng dám hô lên là ngộ! Mi vừa nói lúc nãy, các cha là đức chúa trời ngôi thứ tư, bộ mi điếc sao mà không nghe thấy cha nói. Bá lâu nay im lặng lại lên tiếng.

- Thời còn nhỏ ở Việt Nam tớ nghe thấy mấy người nói thế chứ tớ có nói các cha là chúa trời ngôi thứ tư đâu. Người ta nói thì họ biết chứ tớ đâu biết.

- Thế sao dám hô lên là ngộ? Tùy hỏi.

- Tớ ngộ ra mình là hình ảnh của Thiên Chúa chứ tớ không ngộ về cha, nghe rõ!

- Chú Sỹ, chú ngộ thì chú biết, và người biết thì không nói, xin mời cha. Ông Thung dẹp Sỹ.

- Anh em đã biết nơi đạo học Đông Phương nói gì về thân phận con người. Nơi Kinh Thánh còn nói gì thêm về con người nữa không?

- Thưa cha, nơi thư thứ nhất gửi giáo đoàn Côrintô, đoạn 3, thánh Phaolô nói rằng, “Anh em? Anh em là đền thờ của Thiên Chúa và Thần Khí của Chúa ngự trong anh em” (1Cor. 3:16), và nơi đoạn 4 được viết, “Anh em không biết sao, thân mình anh em là đền thờ của Thánh Thần ngự trong anh em” (6:19). Nơi thư Galat ngài còn viết, “Tôi sống, nhưng không phải tôi, mà là chính Đức Kitô sống trong tôi” (Gal. 2:20). Thưa cha, nếu đem so sánh những nhận định hoặc phát biểu của Kinh Thánh và đạo học Đông Phương, con thấy tất cả đều cho rằng linh hồn của một người đang mang quyền lực của Đấng tối cao; điều này có nghĩa mỗi người đang mang quyền lực tối thượng mà không nhận biết. Sở dĩ con phải nhắc đến hai câu nơi hai đoạn 3 và đoạn 4 của thư thứ nhất gửi Corintô vì nơi bản dịch tiếng Việt, ngôn từ “Anh em” có thể hiểu sang nghĩa một nhóm trong khi nơi câu 19 của đoạn 4 nhắc đến “Thân mình, thân xác anh em là đền thờ của Thánh Thần ngự trong anh em;” câu này nêu rõ xác thân một người. Thưa cha, xét như thế con thấy, nếu hồi tâm nhìn lại con người của mình, có thể nói, dưới nhãn quan tâm linh, hình như chúng ta chỉ giống như em bé một hoặc hai tuổi, tay cầm “credit card” nhưng chết khát vì không biết cách nào để mua sữa mà uống. Nhiều lần suy nghĩ về câu Kinh Thánh, “Thiên Chúa tạo dựng con người theo hình ảnh của Ngài,” con nghiệm ra rằng chúng ta không dám chấp nhận mình là hình ảnh của Thiên Chúa. Không dám chấp nhận để thực hiện những chuyện trong cuộc sống theo ý mình; không dám chấp nhận vì nếu chấp nhận mình là hình ảnh của Thiên Chúa thì rất khó sống giữa cuộc đời lừa lọc này; như thế sao có thể chấp nhận Thiên Chúa ngự trị nơi mình, Đức Kitô nơi mình, hay Thần Khí của Thiên Chúa nơi mình.

- Ông nói Chúa ngự nơi mình chẳng lẽ mình là Thiên Chúa! Ông trùm Lực lên tiếng.

- Tôi không bảo mình là Thiên Chúa, mà Kinh Thánh nói mình là hình ảnh của Thiên Chúa và thánh PhaoLô minh xác rằng thân xác chúng ta là đền thờ của Thiên Chúa, và Thần Khí Thiên Chúa ngự trị nơi mỗi người chúng ta. Đây là lời Kinh Thánh, là lời Chúa chứ không phải lời nói của tôi. Ông chấp nhận được hay không thì tùy ông, riêng tôi, tôi không dám chấp nhận. Tôi muốn nói, Thiên Chúa hiển nhiên ngự trị trong tôi, nhưng tôi không dám chấp nhận; vì nếu chấp nhận thật khó mà sống, khó mà đương đầu với những mưu mánh thế tục tràn ngập nơi cuộc sống. Tôi chỉ minh xác cái hèn của tôi mà thôi.

- Ai có nhận định gì thêm? Cha Hải nói lớn hỏi mọi người.

- Thưa cha, theo như anh Thanh nói thì chẳng lẽ Kinh Thánh nói về thực thể hiện hữu của con người cũng giống nơi Ấn học, Lão học, và Phật học sao? Sỹ hỏi.

- Sao anh lại hỏi tôi, cha Hải ngang nhiên đặt vấn đề. Sự thể ngay trước mắt anh, nói cách khác, anh đã nhận thức được điều đó thì hỏi tôi làm gì! Chẳng lẽ sau khi nhậu xong, anh hỏi tôi có phải anh vừa uống rượu bia và ăn thực phẩm nấu chín; nếu tôi bảo không phải, chẳng lẽ anh đã không nhậu. Tại sao nghi ngờ cái biết, sự nhận thức của chính anh? Có phải anh sợ suy nghĩ hay nhận thức sai lầm? Thì hãy suy nghĩ, hãy nhận thức cho biết được nhận thức sai lầm cả ngàn lần, đến lần thứ ngàn lẻ một may có được nhận thức không sai, và như vậy anh đã có được ngàn lẻ một nhận thức. Chúng ta có câu hát, “Ai nên khôn không khốn một lần” mà sao anh lại sợ sai lầm…

- Thưa cha, Sỹ lại lên tiếng, làm sao biết được sai cả ngàn lần mà lại có được ngàn lẻ một nhận thức? Mới định sai một vài lần mà mụ vợ đòi đạp ra khỏi cửa rồi, hu, hu…

- Cái ông quỷ này, trước mặt cha cụ mà ăn nói bậy bạ, vợ Sỹ nhăn nhó.

- Chị cứ đạp nó ra khỏi cửa đi, để tôi… Bá diễu…

- Lại cái ông ma này, ông muốn tôi đạp cho bây giờ ư? Vợ Sỹ không tha.

Hai ông trùm thắc mắc sao cha nói gì kỳ cục, cứ suy nghĩ sai cả ngàn lần.

- Ông vừa mới ngộ, chỉ có thế mà không hiểu. Nếu ông đã biết mình sai cả ngàn lần tức là đã biết ngàn cái đúng từ cái sai thì không đã nhận thức được ngàn lần rồi ư! Hưng nói.

- Nhưng mà có được phép sai hay không mới là vấn đề!

Thế là hai ông trùm thấy tối tăm mặt mũi. Cha thì khuyến khích suy nghĩ dù suy nghĩ sai cũng không sao. Anh Hưng lại nói biết được sai lại có được nhận thức đúng. Anh Sỹ đặt vấn đề sao có được phép sai, và ai cho phép.

- Thưa cha, ông trùm Canh lên tiếng hỏi, chúng con thường được nghe dạy rằng phải tin với giáo Hội, sao cha lại cho phép sai cả ngàn lần?

Câu hỏi như một trái bom nổ tung giữa đám ồn ào khiến mọi người giật mình nên nhóm hội thoại bỗng im re, chợt cảm nghĩ có chuyện nguy hiểm sắp xảy tới. Cha Hải không trả lời, đưa mắt nhìn tổng quát một lượt như thách đố ai đó lên tiếng nói. Tuy nhiên, mọi người dù theo đạo nào cũng không một ai muốn lên tiếng bởi ông trùm Canh trực tiếp hỏi cha Hải. Không thấy ai nói gì, ngài lên tiếng,

- Đọc kinh sách đạo học chúng ta cần mở rộng tâm hồn để nhận định. Đạo học Đông Phương nhấn mạnh tới định tâm để quán tưởng hay suy tưởng, suy nghiệm. Sự suy nghiệm này vô hạn định và không nên tùy thuộc hoặc bị ảnh hưởng bởi bất cứ điều kiện nào. Ai trong chúng ta cũng biết rất rõ ràng về khả năng nhận biết hoặc tưởng tượng của con người; nhưng không biết hoặc không dám dùng khả năng suy tưởng, chúng ta sẽ rơi vô trường hợp ỷ y mù tối mà Đạt Ma sư tổ gọi là vô minh. Bởi không chịu suy nghĩ, người ta tưởng rằng những điều nghe biết là kiến thức và cứu cánh cuộc đời của họ, và như thế được gọi là mường tưởng. Chẳng hạn, nghe ai đó nói cho biết con người ngày nay văn minh đã gửi những vệ tinh vào không gian để cải tiến viễn thông đem lại lợi ích ít nhất chúng ta đang được hưởng đó là hệ thống điện thoại cá nhân. Như thế, nói rằng chúng ta biết con người ngày nay văn minh nhưng văn minh như thế nào, người ta văn minh hay mình văn minh. Lại nói đến vệ tinh cải tiến truyền thông mà chúng ta đang nhờ nó dùng điện thoại cá nhân. Nói cho đúng, chúng ta đang dùng điện thoại cá nhân nhưng chúng ta chẳng hiểu biết gì về nó, chỉ biết cách dùng, sao có thể gọi được là chúng ta văn minh. Xét như vậy có thể nói, mặc dầu chúng ta dùng điện thoại cá nhân, nhưng chỉ biết cách sử dụng trong khi hoàn toàn mù tối nhận thức về điện thoại cũng như vệ tinh viễn thông. Dĩ nhiên, muốn biết về chúng cần phải học hỏi.

- Tuy nhiên, nơi phương diện tâm thức, tâm linh không giống như sự vật hữu hình; chúng ta không dùng giác quan đụng đến được nên cần phải dùng khả năng suy nghĩ, suy tưởng. Chỉ những người nào ỷ y không suy tưởng mới đặt vấn đề sai hay đúng. Tôi có thể kể một câu chuyện đã xảy đến với tôi vì e sợ suy nghĩ sai lầm. Tối hôm đó nơi lớp Kitô học tới giờ nghỉ mười lăm phút; vừa bước ra tới cửa lớp, tôi hỏi linh mục giáo sư, thưa cha, con thấy hình như mình cứ đặt vấn đề rồi tự đánh nhau với những suy nghĩ của mình. Anh em biết ngài trả lời sao không? Ngài điềm đạm nói rằng, có câu nói, đối với con vật, khi ăn no thì chúng ngủ, nhưng đối với con người, khi đã có cơm no áo ấm thì người ta suy nghĩ. Ai muốn hiểu sao thì hiểu. Tôi muốn đưa thêm một thí dụ nơi Kinh Thánh. Chắc anh em Công giáo biết câu chuyện góp chung của cải nơi sách Tông Đồ Công vụ. Nơi đoạn 4 được viết, “Vả lại giữa họ không có ai phải túng thiếu, vì những người làm chủ đất đai hay nhà cửa thì bán đi và đem giá cả các vật bán được mà đặt dưới chân các tông đồ để phân phát cho mỗi người, ai nấy tùy theo nhu cầu của mình” (TĐCV. 4:34-35). Giả sử bây giờ có lời kêu gọi của bất cứ ai hoặc nhóm nào mà mình tin tưởng họ cách mấy, anh em có bán nhà cửa mà đem nộp tất cả cho họ không. Chẳng những thế, phỏng có bất cứ ai hoặc bất cứ nhóm nào dám xung phong đứng ra nhận những sự đóng góp đó chăng? Có ai dám đưa ra nhận định không?

- Thưa cha, bán nhà đi thì lấy gì mà ở, chẳng lẽ ra đường khum lều, rồi nấu nướng vào đâu, tắm rửa nơi nào, lại còn vấn đề vệ sinh bởi vô thì phải ra và lỡ khi đau ốm giở trời… Theo con nhận thấy, hình như có chuyện gì không hợp lý, hợp tình trong trường hợp này. Xưa nay con đọc nhưng cứ cho là lời Chúa, lời Kinh Thánh nên chẳng để ý bởi nghĩ rằng lời Kinh Thánh thì luôn luôn đúng. Nhưng khi thấy cha đặt vấn đề phỏng có nhóm nào dám đứng ra xung phong nhận, con mới chợt nghĩ tới sự thể được viết nơi Tông Đồ Công Vụ; đó là các tông đồ bận rộn đến nỗi phải kêu gọi một số người già danh tiếng đứng đắn để giúp thì sao dám ôm thêm rơm cho rặm bụng. Công việc mục vụ làm không xuể thì thời giờ đâu để lo nơi ăn chốn ở cho những người bán nhà cửa, ruộng vườn, đất đai và đem đến nộp. Con nghĩ, có lẽ có chuyện chi đó đã xảy ra và được viết một cách ám định như thế chăng. Con tìm đọc giải thích thì sách ta cũng như sách tây, chẳng cuốn Kinh Thánh nào nói chi hết, chỉ nói về cái chết của cặp vợ chồng giấu tiền mà thôi. Thanh nói.

- Ông trùm Canh, về chuyện này giáo hội dạy phải tin thế nào? Cha Hải hỏi đích danh. 

Thế là ông trùm ngớ ra, những điều phải tin cha không hỏi, cha lại hỏi điều chưa nghe thấy bao giờ. Thôi thì đành nói toạc ra cho đỡ ngượng,

- Thưa cha, đây là lần đầu tiên con nghe thấy chuyện này nên chẳng biết phải thế nào. Kinh hạt thì đọc ở nhà thờ, hoặc ở nhà, đọc riết thuộc lòng luôn chứ Kinh Thánh thì nhà có đấy, nhưng nhiều quá nên mới trông thấy đã ngán đọc nên con chẳng bao giờ đọc, nói thực, mọi người đều biết.

 
- Kinh Thánh, xét qua nhãn quan nghiệm chứng để thăng tiến nơi hành trình tâm linh, nói cách khác, thăng tiến trong hành trình đức tin, theo Công giáo phát biểu, thì đó là một cuốn sách đạo học. Muốn thăng tiến nơi hành trình đức tin, chúng ta cần phải nghiệm chứng Kinh Thánh. Ai cũng biết, Kinh Thánh bao gồm ít nhất hai phần, một phần được gọi là Cựu Ước, và phần khác là Tân Ước. Phần Cựu Ước bao gồm Kinh Torah của Do Thái giáo và một số sách Tiên Tri, Thánh Vịnh... Tân Ước gồm bốn Phúc Âm, sách Tông Đồ Công Vụ, các thư, và sách Khải Huyền. Những tổ chức tin theo Kinh Thánh được gọi là Thiên Chúa giáo. Những tổ chức hoặc gọi là bè phái tin theo Phúc Âm được gọi là Kytô giáo. Công giáo, Thệ Phản (Luthero), Anh giáo, Tin Lành thuộc về Kytô giáo. Mấy ngày gặp anh em trong thời gian này, tôi sẽ cùng anh em nghiệm chứng về Phúc Âm. Tôi sẽ không nói gì về bất cứ tôn giáo nào nên nếu có ai hỏi về vấn đề gì thuộc về tôn giáo mà không thấy tôi trả lời cũng đừng cảm thấy phiền hà; tôi chỉ khuyến khích nghiệm chứng để thăng tiến tâm linh theo Phúc Âm.

- Nếu tôi không lầm thì anh em đã được ông bạn tôi nói cho biết rằng cái biết nơi nghiệm chứng của người này không thể truyền đạt cho người khác, hoặc sự suy tưởng của chúng ta vô giới hạn, hay là chúng ta được sinh ra với tất cả những gì chúng ta có thể ngộ hay nhận thức. Chẳng nên sợ hãi vì suy nghĩ sai, bởi nếu không sai, chúng ta không thể nhận thức được điều đúng. Thêm vào đó, nếu chúng ta không suy nghĩ, sẽ không có cơ hội thăng tiến tâm linh. Một điều người ta hay ngộ nhận đó là tưởng rằng nghe người khác giải thích là mình ngộ. Thưa không, chỉ khi nào tự mình ngộ được điều gì hay công án nào đó mới có được kinh nghiệm, cảm nghiệm, hay nghiệm chứng; bởi không ai giải thích được kinh nghiệm này cho bất cứ ai. Chẳng hạn, chúng ta không thể giải thích cho bất cứ ai để họ có thể yêu cha mẹ của chúng ta như chính chúng ta. Chúng ta biết mình yêu cha mẹ nhưng không thể giải thích được. Nơi hành trình nghiệm chứng, mọi sự, mọi vật, hành động, tư tưởng từ mạng lưới toàn cầu, sách vở, những danh ngôn, công án, lời đàm luận, cử điệu, v.v… đều là cơ hội hay phương tiện cho chúng ta đột phá tư duy. Cao điểm của Phúc Âm là đức tin. Muốn biết về đức tin chúng ta cần biết về Tin Mừng Nước Trời hay còn được gọi là Tin Mừng Nước Thiên Chúa. Muốn biết về Tin Mừng Nước Chúa, chúng ta cần biết Nước Thiên Chúa là gì, thế nào. Muốn biết về Nước Thiên Chúa chúng ta cần biết Thiên Chúa ra sao. Muốn biết về Thiên Chúa, chúng ta cần biết chính mình thế nào. Nơi đạo học Đông Phương, câu hỏi “Tôi là ai” chính là câu hỏi mở đầu và cũng là câu trả lời sau hết nơi hành trình thức ngộ. Phúc Âm cũng đưa ra những điều kiện tâm trí khi nghiệm chứng. Đạo học Đông Phương chú trọng đến định tâm. Tôi nghĩ, anh em đã biết định tâm là gì. Một vài phương thức, nhà Phật gọi là pháp cũng như công án nơi đạo học Đông Phương có thể gìúp chúng ta trong hành trình nghiệm chứng về Phúc Âm; khi nào cần thiết tôi sẽ trình bày với anh em.

 
- Đại khái những điều chúng ta đã nhận thức được qua đạo học Đông Phương sẽ giúp chúng ta dễ dàng nghiệm chứng Phúc Âm vì Kinh Thánh cũng được viết từ Trung Đông. Có điều, anh em đã dùng Kinh Thánh để minh chứng thực thể con người của mình và dùng lý luận qua thực chứng nơi chính mình để minh chứng có linh hồn. Tuy nhiên, tôi muốn hỏi đã ai để ý nói lên được nghiệm chứng nơi chính mình về linh hồn bao giờ chưa? Đồng thời đã có ai dùng nghiệm chứng để chứng minh mình là hình ảnh của Thiên Chúa bao giờ chưa? Riêng với hai ông trùm và những anh chị em Công giáo, chúng ta được dạy nơi bổn đồng ấu “Hỏi đức Chúa Trời có mấy ngôi” và câu trả lời là “Thưa đức Chúa Trời có ba ngôi.” Anh chị em minh chứng ra sao về một Chúa ba ngôi và ba ngôi cũng chỉ là một Chúa.

- Thưa cha, ông trùm Lực lên tiếng, mầu nhiệm Thiên Chúa ba ngôi là một mầu nhiệm, mà đã là mầu nhiệm thì chúng con được dạy phải tin, nên chỉ có thể tin. Bao nhiêu năm đi nhà thờ, mỗi lần đến ngày kính Chúa Ba Ngôi, các cha, cha nào cũng thế, đều giảng rõ ràng Chúa Ba Ngôi là một mầu nhiệm, không thể nói gì được. Bây giờ cha bảo nghiệm chứng thì chúng con lấy gì để nghiệm, phương chi nói đến chứng. Cha nói điều không tưởng.

 
Mọi người không ai dám lên tiếng nhưng rất ngạc nhiên khi ông trùm kết luận câu, “Cha nói điều không tưởng.” Mấy anh em Công giáo có một vài người định lên tiếng nhưng vẫn không ai nhúc nhích. Có lẽ tại chưa ai biết rõ thái độ, hoặc phản ứng, hay tính chất của cha Hải ra sao dẫu xưa nay bất cứ gì thấy không hợp lý, hợp tình họ đều đưa ra mổ xẻ ngay lập tức. Những gì thấy nghịch thường một chút cũng được trở thành đề tài bàn luận; họ dám đem chính họ ra mà diễu thì còn chừa ai nơi cuộc đời này. Mấy người không theo Công giáo cũng ngạc nhiên vì lối nói thẳng thừng của ông trùm Lực. Cha Hải vẫn bình tĩnh như không, nhẹ nhàng nói,

- Ông cho rằng tôi nói điều không tưởng, không tưởng với ông hay với mọi người. Cứ lý luận mà nói, bất cứ điều gì bị cho rằng không tưởng thì cũng đã được nghĩ đến; như thế quả thật nghịch lý; bởi chỉ không nghĩ đến được mới được gọi là không tưởng. Lời Kinh Thánh nói, “Thiên Chúa tạo dựng con người theo hình ảnh của Ngài” thì con người là hình ảnh của Thiên Chúa đâu có sai trái gì với Kinh Thánh đâu. Thế chúng ta có nghĩ, có dám chấp nhận mình là hình ảnh của Thiên Chúa không. Cũng như đạo học, Kinh Thánh để sống chứ không phải để tụng niệm hay đọc chơi lúc rãnh rỗi như đọc truyện. Đâu phải bất cứ vấn đề gì người ta cho là đúng thì nó đúng và người ta cho là sai thì nó sai, hoặc bởi vì không để ý nghiệm chứng mà cho rằng nó mầu nhiệm hay không tưởng thì không thể nghĩ bàn được. Chẳng lẽ lời Kinh Thánh là lời không tưởng? Tôi có một đôi câu hỏi đơn giản, anh chị em không cần suy nghĩ chi hết, trả lời đơn sơ, thấy gì nói nấy. Câu hỏi như sau, chúng ta thường nói đối nghịch như nước và lửa. Vậy nước và lửa có thể hòa hợp được không? Nào mời anh chị em trả lời, nhưng ông Tài không nên trả lời dùm.

- Thưa cha, lại cũng ông trùm Lực lên tiếng, có thể ông thấy mình đã ăn nói quá lố, không thấy cha nói gì nên vớt vát chăng, nước đổ vào lửa thì lửa phải tắt chứ sao có thể hòa hợp.

 
Không hiểu ý cha muốn nói gì khi nêu ra câu hỏi đơn sơ như vậy, thế là mọi người ngớ ra, chẳng biết suy nghĩ sao cho phải bởi vì ai không biết nước dập tắt lửa. Người nọ nhìn người kia, lắc đầu không hiểu ý ngài muốn thế nào.

- Thưa cha, Sỹ nhà con lên tiếng, câu hỏi quá chung chung, không rõ bao nhiêu lượng nước và đống lửa to bé thế nào sao có thể trả lời. Dĩ nhiên, quăng đống lửa dù to thế nào xuống biển thì lửa cũng phải tắt, nhưng chỉ lấy một ly nước đổ vào đống lửa đốt rác coi chừng còn giúp nó cháy lâu hơn.

- Tôi hỏi có cách nào hòa hợp hai sự thể đối nghịch nước và lửa chứ đâu có nói đến phương pháp hay điều kiện dập tắt lửa. Tôi thấy tại vì chuyện quá thường, ai cũng biết nên chúng ta không để ý do đó đến khi đặt thành vấn đề chúng ta không nhận ra bởi vì đã chấp nhận hoặc có một quan niệm sẵn về nó một cách vô ý thức. Ai nghĩ có thể hòa hợp nước và lửa, làm ơn thử giơ tay.

 
Không ai giơ tay vì vẫn còn đang bị ngỡ ngàng.

- Như vậy sự hòa hợp nước với lửa là điều không tưởng? Hay đặt nó thành công án để anh chị em nghiệm chứng.

- Chú Sỹ, ngộ chưa? Ông Thung hỏi.

- Sao hôm nay đầu óc cứ tối như đêm ba mươi, có lẽ phải kiếm miếng cà phê cho đầu óc thêm minh mẫn. Sỹ đứng lên đi về khoảnh bếp kế bên.

- Thưa cha, Thanh giơ tay, thiếu cái ấm hay cái nồi!

- Cám ơn, nhưng đừng nói thêm. Cha Hải bảo Thanh.

- Rồi, rồi, nhà con biết rồi. Sỹ quay trở ra, phải có cái ấm làm trung gian thì lửa mới hòa hợp được với nước. Thế là không cần cà phê cũng ngộ! Cảm ơn anh Thanh, đang định nấu nước đổ vô “cái nồi ngồi trên cái cốc,” nghe thấy anh nói cần cái ấm nhà con chợt hiểu ra.

- Có lẽ anh chị em đã nhận biết điểm căn bản để thức ngộ là luôn luôn phải xét lại những điều mình đã chấp nhận một cách vô ý thức hoặc đã in trí như một quan niệm sẵn có nào đó. Tôi có thêm câu hỏi đơn giản nữa; đó là, một cộng với một bằng mấy?

- Bằng hai, Sỹ nói vội như sợ người khác nói trước.

- Anh đoan chắc một cộng với một bằng hai không?

- Thưa cha, chắc như bắp.

- Mọi người nghĩ sao? Cha Hải hỏi tiếp.

- Thưa cha, chẳng lẽ một cộng với một bằng ba! Ông trùm Lực lên tiếng.

- Cũng có thể lắm mà coi chừng cũng chưa biết nữa vì tôi đang hỏi mọi người. Nếu biết rồi tôi hỏi làm chi. Có ai không chấp nhận một cộng một bằng hai không?

- Ai đồng ý với ông trùm Lực, giơ tay! Cha Hải hỏi ngược lại.

- Ông Tài, ông đã giải thích cho anh em đây về những sự thể lý trí không thể chấp nhận, không thể suy đoán mà lại là thực thể chưa.

- Thưa cha, tôi đã nói mà hình như anh em quên; đó là nếu chấp nhận tư tưởng thuộc về vô hình đã được phát sinh từ một thực thể hữu hình là bộ óc hay thân xác thì một cộng với một là bao nhiêu mà chẳng được. Vấn đề chỉ là mình cần nghiệm chứng cái không từ cái có mà ra hay ngược lại. Cụ Tài trả lời cha Hải.

- Tôi có thêm câu hỏi đơn giản nữa, một thân xác cộng với một linh hồn là mấy?

- Thưa cha, con hiểu cha muốn nói gì, nhưng không biết con có nên nói ra lúc này hay không.

- Anh cứ việc nói vì mục đích của tôi là giải thích cái mầu nhiệm mà ông trùm Lực cho rằng không thể nghĩ bàn.

- Thưa cha, thưa bác, và mọi người, một cộng với một chính là cái gốc của đạo học nhất nguyên, cái hình vẽ của dịch cũng là chính mình, cũng là hình ảnh của Thiên Chúa Ba Ngôi. Một Chúa ba ngôi, ba ngôi một Chúa. Trước hết, nơi hình ảnh tượng trưng cho dịch, cho đạo học nhất nguyên, trong một vòng tròn gồm hai phần âm dương nhưng cái âm hay cái dương chỉ là phần từ đối nghịch bất khả phân ly của nhất nguyên. Chúng là một, cái này tăng, cái kia giảm khiến luôn luôn cân bằng. Xét về con người bao gồm linh hồn và thân xác. Nếu chỉ hồn không, nào ai biết chi; nếu chỉ xác thân không có hồn, sẽ tàn rữa, nhưng khi linh hồn nhập vào thân xác sẽ phát sinh ước muốn, ý định, tham vọng, yêu thương, hận thù. Cái hồn của mình, chính là mình; tất nhiên ai cũng chấp nhận cái xác là phần hữu hình của mình, và tư tưởng, ước mơ cũng làm một với mình. Như vậy, con người ít nhất cũng gồm ba phần bất khả phân ly ngoài sự chết. Con người gồm ba phần và ba phần cũng chính là một người. Phỏng đây là hình ảnh của Thiên Chúa Ba Ngôi, tuy ba mà một, tuy một mà ba, thưa cha? Thế sao xưa nay chúng con cứ được dạy phải tin.

- Vậy anh định nghĩa đức tin là gì?

- Thưa cha, đây là vấn đề xưa nay con cứ bối rối bởi vì đọc Phúc Âm, con thấy đức tin hay lòng tin mang một quyền lực tối thượng. Bất cứ câu Phúc Âm nào nói đụng đến những dụ ngôn chữa lành đều được Chúa Giêsu đương đường tuyên bố là do đức tin của người đó. Phúc Âm nói, “Đức tin con chữa con; đức tin con cứu con.” Như cha thấy, mình được dạy và chấp nhận cũng như tin tưởng rằng Chúa cứu, Chúa chữa, Chúa ban ơn cứu độ. Thế mà Chúa Giêsu nơi Phúc Âm không nói vậy, cứ đổ thừa cho đức tin, lòng tin. Cả cuốn Kinh Thánh chỉ có một nơi định nghĩa đức tin một cách rành mạch, nhưng con cảm thấy khó thể chấp nhận. Đó là câu 1 của đoạn 11 nơi thư Hipri, “Tin là cách chiếm hữu những điều còn trong hy vọng, là phương nhận thức các thực tại người ta không thấy.” Thưa cha, con có cả triệu hy vọng, nhưng đều thất bại, sao có thể gọi được là chiếm hữu. Chiếm hữu cái lợi ích, thành quả mới đúng với sự hy vọng; vì nào có ai hy vọng thất bại bao giờ; chẳng lẽ tin là chiếm hữu thất bại thì con đâu cần, con có thừa nếu không muốn nói là quá đủ đến nỗi gần như trở nên thất vọng. Nếu điều con hy vọng càng dằng dai chiếm hữu, thất bại càng nặng nề. Con nghĩ, thánh Phao lô ít nhất là con người học thức và được thức ngộ do chính Chúa Giêsu, sẽ chẳng có thể viết câu định nghĩa đức tin một cách thiếu nghiệm chứng như vậy. Đã từ lâu, đọc Tân Ước con nhận thấy các giáo phái thuộc về Kytô giáo phát sinh do hiểu các thư một cách khác nhau tùy thuộc đầu óc nhóm người nào đó, và con đã nghĩ rằng thánh Phao lô mắc phải lỗi lầm lớn lao làm phân rẽ Kytô hữu thành các bè phái vì đã viết những thư theo lối suy nghĩ thế tục nghịch lại với Phúc Âm. Chẳng hạn như quan điểm “Faith alone.” Đó là lý do tại sao con để ý đến đức tin nơi Phúc Âm mà cha Nguyễn Thế Thuấn dùng danh hiệu “Lòng tin.” Con nói thẳng, nói thật, có sao nói vậy chứ không chống đạo, chỉ dùng hồng ân lý trí để nhận định.

- Anh suy nghĩ đúng nhưng đúng trong giới hạn vì anh đón nhận lời thư theo nghĩa từ chương cũng giống như nguyên nhân phân rẽ dân Chúa thành các bè phái. Tôi nói hơi sớm, có thể sẽ làm phiền anh em, nhưng may ra nó lại là sự thách đố cho anh em nghiệm chứng. Đó là, đức tin là quyền lực tối thượng của Thiên Chúa nơi mình. Con người chẳng những là hình ảnh của Thiên Chúa mà chính Thiên Chúa, Quyền Lực Tối Thượng, quyền lực sự sống đang hoạt động nơi mọi người. Riêng về giải thích hệ quả của một cộng với một, anh nói rất đúng. Con người là hình ảnh của Thiên Chúa thì ít nhất con người mang thực trạng ba ngôi một Chúa và một Chúa ba ngôi. Ông trùm Lực, mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi có còn không tưởng nữa chăng?

- Thưa cha, sao các cha khác dùng bóng đèn, nguồn điện và ánh sáng để làm thí dụ minh chứng Chúa Ba Ngôi mà con thì cứ cảm thấy không thể chấp nhận được; bởi có cháy bóng đèn thì nguồn điện vẫn còn đó chứ không cháy theo, hoặc không có ánh sáng chưa chắc đã không có nguồn điện bởi đôi khi chỗ nối dây hở thì sao. Con cũng cảm ơn cha đã có những câu hỏi đẩy con vào góc tường khiến con có cảm nghĩ lung tung, nhưng chính vì thế mà con sáng ra. Con chợt nhận thấy con theo đạo chứ thực ra chưa có đạo, chưa theo Chúa Giêsu.

- Không có cách nào theo Chúa Giêsu được đâu; bởi vì mình không phải là Chúa Giêsu. Mình có con đường của mình, Chúa Giêsu có con đường của Ngài. Thế nên, mình phải là mình; Chúa Giêsu phải là ngài không thể đổi qua tráo lại hay trở nên như thế. Nếu có thể làm được như thế, thế giới này tanh bành rồi vì ông có thể trở thành người khác và gia đình ông tan nát. Gia đình nào cũng sẽ tan nát nếu người chồng hoặc người vợ có thể trở nên bất cứ một người nào khác. Phải cảm tạ Chúa vì ông là chính ông, không phải là tôi và cũng không phải là bất cứ người nào trên thế giới này. Ông đã sợ hình ảnh của Thiên Chúa chưa, phương chi là đối với chính Thiên Chúa.

- Bao lâu nay rồi, nghe giảng giải, đọc kinh cầu nguyện, nghe đây đó bàn luận con cứ nghĩ đến câu nói, “Phúc cho ai không thấy mà tin” nên tâm tâm niệm niệm tin tưởng vào Chúa, vào lời các cha giảng là đủ để lên thiên đàng. Tối nay con nghe thấy cha đưa ngay mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi giải thích quá dễ dàng, lại nhận ra, như vậy xưa nay mình đã chẳng để ý gì. Con xin lỗi cha vì chưa kịp suy xét đã vội bố láo bố toét. Con cũng cảm ơn cha đã giúp con từ nay đặt lại vấn đề nếu không thì chắc chắn uổng một đời sống đạo. Nhưng thưa cha, có lẽ cũng bởi con cứ e sợ suy nghĩ sai lầm và thường cho rằng đã có giáo hội, các cha giảng giải thì mình cứ tin theo cho an ổn tinh thần. Nào ngờ, lại trở thành thứ rờ voi. Có lẽ từ nay con không còn sợ suy nghĩ sẽ bị rối đạo nữa. Lần nữa, con xin cảm ơn cha.

- Chưa biết ai phải cảm ơn ai. Ông có nhớ dụ ngôn con chiên lạc không? Nếu con chiên lạc được tìm thấy phải cảm ơn người chăn chiên thì cám ơn sao nổi, nhưng nếu nói người chủ chiên làm tiệc ăn mừng thì ai cảm ơn ai. Chính điều ông đã ngộ ra được và từ nay không e sợ suy nghĩ bị rối đạo là niềm vui tuyệt vời đối với tôi. Chỉ chừng ấy đã đủ cho chuyến về đây của tôi.

- Cha nhắc đến dụ ngôn chiên lạc làm con nhớ lại đã có lần nghĩ ông chủ đàn chiên dốt thật. Bỏ 99 con chiên khù khờ ngu dại trên rừng hoang để đi kiếm chiên lạc. Lỡ lúc trở về lại lạc thêm 99 con khác hoặc đã bị chó sói ăn thịt thì sao. Hơn nữa, kiếm được một con chiên mà vui mừng, làm tiệc kêu hàng xóm chung vui thì phải làm thịt bao nhiêu con chiên nữa mới đủ. Như vậy đàng nào cũng lỗ, thà đừng kiếm chiên lạc thì còn đủ 99 con, thưa cha.

- Ông trùm đã bị rối đạo chưa mà dám nói như thế?

- Thưa cha, xưa nay con chỉ nghĩ trong đầu thôi, không dám nói cho ai biết, ngay cả nhà con. Đôi khi đi lễ về, có điều gì đó cha giảng không thuận tai, nói ra, vợ con ngăn cản, cho rằng nói xàm và bảo tại mình không hiểu thấu, cha giảng làm sao mà sai.

- Tội ông trùm quá, Tùy nhào vô, bị bà nhà cả vú lấp miệng em.

 
Thế là cả đám bùng lên ồn ào như loạn đến nơi. Đang căng thẳng đầu óc mà có được trận cười thoải mái khiến ai nấy vui vẻ hẳn lên. Cũng nhờ câu diễu này mà tâm tình hai ông trùm thoải mái hơn, dễ dàng chấp nhận hòa đồng với nhóm nhậu. Sự e dè tổn hại danh dự biến mất. Vô tình, vợ Sỹ đang uống nước bị sặc phun đầy lên lưng, lên đầu Bá ngồi phía trước.

- Trời ơi cái bà này, đạp thì đạp, mắc mớ gì phun nước uống đầy người tôi rồi!

- Xin lỗi, cho chừa nói bậy. Cái ông Tùy quỷ ma kia khiến tôi chết sặc.

- Tôi nói miệng tôi, bà sặc miệng bà, chẳng lẽ…

- Thôi im đi cho người ta nhờ, mấy ông này già không tha trẻ không thương. Vợ Sỹ nói.

- Ai nói với chị tôi không thương trẻ. Già thì tôi kính lão đắc thọ. Trẻ mà tha thì sao thành tiên hạ giới?

- Bu mày nói thế thì oan uổng cho tôi quá. Bộ bu mày già hơn tôi sao, mà lại nói trẻ không thương.

- Cái ông quỷ này lại cứ đòi đế vô nữa. Đúng là cá mè một lứa, ông nào cái mỏ cũng tía lia, tía lia không để chúng ăn da non.

- Nói hay, Phùng nói thêm, cái miệng mà ăn da non thì đem chôn, sẽ có người khóc hết nước mắt.

- Thưa cha và cụ, hôm nay một gà mái đá ba gà cồ, hèn chi ngoài kia thiên hạ nhao nhao lên đòi nam nữ bình quyền. Ông Thung lên tiếng.

- Ông lại muốn đá vô chăng, chị Thung nhắc nhở.

- Lấy nhau mấy chục năm nay, mọi sự từ trên xuống dưới và từ dưới lên trên đều do bà làm chủ chứ nào tôi dám nói năng gì, tại sao giữa nơi thanh thiên, bật đèn sáng trưng như thế này mà bà phải răn đe tôi; rõ là oan như Thị Kính. Ông Thung nói lớn cho mọi người nghe đoạn quay hướng về mấy người đàn bà, nói tiếp,

- Các thím liệu sao thì liệu, mới có vài bữa đàn đúm với mấy thím mà chị hai đã biết bắt nạt tôi rồi đó. Sự thể này lấy ai phân giải bây giờ. Thật khổ cho cái thân chẳng còn trẻ gì.

- Ai bắt nạt anh phải bước qua xác thằng này. Sỹ hùng hổ đứng dậy giơ chân múa tay làm bộ. Nhưng mà, thì ra là chị hai. Thôi, thôi chị hai à, già néo đứt dây. Lỡ anh ấy bỏ đi thì lấy ai nâng khăn sửa túi cho chị vào lúc tuổi gần cổ lai hy. Cứ để anh ấy nói cho hả hơi rượu bia, cho dư giả văn chương, thêm hào hoa phong nhĩ đẹp lão ra. Chị xem coi, mấy người vợ chúng em đó, im như một phép, vậy mà còn bị anh hai đổ oan cho là xúi bẩy chị; anh ấy chẳng vừa chi đâu. Thượng cẳng chân, hạ cẳng tay không được thì thịt mỡ, dao phay, xương cẳng, rìu búa, chị cứ thế mà làm.

 
Mới bắt đầu tưởng rằng Sỹ bênh vực ông Thung; ai ngờ cuối cùng bắt ông lãnh đạn khiến cả nhà cười vui tạo bầu không khí dễ chịu. Cha Hải vui lây với niềm vui của họ.

- Tôi có thêm một câu hỏi đơn sơ nữa và biết chắc chắn bất cứ ai đều có kinh nghiệm nhưng thường thì ít khi chúng ta để ý đặt vấn đề. Đó là trong cuộc đời của mình đã bao giờ mình để ý nhận biết một hoạt động nào đó của linh hồn hay chưa?

- Thưa cha, tổng quát như thế sao có thể kiếm ra nhất là lúc tơ lơ mơ với miếng rượu, men bia. Sỹ nói.

- Sao anh vội quên nguyên tắc cần thiết cho định tâm thế!

- Thưa cha,

- Sao chú mày vội vã thế. Có biết định tâm là gì không mà chưa kịp suy nghĩ đã vội nói. Phủ lên tiếng ngăn Sỹ hỏi.

- Chuyện đó ai mà không biết, lòng luôn để ý một chuyện gì hoặc một công án hay câu nói nào đó; đàng này cha nói về chuyện bất cứ ai đều có kinh nghiệm mà chúng ta không để ý.

- Thưa cha,

- Lại đã vội nói. Bộ không nói thì người ta tưởng là chú mày câm hay sao. Khoan, suy nghĩ, suy nghĩ, suy nghĩ.

- Suy cái gì, Sỹ gắt lên với Phủ. Tớ đang muốn hỏi cái gì mà ai cũng có kinh nghiệm. Đâu cần suy, mắc mớ gì phải nghĩ bởi nó đã xảy ra rồi đối với mọi người thì suy ở chỗ nào.

- Như vậy thì phải lục lọi. Tôi với chú mày thử lục lọi xem sự gì cùng xảy đến với mọi người mà chúng ta ít khi để ý.

- Lục thế nào?

- Chú mày quên nguyên tắc của định tâm mà cha mới nói đó là tỉnh thức.

- Thì tớ đang tỉnh chứ có ngủ đâu mà thức với ngủ.

- Như vậy chúng ta phải xem xét tất cả các hoạt động của một người trong 24 tiếng. Sáng ra thức dậy, đánh răng rửa mặt, cà phê cà pháo điểm tâm, đi làm, ăn trưa, làm tiếp, chiều về ăn tối, coi TV hay phim, đi ngủ, một ngày như mọi ngày, tỉnh thức, tỉnh thức.

- Đã ngủ còn tỉnh thức gì, có mà ngáy ấy, ngủ mà còn đòi tỉnh thức.

- Thưa cha, Thanh ngồi gần Phủ và Sỹ, nghe thấy Sỹ nói đến ngủ chợt nhớ tới câu chuyện diễu Trạng Quỳnh nói về nhà vua ngọa sơn nên lên tiếng, cha muốn nói tới con mắt nhìn trong giấc mơ.

- Anh nói đúng. Chúng ta, ai ngủ cũng mơ không ít thì nhiều. Vậy con mắt nào nơi mỗi người để có thể nhìn trong giấc mơ; vì khi ngủ, chúng ta không biết đến ngay cả thân xác của mình, hoặc ngáy như sấm mà cũng không nghe thấy mình ngáy. Lúc chúng ta ngủ, con mắt thịt nhắm lại, thế thì lấy gì để nhìn. Chúng ta đã nhận ra thân xác, ngũ quan, và ngay cả cuộc đời đều là phương tiện, hay cơ hội cho linh hồn hoạt động hay làm việc, nhưng ít khi để ý đến còn một thứ gì nữa đó là con mắt nhìn trong giấc mơ; mà cho tới ngày nay khoa học vẫn còn giải thích một cách mù mờ. Chúng ta tạm gọi nó là con mắt của linh hồn. Đôi khi ai đó gặp sự thể khác biệt được gọi giấc mơ ngày.

- Day dream.

- Không phải “Day dream.” Day dream có nghĩa ước mơ thực tiễn nhưng sự thể này tiếng Mỹ gọi là “Personal vision.” Nghĩa là trong trường hợp một người ngất trí và nhìn thấy những linh ảnh nào đó. Đây cũng là hoạt động của con mắt linh hồn. Mọi người đều kinh nghiệm nhưng ít ai để ý. Tôi tóm lược lại mấy điểm chúng ta bàn luận tối nay. Thứ nhất, có sự hòa hợp bất khả phân ly của hai thực thể đối nghịch chẳng hạn xác và hồn, nước và lửa bằng cách nào đó dẫu chúng ta giải thích hay thực nghiệm được hay không và tạm gọi sự đối nghịch hòa hợp này là nhất thể chứ không phải hợp nhất. Hợp nhất là hai thứ khác biệt gom lại, không có phần này, phần kia vẫn hiện hữu. Nơi trường hợp nhất thể, không có cái này, cái kia cũng triệt tiêu. Thứ hai, một cộng với một nơi thực thể con người ít nhất phải là ba, nơi trường hợp ba là một và một là ba, không thể phân chia, tách rời. Thứ ba, mỗi người có một linh hồn (tạm gọi như thế) và con mắt nhìn trong giấc mơ hoặc nhìn trong những trường hợp ngất trí. Đến đây, có ai thắc mắc chi không?

- Thưa cha, tại sao chúng ta cần phải biết mấy thứ lẩm cẩm lỉnh kỉnh này; bởi cho dù không biết, chúng ta vẫn sống mà.

- Đã ai chứng thực được sự việc nào đó mà mình đã thấy trong giấc mơ.

- Thưa cha, ông trùm Canh lên tiếng, kỳ con đang trong trại cải tạo, hằng ngày cùng nhóm đi vào rừng đốn củi về cho đội nhà bếp nấu ăn. Một tối khi ngủ con mơ thấy đi tới một đoạn đường, ngày xưa xe be vô rừng kéo cây; nơi đó có một đoạn thân cây to hơn một người ôm, dài cỡ chừng hai thước đã mục bên ngoài, và có một vài cây cỏ mọc lên từ phần gỗ mục nằm dọc bên đường be cũ. Mỗi ngày, nhóm chúng con phải đi kiếm củi hơi xa hơn một chút. Cỡ hai tuần sau, con thật ngỡ ngàng bởi có cảm tưởng mình đã đến nơi này từ bao giờ. Chợt nhớ lại đã có lần trong cơn mơ con đã thấy; cũng cây cối như in trong giấc mơ và đặc biệt khúc thân cây lớn hơn một ôm với mấy cây cỏ mọc ở trên. Tuy nhiên, con chỉ cảm thấy lạ lùng chứ không đặt vấn đề mình thế nào và con mắt nhìn trong giấc mơ.

- Sở dĩ tôi nhắc đến những sự thể này vì ai cũng không ít thì nhiều đã nhận biết, nhưng chúng ta không để ý nhận thức, hầu một cách nào đó, giúp chúng ta nhận định rõ ràng hơn về thực thể chính mình trong nghiệm chứng để nhận thức được “Mình là ai,” câu hỏi đầu tiên cũng là câu trả lời cuối cùng nơi hành trình thức ngộ tâm linh, hành trình mà ông bạn tôi hay lặp lại lời của lục tổ Huệ Năng, nhà Phật, “Kiến Tính thành Phật.” Tính hay Tánh là thực thể Uyên Nguyên, Quyền Lực Hiện Hữu, Quyền Lực Sự Sống; bây giờ bên Việt Nam người ta gọi là quyền lực vũ trụ. Tôi không đồng ý với danh hiệu này vì phát biểu như vậy chỉ là cảm thấy chứ chưa nhận thức được sự cách biệt giữa quyền lực hiện hữu với quyền lực vũ trụ. Gọi là Quyền Lực Hiện Hữu vì nó ở mọi nơi, mọi loài, mọi dạng thức, Theo nghĩa từ chương của danh hiệu “Quyền lực vũ trụ,” thì chỉ nói về vật chất. Vậy sự sống phát sinh từ đâu bởi vật chất không thể tự nó phát sinh sự sống. Sự sống dựa trên vật chất nhưng không thể phát sinh từ vật chất; cũng như khoa học cho tới ngày nay vẫn còn lầm lẫn cho rằng tư tưởng phát sinh từ bộ óc do chưa nhận ra được bộ óc cũng chỉ là phương tiện cho linh hồn hoạt động hay làm việc. Sự hiện hữu bao gồm vô hình và hữu hình trong khi danh hiệu vũ trụ chỉ được giới hạn trong vật thể hữu hình.

- Bây giờ nếu chúng ta đem tổng hợp từ các đạo học Đông Phương, Kinh Thánh, họp chung với nhận thức thực thể hiện hữu nơi mỗi người, chúng ta sẽ nhận thức được mình thế nào? Ai có thể tổng hợp dùm, làm ơn lên tiếng.

- Thưa cha, Thanh giơ tay, con xin trình bày theo thứ tự những gì mình có thể nhận biết về chính mình đoạn thử xét xem các đạo học Đông Phương nói gì về con người. Như chúng ta nhận thấy một cách rõ ràng và đó là con người gồm hai phần, thân xác và linh hồn. Thân xác cũng như cuộc đời một người và những chuyện xảy đến nơi cuộc đời đều là cơ hội cho người đó thức ngộ. Nói đúng ra, cho linh hồn của người đó học những bài học cần phải học. Linh hồn đồng thời có con mắt nhìn trong giấc mơ, hoặc nơi trường hợp ngất trí thấy linh ảnh, nhưng làm sao để sử dụng được con mắt đó thì chúng ta cần phải nghiên cứu và thực tập nơi đạo học Đông Phương, đặc biệt nơi Mật Tông Tây Tạng. Hoạt động của linh hồn là ý định, ước muốn, tham vọng, của một người. Các đạo học Đông Phương đều minh xác rằng linh hồn chính là Quyền Lực Hiện Hữu tối thượng hoạt động nơi một người đồng thời bị ảnh hưởng của cuộc đời nên phát sinh những phản ứng khác nhau tùy môi trường hoặc căn cơ của người đó. Phật học gọi hồn là Tánh hay Tính, Lão học nói chính là Tào, và Ấn học gọi hồn là Atman, một phần của Thượng Đế Brahma. Kinh Thánh gọi linh hồn là Thiên Chúa ở cùng chúng ta, Thiên Chúa nội tại, và mỗi người là hình ảnh của Thiên Chúa nơi thế giới hữu hình. Thưa con xin hết.

- Tôi có thêm một câu hỏi nhỏ nữa, một cách thực nghiệm nào chúng ta có thể biết chính mình rõ ràng hơn, vì chúng ta thấy, ai cũng vậy đều cho rằng, nếu không muốn nói là tưởng tượng, mình tốt lành, nhưng thực sự tốt lành thế nào và bê bối ra sao có lẽ chúng ta cảm thấy đều không rõ ràng. Ai có đề nghị thiết thực nào có thể dễ dàng thực hiện để nhận chân ra mình, làm ơn cho ý kiến. Quay về phía cụ Tài ngài hỏi nhỏ, ông bạn đã nói cho họ biết chưa?

- Chưa vì còn chờ mấy ông thần ngộ thêm đôi chút.

Thanh nhớ lại thời kỳ tìm kiếm phương pháp để thực sự nhận biết chính mình thế nào nhưng đợi chờ xem có ý kiến nào khá hơn và tiện lợi hơn chăng.

- Thưa cha, ông Tiên tiệm phở giơ tay, muốn hiểu rõ chính mình cần phải có người thân với mình nhất nói cho mình biết những gì hay, những gì dở, vì nhiều khi mình không biết chính mình.

- Vậy nếu anh có tư tình với chị thâu ngân, vợ anh ngăn cản, anh có chấp nhận không? Tình lên tiếng.

- Nói sao thì nói, miễn có thì càng tốt, nhưng đàng này có tiếng mà không có miếng mới đáng nuối tiếc.

- Không được, đàn bà không bao giờ sai, và họ chỉ nhớ những việc gì mình quên không làm, còn bao nhiêu chuyện tốt lành mình làm thì họ quên hết, sao có thể biết mình tốt thế nào được! Hưng nói khiến mọi người cười hả hê; riêng các chị thì ngấm nguýt mà cũng đành phải cười trừ bởi đàn bà nào không như thế!

- Tôi không chấp nhận đề nghị đó, và nhất là không dám để vợ tôi xét xử vì bà ấy không bao giờ muốn nhìn thấy những điều tốt lành nơi tôi, mà cứ xốn lên, chồng người ta thế này; chồng người ta thế nọ; đến nỗi tôi khùng lên bảo sao không theo họ mà cứ bám lấy tôi. Ông Thung chêm vô khiến chị Thung có vẻ lạ lùng, quá ngạc nhiên; bởi chị biết ông ta bày chuyện tố khổ phái nữ cho vui.

- Thưa cha, thưa bác, và anh em, con xin kể lại việc con đã làm để nhận biết chính mình. Vào thời đó con suy nghĩ mãi nhưng không biết cách nào để trả lời câu hỏi “Tôi là ai,” con đành lấy một tờ giấy, kẻ một đường thẳng ở giữa từ trên xuống dưới. Một bên con viết tất cả những điều con thấy tốt lành, thánh thiện nơi mình từ ý nghĩ, lời nói, đến việc làm. Bên kia, con cũng viết xuống tất cả những gì con thấy nơi mình không nên, không phải. Sau khi viết xong, con cảm thấy tá hỏa, không dám chấp nhận mình tệ như thế. Dĩ nhiên, con không để cho ai biết. Sau một lúc ngỡ ngàng, con nhận định, những gì được viết nơi tờ giấy chính là con viết về con; bởi đâu ai biết con thế nào. Thế nên, sau khi suy nghĩ con đi tới kết luận; đây thực sự là chính mình, mình không chấp nhận nó là tự lừa dối để rồi con mở rộng lòng chấp nhận mình thực sự là như thế. Ngay lúc chấp nhận đó là thực thể nơi mình, con cảm thấy tâm tư thoải mái, đồng thời cũng nhận thức được trên cuộc đời này không ai bết bát hơn mình, không có thằng quỷ, con ma nào tệ hơn mình; có lẽ chúa quỷ chỉ đáng làm đàn em của con. Tuy nhiên, cũng từ đó đối với những sự việc hay ai đó vô tình hay hữu ý làm phiền con, con nhận ra rằng, sự tệ hại người đó đã làm phiền lòng con không đáng để so sánh với sự tệ hại nơi con nên chẳng có gì đáng cho con phải chấp chiếm vì con còn tệ hơn người ta nhiều. Nói cho đúng, bởi nhận ra được như thế, con cảm thấy lòng mình thanh thản, dễ chịu hơn. Có thể nói, con không dám đặt vấn đề đúng, sai nơi người khác nữa; bởi đàng nào thi họ cũng dễ thương, tốt lành hơn con. Không hiểu tâm tình này lâu dần có làm cho con thêm tự ty mặc cảm hay chăng, nhưng cái lợi ích trước tiên về chuyện dám đối diện chính mình đã giúp con chấp nhận cuộc đời và người chung quanh dễ hơn. Có điều, nhân tiện con xưng tội trống với cha, đó là chính sự thể hồi tâm đối diện và chấp nhận chính mình cũng làm phiền con không ít. Số là nếu có ai đó chủ đích đụng chạm đến con, con biết nhưng không nói ra, không tỏ bất cứ thái độ nào khi gặp họ mà cứ như chẳng để ý gì; con lại cảm thấy thái độ im lặng này cả là một sự độc ác vì như thế có nghĩa cố tình để người đó phải trả giá nặng nề hơn. Con xin hỏi, cha và bác cùng quý anh em nghĩ thế nào?

- Câu hỏi của anh, chúng ta sẽ trả lời sau. Riêng phần thực nghiệm để nhận biết chính mình, anh có biết Phúc Âm nói thế nào không?

- Thưa cha, thực ra con đọc và suy nghĩ khá nhiều về đạo học Đông Phương, nhưng có chi nhiều đâu, Đạo Đức Kinh cỡ năm ngàn chữ, Nam Hoa Kinh chỉ giống như một tập truyện ngắn, các kinh khác như Kinh Kim Cang, Kinh Đại Niết Bàn, Kinh Viên Giác, Sáu Cửa Thiền Thất, Kinh Pháp Bảo Đàn, Bhagavad Gìta, kinh nào cũng ngắn gọn nhưng lời lẽ cứ ngược ngược với lối suy nghĩ thường tình nên con kiếm những sách giảng giải đọc thêm. Tuy nhiên, những tác giả giải thích về các kinh lại hình như mang nặng lối giải thích theo nghĩa hữu vi khiến tâm trí con lộn tùng phèo. Dạo đó, sau năm thứ nhất đại học, con mua được cuốn Lão Học Tinh Hoa do cụ Thu Giang Nguyễn Duy Cần viết, ngay trang đầu tiên được ghi câu nói, “Tri giả bất ngôn, ngôn giả bất tri,” và được cụ dịch là người biết không nói, kẻ nói không biết. Chính câu này đã làm con ngất ngư hơn mười năm. Con còn nhớ, năm 1977 con vô năm thứ nhất đại học thì năm 1978 con mua cuốn sách đó nơi một tiệm sách Việt Nam tại Chicago. Thế mà mãi cho tới năm 1989 con mới hiểu câu ấy nói gì dẫu đã bốn hay năm lần đọc lại cuốn đó, qua nhiều lần suy nghĩ và cố đặt giả thuyết về những trường hợp khác nhau để giải thích câu đó sao cho hợp lý hợp tình. Sau khi đã nghiệm được câu đó, con áp dụng phương thức suy nghiệm đã học được mà nghiệm chứng các câu nói khác nơi đạo học Đông Phương. Hơn nữa, các tác giả luận giải các kinh thường nhắc nhở tới câu hỏi “Tôi là ai” nên con thử áp dụng cho chính mình. Bởi vậy, dẫu đọc Phúc Âm nhưng con có thấy câu nào nói về câu hỏi tôi là ai đâu mà để ý.

- Thế sau khi tìm hiểu về đạo học Đông Phương, anh thấy Phúc Âm ra sao?

- Nếu con thực tâm nói ra, e rằng cha, bác và anh em đây sẽ cho rằng con rối đạo nên thà đừng nói còn hơn.

- Anh nói gì, nếu đã rối đạo thì nói ra hay không anh cũng đã rối. Tôi nghĩ anh ngại nói ra vì e những điều suy nghĩ của anh làm cớ cho người khác vấp phạm, hoặc làm cho người ta bị rối thì đúng hơn. Có phải vậy không?

- Ủa, nói như thế cha rành về con hơn chính con, thì còn nói làm gì?

- Tôi đâu hỏi cho tôi mà hỏi cho anh em ở đây thôi vì chính tôi cũng không muốn nói ra. Anh cứ nói, nếu những gì được coi là rối đạo, tôi sẽ nói anh ngưng. Tuy nhiên, chúng ta chỉ nói về Phúc Âm, không nói về tôn giáo thì sao có thể nói rối. Đàng khác, không tôn giáo nào dám cao ngạo lên án niềm tin của tôn giáo khác là rối. Một người không tin theo niềm tin của một tôn giáo nào đó đâu phải họ rối, và không ai có quyền kết án người đó là rối. Sự rối hay không chỉ xảy đến bên trong tôn giáo và những thành viên của tôn giáo chứ không đến với người ngoài tôn giáo. Anh cứ việc tự nhiên.

- Cảm ơn cha đã minh định rõ ràng nên con xin thưa. Con đọc Phúc Âm như đọc một cuốn kinh đạo học. Thế nên con thấy hình như Phúc Âm dùng những dụ ngôn và những công án ghép nối lại thành câu truyện về cuộc đời Đức Giêsu. Bởi đó, nếu cố gắng hiểu Phúc Âm theo nghĩa từ chương thì sẽ bị rối tung lên bởi giải thích hợp với câu này thì lại đối nghịch với câu khác. Con thử đưa ra một thí dụ, cha làm ơn đừng cảm thấy phiền hà. Đời thuở nào trong Phúc Âm có câu, “Ôi, thế hệ cứng tin và tà vạy! Cho đến bao giờ Ta sẽ ở với các ngươi, cho đến bao giờ nữa, Ta sẽ phải chịu đựng các ngươi!” (Mt. 17:17; Mc. 9:19; Lc. 9:41), mà chúng ta thì nói sao? Con chỉ dám chưng lên câu Phúc Âm như thế, ai hiểu con muốn nói gì thì hiểu. Vấn đề thứ hai, nơi Phúc Âm Gioan được viết, “Quả vì thiên Chúa đã yêu mến thế gian như thế đến nỗi đã thí ban người Con Một, ngõ hầu những ai tìn vào Ngài thì khỏi phải hư đi nhưng được có sự sống đời đời” (Gn. 3:16). Nếu hiểu theo nghĩa từ chương thì câu này trật lất vì ít nhất hai điểm. Thứ nhất, theo Phúc Âm, Thiên Chúa yêu thương con người đến nỗi thí con một của mình để cứu họ khỏi chết mà sao lại bày ra hai tiếng “Chúa phạt.” Vấn đề thứ hai, đó là nếu hiểu theo nghĩa từ chương, câu này hoàn toàn không thể áp dụng vì ai cũng phải chết. Thưa cha, có lẽ hai thí dụ đã đủ điều con muốn nói.

- Ông nói gì, nếu mà không phạt thì thế giới này nổ tung lên à? Con người thuộc loại thứ lừa ưa nặng; nếu không thế thì cuộc sống này sao có thể yên ổn! Sỹ đặt vấn đề.

- Thưa cha, Tình giơ tay, con nghĩ, anh Thanh nói có lý, vì một Thiên Chúa yêu thương loài người vô bờ bến thì không lý nào phạt bất cứ ai. Con nghĩ, mình làm ăn chẳng ra gì lại thích vung tay quá trán rồi đổ lỗi Chúa bắt phận nghèo nàn thì quả là oan uổng cho Chúa. Mình lãnh hậu quả chính mình tạo ra có lẽ hợp lý hợp tình hơn là đổ cho Chúa phạt.

- Tôi hỏi anh Sỹ, ngồi trước bàn tiệc mà anh không ăn nên bị đói thì Chúa có phạt anh đói bụng không? Thế nên, nói rằng Chúa phạt là để giúp cho những tâm hồn đơn sơ, thiếu hiểu biết lo sống tốt lành. Bởi nếu nói Chúa phạt anh, Kinh Thánh nói anh là hình ảnh của Thiên Chúa, thánh Phao lô minh xác Thiên Chúa ngự trị nơi mọi người, thì nếu Chúa phạt anh, Chúa phạt chính Ngài nơi anh ư? Có lẽ, chúng ta cần phải nghiệm chứng thâm sâu hơn về thực thể chính mình và sự liên hệ của mình với Thiên Chúa. Hơn nữa, một vấn đề quan trọng phải được đặt ra; đó là chúng ta đang nói về Thiên Chúa như thế nào? Nghĩa là nhận thức hay quan niệm của chúng ta về Chúa ra sao; coi chừng chúng ta rơi vào trường hợp “Ông nói gà, bà nói thóc” thì không thể đàm luận được.

- Thưa cha, Chúa thì chỉ có một, làm gì có hai Chúa mà cha nói phải đặt vấn đề về Thiên Chúa như thế nào.

- Thưa cha, Bá lên tiếng, con nghĩ nên giới hạn chủ đề hoặc câu hỏi để giải quyết dứt khoát cho rõ ràng, chứ cứ nói lan man thì sẽ không thể trở về mục đích chính là Phúc Âm được. Hiện tại, câu hỏi của anh Thanh còn đang chờ mà lại thêm nhận thức phân định về Thiên Chúa, một vấn đề lớn lao như thế bao giờ mới ngưng được, rồi lại những câu hỏi liên hệ tiếp nối thì sao giải quyết.

- Anh nói có lý, chúng ta giải quyết câu hỏi của anh Thanh trước. Anh Thanh đặt vấn đề không nói có thể là độc ác vì người vấp phạm sẽ phải trả giá mắc mỏ hơn. Ai có ý kiến gì không? Nhưng trước tiên, mời anh Thanh nói lý do tại sao không nói hoặc không phản ứng.

- Thưa cha, thứ nhất, nói ra hoặc giải thích chỉ sinh thêm phiền hà. Những người đã nhìn mình dưới nhãn quan đối lập thì sẽ không bao giờ tin những điều mình nói. Hơn nữa, nếu con không lầm thì có câu nói, ý nghĩ, quan niệm của người ta chẳng khác gì chiếc đinh, càng đóng, chiếc đinh càng lún sâu vô khó bề gỡ nổi. Thêm vào đó, ai cũng quá quen thuộc với câu nói, “Không có lửa sao có khói.” Như vậy, mình càng lên tiếng phản bác thì lại càng chứng tỏ có điều gì liên hệ mình muốn giấu diếm. Con nghĩ, chưa chắc “Một câu nhịn là chín câu lành” nhưng chắc chắn “giáo đa thành oán;” dại gì trở thành kẻ thù của họ một cách vô cớ dẫu họ đối lập với mình dù chỉ nghe tin đồn. Tuy nhiên, dù biết rằng nhiều khi sự thể xảy đến do nghe hơi, ngồi chõ hoặc bày chuyện phao tin thất thiệt thì chỉ nên lờ đi vì càng cải chính chỉ càng phiền mình thêm.

- Thế sao anh có mặc cảm độc ác nếu im lặng? Cha Hải hỏi.

- Thưa cha, như vậy phỏng mặc cảm tội lỗi phát sinh từ sự tốt lành, thánh thiện? Thanh nói.

- Ông nói gì, Sỹ giống như ngồi nhằm chiếc gai, tốt lành là tốt lành sao có thể sinh ra tội lỗi.

- Im đi ông ơi! Bá lên tiếng, ông có biết mình nói gì không?

- Anh em chắc biết câu, “Đã biết lòng nó độc thì nhịn mà chào nó.” Mặc cảm độc ác phát sinh từ lòng nhẫn nhịn, hoặc cảm nghĩ không đáng chấp vì nhận thực ra mình còn tệ hơn những người khác; bởi mình không biết gì nhiều về họ đó là một sự nhận thức trung thực của bất cứ ai đã nhận biết thực thể chính mình. Nói theo Lão học thì được gọi là thánh nhân; mà nơi Lão học có câu nói, “Trời đất coi vạn vật như chó rơm, thì thánh nhân cũng coi trăm họ như chó rơm.” Anh đã nhận ra được dù có giải thích cách nào thì cũng chẳng khác gì đem búa đóng đinh nơi đầu họ thì mặc cảm độc ác phát sinh nơi anh do lòng chân thành. Tôi nghĩ, anh nên nghiệm chứng câu, “Không làm điều xấu đã khó, không nghĩ đến điều xấu lại càng khó hơn.” Anh không có ý nghĩ đến cải chính hay trả thù hoặc mưu toan làm hại người đối lập hoặc tuyên truyền những điều thất thiệt về họ là quá đủ. Cái mặc cảm độc ác ấy coi chừng đồng nghĩa với lòng thương xót nơi Phúc Âm mà thôi.

- Thưa cha, sao mặc cảm độc ác lại có thể đồng nghĩa với lòng thương xót.

- Ông ơi, im đi cho người ta nhờ. Nghiệm thì không nghiệm, chứng chẳng lo chứng, cứ sợ người ta cho rằng mình không biết nói. Bá ngăn Sỹ.

- Chúa ở trong anh, biết anh suy nghĩ theo thế tục, làm những điều thiệt hại nặng nề cho chính anh mà không thể ngăn cản không là xót thương thì là gì? Không độc ác thì là gì?

- Ah! Tình lại la lên, rồi lặp lại câu, “Trời đất coi vạn vật như chó rơm.”

Cụ Tài nhìn Tình, cha Hải cũng nhìn Tình gật đầu.

- Anh Tình, đắc ý về chuyện gì vậy? Cha Hải hỏi.

- Thưa cha, Chúa Giêsu gọi thánh Phêrô là Satan!

Cha Hải hỏi một đàng, Tình trả lời một nẻo, Thanh nghĩ, thế nào cũng có người ngớ ra.

- Thưa cha, Phùng giơ tay, sao có thể nói Chúa độc ác?

- Anh Tình, anh trả lời câu hỏi này được không?

- Thưa cha, nói rằng độc ác hay thánh thiện cũng chỉ là ngôn từ ám định về một sự thể theo nhãn quan hữu vi. Bởi mọi sự, mọi việc từ ý nghĩ, lời nói đến hành động đều biến chuyển trong Chúa chẳng khác gì muôn loài thủy sản sinh động trong đại dương. Dĩ nhiên, cá nước ngọt không thể sống trong nước biển nơi đại dương nên đại dương được coi là độc ác với loại cá ấy, hoặc một số loài vật khác nhưng đại dương nó vẫn thế, không mang bất cứ ý định đối với loài nào. Tình giải thích.

- Như vậy có lẽ anh chị em hiểu được câu Phúc Âm, “Vậy các ngươi hãy nên trọn lành như Cha các ngươi trên trời là Đấng trọn lành” (Mt. 5:48), “Vì Người cho mặt trời mọc lên trên kẻ dữ và người lành, và làm mưa trên người ngay và kẻ ác” (Mt. 5: 45).

- Thưa cha, Phủ giơ tay, như vậy Chúa công bằng thế nào vì tốt xấu đều được ban phát giống nhau, không hơn không kém.

- Bình thường, chúng ta mường tưởng một cách cá nhân, hữu vi, hoặc được dạy dỗ quan niệm về một Thiên Chúa chẳng khác gì Thiên Chúa được nêu lên nơi Kinh Thánh Cựu Ước rồi lấy Đức Giêsu ráp vô khuôn mẫu đã được định hình nơi tâm trí chúng ta. Anh chị em nên để ý; tất cả mọi cuốn sách trong Cựu Ước đều chứng minh một điểm, và đó là có một quyền lực tối thượng được gọi là Thiên Chúa đang hoạt động nơi tạo vật. Và Thiên Chúa nơi Cựu Ước được gán cho mang đầy đủ cá tính nhân sinh, cũng giận dữ, ghen tương, che chở cho nhóm người tự nhận được chọn dẫu họ thuộc loại sớm đầu tối phản và luôn luôn đối nghịch, hoặc nếu có thể, đàn áp bất cứ ai không thuộc về nhóm người này, nghĩa là không tin theo điều họ tin tưởng. Nơi Tân Ước, Đức Giêsu được sai đến để rao giảng Tin Mừng Nước Trời đồng thời trình bày một nhãn quan khác biệt với Thiên Chúa đã được diễn tả nơi Cựu Ước. Điểm chung của Cựu Ước và Tân Ước cũng chính là Thiên Chúa đang hoạt động nơi muôn loài; nhưng có thể tạm nói, tính chất của Thiên Chúa nơi Tân Ước vượt hẳn lên khỏi ý niệm của tạo vật về Ngài. Đây là lý do tôi muốn anh chị em nhận định cho rõ ràng khi mình dùng danh hiệu Chúa, hay Thiên Chúa để đàm luận về Phúc Âm. Đồng ý rằng, Kinh Thánh được viết từ Trung Đông nên mang sắc thái ám định của các đạo học Đông Phương; chẳng những thế, chúng ta có thể nhận ra rõ ràng câu Phúc Âm Gioan, “Cha Ta và Ta là một” đã có trong Ấn học ít nhất hơn năm trăm năm trước Công nguyên. Cũng thế, câu, “Kẻ trước hết sẽ trở nên sau hết” là một công án nơi Lão học cũng ít nhất năm trăm năm trước Phúc Âm. Thế nên, muốn nhận thức về Phúc Âm, điều kiện cần thiết không có không được, đó là nhận thức về đạo học Đông Phương. Đồng thời sự phân định rõ ràng về quan niệm, hay ý niệm về Thiên Chúa phải là điều không thể thiếu.

- Thưa cha, ông trùm Canh lên tiếng, chẳng lẽ có nhiều Chúa lắm hay sao mà cần phải phân định.

- Tôi đã nói rồi mà ông trùm không để ý chăng. Chỉ vì muốn tránh cảnh “Ông nói gà, bà nói thóc” mà tôi phải đặt vấn đề nhận thức về Thiên Chúa trước khi đi sâu vào Phúc Âm. Ông không nhớ đã có thắc mắc được đưa lên đó là một Thiên Chúa yêu thương vô bờ bến không thể là một Thiên Chúa công bình hay công thẳng như anh Thanh nêu lên. Đức Giêsu trình bày cho chúng ta một Thiên Chúa khác hẳn những quan niệm xưa nay trong khi chúng ta lại cứ khuôn mẫu Ngài rồi gán ép Ngài sao cho phù hợp với nhãn quan thế tục của mình, và như vậy, chúng ta đã biến quan niệm hay nhận thức của mình trở thành đầu voi đuôi chuột. Nói khác đi, chúng ta tự biến thành những thày bói mù rờ voi, không biết mình nói hoặc tuyên xưng những gì giống như nơi Ca Dao có câu, “Đầu ngòi có con ba ba, kẻ gọi con trạnh, người la con rùa.” Nghe ông bạn tôi nói, quên chưa nhắc nhở anh chị em đọc Phúc Âm trước, thế nên tôi nêu lên câu hỏi để xem nhãn quan của anh chị em về Thiên Chúa thế nào.

- Đó, chú mày muốn nói thì nói đi kẻo không cho nói thì khóc, cho nói lại mếu, Phủ nói với Sỹ.

- Tớ chưa ngộ mà, đợi tớ thiền chút mới nói được. Chúa Giêsu nói, “Con chiên ta thì nghe tiếng ta” (Gioan 10:27), tớ phải bác chảo, đổ dầu đun cho nóng lên chiên mới nghe được Chúa nói thế nào.

- Anh Sỹ, anh chiên Chúa Giêsu bằng đất hay bằng giấy?

- Thưa cha, Phúc Âm dạy vậy nên con định thực hành như thế nhưng con không thích làm đồ giả, làm thứ thiệt mới chắc ăn; mà lấy đâu ra Chúa thiệt bây giờ để chiên!

- Vậy chú quên lời dạy của Thánh Phao lô rồi sao?

- Bộ anh muốn tôi tự tử sao. Thế vợ con tôi ai nuôi?

- Bây giờ mới biết chú có hiếu với vợ con nên không dám nghe tiếng Chúa!

- Biết rồi, nói mãi, không có vợ tôi thì ai sinh con cho tôi, chẳng lẽ vợ hàng xóm?

- Thế là thất bại! Người ta nói, đàng sau một người đàn ông thất bại là một người đàn bà xúi dại.

- Bị xúi dại còn hơn không biết mình dại

- Dại chi?

- Vì không có vợ.

- Chưa chắc có đã hơn không!

- Chưa ai đọc Phúc Âm bao giờ sao? Cha Hải lên tiếng hỏi mọi người.

- Thưa cha, chúng con còn đang ngâm kíu, Sỹ trả lời.

- Thế nào, hai ông trùm.

- Thưa cha, lần đầu tiên con mới được hỏi về những nhận xét về Chúa. Xưa nay, có bao giờ con dám nghĩ đến đâu vì cứ đinh ninh phải tin với giáo hội. Mặc dầu chẳng hiểu phải tin với giáo hội là tin thế nào nên cứ chờ các cha bảo sao nghe vậy, bước ra khỏi nhà thờ cứ quên ngay đi là xong bổn phận. Nay cha lại hỏi Chúa thế nào thì sao mà đầu óc chúng con dám nghĩ tới.

- Vậy xưa nay ông được biết Chúa như thế nào?

- Thưa cha thì cứ như bổn ngày xưa học thuộc lòng; thưa Đức Chúa Trời có ba ngôi; ngôi thứ nhất là Cha, ngôi thứ hai là Con, ngôi thứ ba là Thánh Thần. Rồi ba ngôi bằng nhau, không ngôi nào hơn, ngôi nào kém, không trước, không sau. Nếu được hỏi Đức Chúa Trời là Đấng nào thì cứ nhắm mắt thưa, Đức Chúa Trời là Đấng dựng nên trời đất muôn vật cùng hằng gìn giữ cai trị mọi sự. Rồi nào là Đức Chúa Trời là Đấng thiêng liêng, vô thủy vô chung, phép tắc vô cùng, thông minh vô cùng, trọn tốt trọn lành, ở khắp mọi nơi. Thưa cha, trong bổn dạy về Đức Chúa Trời chỉ có thế, không hơn, không kém.

- Ông có bao giờ nghĩ đến thế nào là ở khắp mọi nơi không?

- Thưa cha thì ở khắp mọi nơi là nơi nào cũng có Đức Chúa Trời.

- Vậy ông có nhìn thấy không?

- Thưa cha, Ngài là đấng thiêng liêng sao có thể nhìn thấy.

- Trong Phúc Âm có câu nào đó nói Thiên Chúa là Thần Khí…

- Thưa cha đúng vậy, Phúc Âm có câu, “Thiên Chúa là Thần Khí nên những kẻ thờ phượng cũng phải thờ phượng trong Thần Khí và sự thật (Gioan; 4:24). Thế ra những gì chúng con phải tin đã được ghi trong Phúc Âm mà có bao giờ được ai nói cho biết đâu. Thưa cha, là người Công giáo, con nghĩ gia đình nào cũng có cuốn Kinh Thánh nhưng để cho mà có chứ mấy ai đọc; vì nghe đâu thời xưa giáo dân bị cấm không được đọc, bởi đọc sẽ bị rối đạo. Có lẽ vì thế nên các cha thường nhắc nhở chúng ta phải tin với giáo hội.

- Thế ông có biết tin với giáo hội là tin thế nào không?

- Thưa cha, là tin theo những gì các cha giảng giải.

- Ông có thể đưa ra một thí dụ được không?

- Thưa cha, chẳng hạn về dụ ngôn người bị cướp đánh nửa sống, nửa chết (Lc; 10:29-37), các cha thường dạy rằng phải biết yêu thương và gìúp đỡ những kẻ khốn cùng. Chúa đã yêu thương chúng ta, ban cho chúng ta cuộc sống đầy đủ thì cũng phải biết yêu thương những người đồng loại như vậy.

- Ông trùm sang Mỹ được bao nhiêu năm rồi?

- Thưa cha, tính đến nay cũng hăm mấy năm rồi ạ.

- Thế khi lái xe trên xa lộ gặp những người xin đi xe nhờ, ông trùm có chở dùm họ không?

- Thưa cha, ngày mới sang được ít năm, có đôi lần con cho họ đi nhờ, may mắn không xảy ra chuyện gì, nhưng mùi mồ hôi cháy nắng nơi họ bốc ra khiến con muốn ngộp thở. Sau này, mấy người quen biết được, nói con không nên làm như thế vì rất nguy hiểm. Báo chí, internet cũng khuyên không nên làm thế; bởi coi chừng sẽ bị cướp xe lại còn bị đòn tàn tật nữa thì khổ cả đời nên con thôi.

- Như vậy, không cho họ đi nhờ xe có phải ông độc ác, không biết thương người mà để họ chịu trận dưới trời nắng chang chang?

- Thưa cha, cũng đành chịu vậy thôi vì nếu lỡ ra thì ai thương mình!

- Thế có bao giờ ông tự hỏi tại sao vị tư tế và vị luật sĩ không giúp người bị cướp mà lại đi tránh sang bên kia đường cũng như ông không đón người lỡ đường không?

- Cha hỏi thì con mới nhận ra là mình đã không bao giờ đặt câu hỏi tại sao; chứ con chỉ nghe thấy các cha giảng phải biết yêu thương mà giờ, có cơ hội giúp người ta nhưng lại không dám giúp.

Nghe cha Hải hỏi và ông trùm Canh trả lời đến đây, mọi người nhận ra có điều gì khúc mắc nơi dụ ngôn người Samaritanô tốt lành.

- Ai có thể giải thích được dụ ngôn người Samaritanô tốt lành sao cho hợp lý hợp tình và có thể áp dụng trong cuộc đời chúng ta? Cha Hải đưa mắt lướt qua mọi người.

- Thưa cha, chị Sỹ lên tiếng, con nghe đâu hình như luật Do Thái rất khắt khe, người ta không được phép đụng đến những con vật nhơ uế, và cũng có điều luật cho rằng người ta hay con vật chết ngoài trời là thứ nhơ uế nên hai vị tư tế và luật sĩ không dám giúp người sắp chết vì bị cướp đánh.

- Vậy theo chị nghĩ, dụ ngôn này muốn dạy chúng ta điều gì và làm sao áp dụng nơi cuộc sống mỗi người?

- Thưa cha, thì những điều gì phạm luật là phạm tội nên đừng làm thì khỏi phạm tội.

- Thưa cha, Thanh lên tiếng, theo ý con thì dụ ngôn người Samaritanô tốt lành lên án tất cả những gì được gọi là điều luật ngăn cản người ta sống yêu thương. Như vậy, Phúc Âm được viết chống lại những luật được gọi là nhơ uế nơi bộ luật Do Thái. Bởi vì người Samaritanô không theo đạo Do Thái nên ông ta giúp người bị cướp đánh nửa sống, nửa chết. Tất nhiên, hai vị luật sĩ và tư tế vì họ biết và phải giữ luật nên không thực hành đức yêu thương. Nói như vậy, con thấy hình như tôn giáo đang thực hành những gì không hợp với đạo học. Con cảm ơn cha đã hỏi; có lẽ con phải đặt lại vấn đề về nhận thức đạo học áp dụng nơi tôn giáo. Tuy nhiên, đìều này có vẻ hơi phiền bởi nếu không thực hành giống mọi người, con sẽ bị họ coi như quái thai.

- Anh nêu thí dụ được không?

- Thưa cha, đâu cần phải thí dụ mà sự thật đang được chấp hành nơi cộng đồng Công giáo chúng con. Nơi kinh Ngày Chủ Nhật, chúng con cứ vui vẻ tụng niệm mà chẳng thèm suy nghĩ với câu, “Ai chẳng thông công cùng hội thánh ấy thì chẳng được rỗi linh hồn, mà linh hồn là giống thiêng liêng chẳng hề chết được” (Sách Kinh Địa Phận Hà Nội; Kinh Đô ấn quán; TX, USA; Tr. 31) Thưa cha, mình là hình ảnh của Thiên Chúa, linh hồn mình chính là Thiên Chúa nội tại. Thế mà dám rang rang công bố ai chẳng thông công cùng hội thánh Công giáo thì chẳng được rỗi linh hồn. Thưa cha, con nghĩ các cha phải nghe thấy bởi không vị nào điếc. Thưa cha, như vậy phỏng các cha cũng không suy nghiệm những lời kinh mình đọc?

- Anh nói vậy thì tôi cũng điếc rồi; vì đã có lần tôi dâng lễ chủ nhật cho một cộng đồng người Việt nghe thấy họ đọc như thế nhưng không để ý. Sau này kiếm ra, kinh ấy được in hình như vào năm 1950 hay 51 gì đó. Tôi nghĩ, có lẽ kinh được sáng tác khá lâu trước đó với quan niệm cổ xưa của các vị truyền giáo. Ngày xưa, người ta đều quan niệm rằng ai không theo đạo Công giáo cũng như không được rửa tội sẽ mất linh hồn. Thời đó họ chưa nhận thức được linh hồn là gì. Nếu anh em để ý, nơi đất nước này, ngày xưa, mới chỉ mấy trăm năm, người ta cho rằng những người da đen không có linh hồn nên họ bắt làm nô lệ; họ đối xử với người da đen như đối với con vật hoặc còn tệ hơn thì quan niệm mất linh hồn quá ư bình thường. Anh nói đúng, nếu cỡ hai trăm năm trước anh lên tiếng bênh vực và chứng minh người da đen có linh hồn nơi đất nước này, chắc chắn anh sẽ bị kết án là quái thai. Dĩ nhiên, bất cứ những gì anh nói khác với quan niệm của một tập thể đều khiến họ khó chịu; đặc biệt đối với những người theo Công giáo “Credale” ngày xưa, nói không giống họ nói sẽ bị lên giàn hỏa. Và không thế, chúng ta đâu cần tốn rượu bia, đồ ăn, thức uống, và thời giờ đàm luận những chuyện thường được coi là không đâu như thế này.

 
Không ngờ cha Hải lại có được nhận định như vậy, Thanh nghĩ. Thường thì các cha phải dùng mọi lý lẽ đôi khi áp đặt để giải thích; đàng này, ngài tỉnh bơ chấp nhận sai lầm, không đổ tại ai, lại còn dám cho rằng mình điếc.  

- Riêng điều mà anh nói về lỗi lầm của thánh Phao lô để đến nỗi bị lạm dụng mà phát sinh các giáo phái khác thì đó thực sự là thiếu sót nơi anh; bởi anh đã nhận thức câu nói của ngài theo quan điểm thế tục. Anh thử đặt vấn đề; Thiên Chúa ở trong anh thì đức tin chính là quyền lực của Thiên Chúa nơi anh. Như vậy nói rằng đức tin con chữa con hay Chúa chữa con thì cũng thế. Chính vì không nhận thực được Thiên Chúa đang hiện diện và hoạt động nơi mình nên người ta đã cho rằng chỉ cần nói tin vào đức Giêsu qua môi miệng là đủ được cứu rỗi mà quên rằng Phúc Âm rõ ràng minh xác, “Không phải mọi kẻ nói với Ta, ‘Lạy Chúa, lạy Chúa’ là vào được Nước Trời, nhưng là kẻ thi hành ý Cha Ta, Đấng ngự trên trời” (Mt. 7:21). Như vậy, sự phân rẽ phải xảy ra vì nhận thức thư Phao lô theo nghĩa từ chương, thế tục. Hiểu Phúc Âm theo nghĩa từ chương, thế tục, mang đến những tai hại như thế. Nơi trưòng hợp anh Thanh, tôi biết anh thực nghiệm nhận thức về chính mình, nhưng anh có nhận biết được Phúc Âm đã nói gì về sự thực nghiệm đó không?

- Thưa cha, con làm thế chỉ là làm bừa vì muốn nhận biết thực sự mình thế nào chứ đâu để ý gì Phúc Âm nói ra sao.

- Thế anh thấy điều gì khó hiểu nhất nơi Phúc Âm.

- Thưa cha, đọc Phúc Âm con thấy cao điểm nhất là đức tin, nhưng hãy còn câu nọ, câu kia nhắc tới nhắc lui. Tin Mừng Nước Trời thì cứ nghe người ta giải thích hay khuyến khích tin rằng Chúa Giêsu đến để chuộc tội cho thiên hạ. Tuy nhiên, con lại thấy nghịch lý thế nào ấy. Nhắc đến Thiên Chúa được đức Giêsu dạy gọi bằng Cha, con vẫn cảm thấy vu vơ vì chưa thực sự cảm nhận được như thế; tuy nhiên, một vài khía cạnh nhận thức Thiên Chúa là cha, theo con thấy cần phải được chiêm nghiệm. Hơn nữa, nơi những trường hợp ai đó đã không có được kinh nghiệm thân thương về bố của họ thì sao! Nãy giờ nghe cha nói về vị thế loài người con hơi hiểu một chút nhưng vẫn chưa thực sự cảm nhận được. Lý do chính mà con khúc mắc về thực thể con người như cha nói đó là sao có thể hoặc phải thực tập theo phương pháp nào để có thể sử dụng quyền lực của Thiên Chúa nơi mình. Thưa cha, còn nhiều thứ lắm, nói hoài cũng không hết nên không thể nào tìm ra điểm khó khăn nhất nơi Phúc Âm.

-Tôi muốn hỏi anh đã bao giờ thử suy nghĩ có nơi nào Phúc Âm nhắc đến phương pháp để anh nhận thực về chính mình mà thôi.

- Thưa cha, theo con thấy và đại đa số, nếu không muốn nói rằng hầu hết mọi người, đều cho rằng điểm cốt yếu mà Phúc Âm dạy là yêu thương. Nào Thiên Chúa là tình yêu, nào hãy yêu thương người khác như chính mình, nào không tình yêu nào cao quý hơn thí mạng mình vì bạn hữu, hay một đôi câu khác. Phỏng điều con nhận thực được mình chẳng ra gì nên thấy mọi người dễ mến hơn; có thể nói là, nếu không thế thì không thể thực sự yêu thương người khác.

- Nói thế đâu được, Sỹ lại nhảy vô, yêu thương là yêu thương chứ yêu thương có điều kiện đâu phải là yêu thương mà là vị kỷ vì thỏa mãn điều kiện mình đòi hỏi. Nếu nói yêu thương cần điều kiện thì làm gì có tiếng sét ái tình, làm gì gia đình phải tan nát khi vợ hay chồng theo đuổi một hình bóng nào đó bên ngoài.

- Anh Sỹ, cha Hải gọi đích danh, anh đang bị quan niệm luân lý, hoặc tình cảm, hoặc ước muốn thế tục làm mờ nhận thức nên trật chủ đề. Anh Thanh đang đặt vấn đề về sự liên hệ thực hành nhận thức chính mình với lời Phúc Âm dạy về yêu thương chứ không dính dáng gì đến tính chất của yêu thương. Tôi muốn đặt lại câu hỏi. Vậy sự khó khăn nhất nơi cuộc đời một người để nhận biết thực sự về mình là gì?

- Thưa cha, Thanh lên tiếng, chính là sự nhận biết chính mình.

- Nói gì giống đổ bùn sang ao, Sỹ lại đế vô.

- Vậy nơi Phúc Âm điểm nào quan trọng nhất để nhận biết chính mình?

- Tiên vàn hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và sự công chính của người, vợ Sỹ trả lời.

- Đó là điều quan trọng nhất đối với hành trình tâm linh, hành trình đức tin. Nhưng sự thể đầu tiên cần phải thực hiện để bước vào hành trình tâm linh là gì?

- Thưa cha, chính là nhận biết chính mình. Ôi, sao mà nó luẩn quẩn, Thanh nói.

- Phúc Âm khuyên chúng ta thế nào ngoài sự yêu thương?

- Thưa cha, “Tìm kiếm Nước Trời” (Mt. 6:33).

- Đúng, nhưng còn gì nữa?

- Thưa cha, yêu thương cha không chịu, tìm kiếm nước trời cha cũng không chịu dẫu Phúc Âm minh xác đó là chuyện tiên vàn, đầu tiên, tiền đâu; thế cha muốn gì? Yêu không muốn, tiền cũng không muốn. Bá nhào vô; hay cha muốn chọn con đường khó khăn… Ah, thưa cha, con đường hẹp.

- Đúng, kinh nghiệm sống cho chúng ta thấy, nhận biết chính mình, thực sự đối diện với mình là sự thể khó nhất, ai cũng biết, nhưng ai cũng ngại ngùng. Phúc Âm nói hãy đi ngõ hẹp (Mt. 7:13-14; Lc. 13:24) vì không hồi tâm nhận thực mình thế nào chúng ta vẫn bị mặc cảm tự tôn hay tự ty, hoặc quan niệm, hay kiến thức che lấp nhận thức chẳng khác gì cặp mắt kiếng màu ảnh hưởng mắt nhìn.

- Thưa cha, đâu phải tự nhiên mình biết hết mọi sự nếu không học hỏi và như thế sao có thể nhận định đúng, sai, phải trái. Ông trùm Canh thắc mắc.

- Tôi đưa một thí dụ rất thường, chưa được học hỏi gì về yêu đương, sao ông có thể yêu. Nếu cho rằng yêu thương là một bản năng thì chúng ta được sinh ra với nó đâu cần phải tìm hiểu trước khi yêu. Lòng khát vọng bẩm sinh nơi mỗi người sẽ dẫn dắt họ. Phúc Âm nói, “Cha Ta dẫn dắt chúng” (Ga. 6:65). Thiên Chúa ngự trị và hoạt động nơi mình. Chính Thiên Chúa dẫn dắt mình; vấn đề chỉ là mình có để ý hay không; mình có thực sự muốn nhận biết chính mình hay không như trường hợp của anh Thanh. Vì muốn biết thực sự mình như thế nào, anh đã phải tự kiếm ra phương pháp để trực diện con người của anh qua sự hồi tâm, nhận biết chính mình trên giấy trắng mực đen.

- Anh em nên để ý; muốn nhận biết về Thiên Chúa hoặc thăng tiến nơi hành trình tâm linh, điều kiện đầu tiên phải là nhận biết chính mình. Sở dĩ tôi phải đặt vấn đề về sự nhận biết Thiên Chúa vì thường thì chúng ta đã hiểu lầm về sự tin tưởng với niềm tin và đức tin. Thử đặt vấn đề, nói rằng tin vào Thiên Chúa nghĩa là thế nào. Tôi biết chắc chắn, bất cứ ai trong chúng ta đang hiện diện nơi đây cũng đều cảm thấy mù mờ về điều đươc gọi là tin. Tôi muốn nói, Thiên Chúa mang nghĩa tối thượng, nguồn gốc của mọi sự hữu hình cũng như vô hình mà tôi tạm gọi là Quyền Lực Hiện Hữu hoặc Quyền Lực Sự Sống. Dĩ nhiên, cuộc đời quá ngắn ngủi và nhận thức cũng như sự hiểu biết của mỗi người quá hạn hẹp nên chúng ta phải nhờ vào hướng dẫn của những vị thức ngộ đi trước chúng ta. Tất nhiên có nhiều phương cách, nhiều tài liệu để chúng ta nghiên cứu, nghiệm chứng qua các đạo học. Riêng tôi, tôi muốn cùng anh em nhận thức về Thiên Chúa qua Kinh Thánh vì ít nhất anh em đã có cơ hội lược qua đạo học Đông Phương.

- Một vấn đề liên hệ đó là đã có những tác giả lên tiếng; có những vị đã viết thành sách đặt vấn đề về quan niệm hay nhận thức về Thiên Chúa; nói chung chẳng hạn như nơi web, anh em có thể vô mục sachhiem.com, hoặc có thể mua hay vô “Google” đọc cuốn The God Delusion do tác giả Richard Dawkins. Những tác giả này dùng quan niệm thế tục, hữu vi để nhận định về phát biểu hay quan niệm về niềm tin của một số người. Họ cho rằng Thiên Chúa được hiểu theo quan niệm hữu vi, tạm gọi là bình thường của mọi người, bị coi là nguồn gốc của mọi sự khốn khổ (evil). Nhận ra thực tại như thế, anh em hiểu tại sao tôi phải đặt vấn đề tìm hiểu hoặc nhận thức điều mà tôi gọi là Thiên Chúa của đức Giêsu.

- Thưa cha, ông trùm Lực lên tiếng, họ nói sao là quyền của họ; mình tin sao là quyền của mình. Tại sao phải lo sợ về những gì họ nói!

- Ông đặt vấn đề rất đúng nhưng có điều, nơi Tục Ngữ, Ca Dao có câu, “Chúng khẩu đồng từ, nhà sư cũng chết.” Kinh nghiệm cho chúng ta thấy, những lời đồn đãi hoặc những quan niệm thời đại ảnh hưởng rất mạnh mẽ tới tâm trí mỗi người. Nhận biết về Thiên Chúa là điều cần thiết nơi hành trình tâm linh; vì chúng ta cần nhận thức thế nào là tin tưởng, thế nào là niềm tin, và thế nào là đức tin nơi Phúc Âm.

- Thưa cha, chúng con chỉ cần cha cho biết đức tin là gì để chúng con khỏi bị sai lầm là đủ.

- Nói về đức tin, tôi nói không được; bởi cũng giống như nơi công án Lão học, “Người biết không nói, kẻ nói không biết” mà anh Thanh đã phải bỏ ra mười một năm trời để nghiệm chứng. Hơn nữa, đức tin là một thực thể nơi mỗi người nên cần nghiệm chứng, rồi thực chứng; chứ không phải là điều chỉ hiểu cho qua…

- Nếu cha không biết đức tin là gì sao cha đi tu; vì không biết mới không thể nói ra được.

 

Mọi người ngạc nhiên vì phát biểu của ông trùm Lực. Nơi trình độ hiểu biết một ít về đạo học Đông Phương, họ nhận ngay được ông trùm Lực không biết ông nói gì.

Thanh cảm thấy thương hại cho ông; vì qua những năm tháng cố gắng tìm hiểu về Phúc Âm để rồi phải lục lọi qua các sách vở viết về đạo học Đông Phương, anh thấy rất cảm thương cho những người chỉ biết theo tôn giáo một cách mù mờ, a dua, đặc biệt là những người gắng sức hô hào tin vào đấng nọ, tin vào đấng kia, và vì thiếu hiểu biết, mỗi khi nhắc đến hoặc được hỏi về đức tin, họ có tâm tình e sợ chẳng khác gì tên tội đồ e bị kết án tử hình nên vội vàng phản ứng bằng cách kết án người lên tiếng hỏi, hoặc lên án bất cứ ai nói không giống điều họ nghĩ. Gọi là điều họ nghĩ, nhưng thực ra, họ có nghĩ gì đâu mà chỉ mang tâm trạng e sợ một cách mông lung vì đã chẳng thực sự biết gì, bởi chẳng dám suy nghĩ, không biết thế nào là suy nghiệm, nghiệm chứng. Có lẽ họ không bao giờ dám đặt vấn đề phân định thế nào là tin tưởng, thế nào là niềm tin, phương chi nói đến đức tin. Chờ xem ngài phản ứng ra sao! Nghĩ như thế nhưng anh lại lên tiếng,

- Ông trùm đã không để ý. Lúc nãy cha đã nói rồi và cũng cho rằng có thể không có lợi cho chúng ta bởi giải thích cũng không đem lại lợi ích gì, nhưng coi sự giải thích như một sự thách đố nhận thức của mọi người. Có lẽ ông còn nhớ cha nói, “Đức tin là quyền lực tối thượng của Thiên Chúa nơi mình.” Nhưng làm sao nhận biết thì lại cần nghiệm chứng. Nhóm họp của chúng tôi từ hơn tháng trước tới nay đang tìm hiểu về đạo học Đông Phương do bác Tài hướng dẫn. Nay đến phần Phúc Âm, bác Tài mời cha về giúp chúng tôi, và đây là lần đầu tiên chúng tôi được hội thoại với ngài. Ông cũng lần đầu tiên tham dự với nhóm của chúng tôi. Thực ra, như ông thấy, chúng tôi đặt vấn đề về bất cứ sự việc hoặc sự kiện nào để bàn luận. Tất nhiên, nhiều vấn đề thực tại tưởng rằng vậy nhưng không phải vậy, và cũng nhiều vấn đề thấy đó, nhưng không thể nói ra mà phải từ từ nghiệm chứng, hoặc chỉ có thể nói theo lối ám định. Qua kinh nghiệm và thực tại chứng minh, mỗi sự việc hoặc sự kiện ẩn chứa bên trong nhiều nguyên nhân, và lý do hay nguyên nhân của chúng không thể phiếm diện nhận định một cách ngây thơ hay giải thích nông nổi. Không có bất cứ gì “Free” như người Mỹ thường nói. Mọi sự cần được tìm hiểu và nhận thức một cách ý thức; bởi lắm thứ tốt cho người nhưng lại hại cho mình, hoặc điều gì đó quí giá đối với mình nhưng lại không ra gì đối với người khác. Chắc có lẽ ông không biết công án nơi Lâm Tế Lục, “Gặp Phật giết Phật, gặp pháp bỏ pháp, không tin ai hết, không để ai lừa dụ,” và công án nổi tiếng nơi đất nước Trung Hoa, “Người nói không biết; kẻ biết không nói.” Thực ra, theo tôi thấy, Phúc Âm còn có những câu ngang tàng hơn, và điểm đích cao nhất nơi Phúc Âm lại là đức tin. Ông hỏi đức tin là gì tại sao không nghiệm chứng đức tin là gì theo Phúc Âm mà lại hỏi. Chúng ta đã quen thói lười lĩnh suy tư vì suy tư rất khó bởi nó đòi hỏi kiến thức tối thiểu và sự chuyên tâm mà Phúc Âm gọi là “Hãy tỉnh thức.” Qua sự tìm hiểu riêng tư, tôi nhận ra một sai lầm rất lớn; đó là chúng ta chỉ thích ăn cơm mớm, nuốt vào những gì người khác đã mửa ra và vội chấp nhận như chân lý. Sở dĩ như thế, vì chúng ta e sợ chính khát vọng bẩm sinh nơi mỗi người. Nếu tôi không lầm thì Đạt Ma sư tổ nói, “Chỉ có một tội độc nhất là tội vô minh;” câu này mang ý nghĩa chỉ về sự lười biếng suy tư nơi mỗi người. Con xin lỗi cha và quý anh em đã nói quá nhiều làm mất giờ mọi người. Tóm lại, con muốn nhấn mạnh một điểm, nếu mình không ăn sẽ bị đói; vì không ai có thể ăn dùm cho mình; nghiệm chứng về đức tin cũng vậy.

 
Thế là những tiếng vỗ tay bùng lên. Riêng Thanh, không ngờ mình nói nhiều như thế. Có thể bởi đánh đàn nơi nhà thờ, Thanh không lạ gì các ông trùm, ông trưởng; và cũng vì xưa nay, Thanh không đụng chạm đến ai, và cũng không muốn mất lòng ai, dầu đôi lúc phải đối diện với những điều chướng tai gai mắt, nhưng cũng vì đã tự nhận biết bản thân, nên có sao chăng nữa, họ vẫn còn tốt lành chán, Thanh nghĩ. Vẫn thường nói chuyện với ông trùm Lực, và cũng nhiều lần ăn nhậu với nhau, ông trùm Lực là con người khá bộc trực, ngay thẳng, sùng đạo và rất tôn trọng đấng bậc trong đạo. Sỡ dĩ Thanh nói lên những điều quá căn bản về thực hành nghiệm chứng cũng vì không bị e ngại mất lòng; bởi ông trùm Lực tương đối là con người biết điều. Thanh cũng hiểu thực trạng chung của những người theo đạo; miệng nói là tin, nhưng khi hỏi tin gì, tin thế nào thì lại chẳng biết mình tin ra sao, nhưng nếu nghe thấy điều gì không quen nghe đã vội sợ bị lộ tẩy mù mờ về đức tin của mình, nên nhẩy quay lên muốn đè người ta xuống hầu che lấp nỗi bối rối hằng luôn đe dọa tâm tư. Đàng này cha Hải lại trả lời là không thể nói được. Ngài chỉ nói nửa câu, khiến ông trùm Lực sảng lên.

- Cảm ơn anh Thanh đã nói dùm nên tôi không phải trả lời. Anh em biết, bất cứ câu trả lời nào cũng không thể hoàn hảo vì ngữ bất tận ngôn, và ngôn bất tận ý. Nếu chỉ trả lời theo kinh viện, thiển nghĩ, tôi không nên nói chuyện với anh em; vì anh em có thể lên “Net,” hay mua sách về đọc bất cứ lúc nào. Nhưng net cũng như sách, không thể giúp anh em được gì; vì sách không chỉ được phương cách cũng như không thể thách đố tâm tưởng anh em thực hành nghiệm chứng; dẫu lòng khao khát nơi anh em luôn thúc đẩy, và tâm tưởng anh em hoạt động không ngơi nghỉ. Nếu tôi không lầm, nói chuyện với anh Thanh mấy ngày qua, hình như anh đọc khá nhiều về đạo học Đông Phương, anh cũng chịu khó tìm tòi; chẳng những thế, anh dám thách đố chính mình do dám trực diện tâm tư của anh. Tuy nhiên, qua những sách vở anh đã đọc, có trang sách nào nói về nhận thức định tâm không hay chỉ cổ võ định tâm, hoặc có trang sách nào giải thích câu “Người biết không nói; kẻ nói không biết.” Rất nhiều người bên Trung Hoa, Ấn Độ, Nhật, Đài Loan, Đại Hàn, cả đời họ chỉ nghiệm chứng câu này để rồi cho đến khi chết cũng chẳng ngộ được câu này nói về gì và trong trường hợp nào. Cũng như đại đa số phật tử nghiệm chứng câu “Gặp Phật giết Phật,” nhưng được mấy ai ngộ câu này. Bởi thế, anh em nhớ dùm một điều, tôi tới để thánh đố anh em nghiệm chứng, chứ không có giờ, không có công sức giải thích cho anh em bất cứ gì.

- Cha yên trí, tụi con chịu chơi nên dám chịu chết. Chúng con chịu đựng được vợ con ở nhà thì thách đố với chúng con chỉ tốn thêm rượu bia mà thôi. Cha đừng lo, không có bia uống mới đáng buồn, chứ không ngộ nay thì ngộ mai nào đã chết ai!

- Thưa cha, chúng con nghiện còn được phương chi nghiệm. Nghiện khi lên cơn không có mới phiền; nghiệm chẳng được hôm nay thì nghiệm ngày mai, tháng này không xong thì tháng tới, năm này vẫn như cũ thì sang năm, bác Tài bảo chúng con thế; vậy mà cho tới giờ vẫn mu  mù tì, vẫn như cũ và vẫn chưa sao. Tình đế vô. Nói phải có sách, mách phải có chứng, khi bác Tài kể chuyện thày chùa Hương Nham thoát nhiên ngộ lúc miếng sành đụng vào gốc tre ngân lên một tiếng. Chú Sỹ hỏi sư Hương Nham ngộ thế nào, bác bảo, anh chưa nghiệm chứng đã vội hỏi. Thưa cha, nào có khác chi hỏi đức tin là gì. Ông trùm Lực, mời ông nâng chai, mình ngốn bia xem có ngộ không. Nào, mời ông.

 
Mọi người coi bộ cảm thấy cha Hải dễ thương hơn cụ Tài, dẫu cụ đâu phiền trách gì ai. Có lẽ ngài chịu trận riết rồi thành quen. Không hiểu qua quá trình làm việc ngài có nhận định gì về giáo dân Công giáo, chờ cơ hội hỏi thử xem, Thanh nghĩ. Vừa nuốt xong miếng bia, ông trùm Lực lại lên tiếng,

- Thưa cha, sao nơi nhà thờ, con chưa thấy cha nào nói đến những chuyện này!

- Tôi cũng không bao giờ nói về những chuyện như thế này dẫu làm việc với người Mỹ. Có nhiều người cho rằng người Mỹ ý thức hơn người Việt. Tôi thấy nếu chỉ xét theo cuộc sống nhân sinh, họ đã được sinh ra và được nuôi dưỡng trong văn hóa của họ. Đất nước họ thanh bình và thuở ban đầu lập quốc, họ gốc gác là di dân nên luật pháp và những quan niệm được bày tỏ phải được để ý đến những văn hóa khác biệt để tránh kỳ thị. Dẫu thế, họ cũng mất hơn hai trăm năm mới vào được một ít nề nếp. Người Việt mang nền văn hóa Đông Phương, đặt nặng khuôn phép đại chúng. Điều này có nghĩa, nền luân lý công cộng dẫu thành văn hay bất thành văn luôn là khuôn vàng thước ngọc cho mọi người. Nền luân lý này giúp cho chính quyền dễ bề an định xã hội nhưng cũng phần nào o ép chẳng những nếp sống mà còn ảnh hưởng tâm tư quần chúng. Tuy nhiên, xét theo phương diện tin tưởng hay niềm tin tôn giáo, tôi thấy người Mỹ hay người Việt cũng như nhau, vì cùng được đào tạo theo một khuôn mẫu nhất định; có khác chăng chỉ là ảnh hưởng của hai nền văn hóa; một đàng cởi mở, tôn trọng ý kiến cá nhân, một đàng đã quá quen với tâm tình âm thầm chấp nhận. Bởi đó, thái độ và phong cách của tu sĩ làm việc nơi đất Mỹ sẽ khác với phong cách của giới tu sĩ bên Việt Nam. Nếu để ý, và như tôi đã nói, những vấn đề mà chúng ta đang hội thoại là căn bản cho niềm tin cũng như phương cách thực hành tôn giáo, nhưng do chiều hướng, quan niệm, nói nôm na là lối nhìn về đạo học; tôn giáo đã không thực hành nghiệm chứng đạo học vì một vài lý do có thể được chia làm ba thành phần. Có lẽ, nếu tôi không lầm thì ông bạn tôi đã nói rồi; tôi chỉ nhắc lại. Dân chúng, giáo dân, hay tín đồ, được tạm chia làm ba thành phần, một số có căn cơ đặc biệt hâm mộ cuộc sống chiêm nghiệm, hoặc dẫu sống giữa đời, nhưng tâm hồn rất tách biệt để chìm sâu vào chiêm nghiệm. Giới chiêm nghiệm này để lại những kinh sách mà chúng ta gọi chung là đạo học. Giới khác, dùng sự thông minh kèm theo học thức và lý luận để thỏa mãn lòng khát vọng bẩm sinh. Phương pháp này ngộ nhanh nhất mà nhà Phật gọi là minh triết. Riêng đại đa số quần chúng họp thành từng nhóm bày tỏ lòng khát vọng bẩm sinh qua những phương thức khác nhau tùy thuộc không gian và thời gian được gọi là tôn giáo. Nhận rõ như thế, anh em thấy, dù chiêm nghiệm, minh triết, hay tôn giáo đều là hành trình tâm linh nơi những mực độ tâm hồn khác nhau. Như vậy, chúng ta có ba nhóm căn bản, và những nhóm này bị ảnh hưởng bởi ước muốn truyền bá để có thêm thành viên cùng chí hướng; đồng thời chín người, mười ý, mỗi nhóm lại phát sinh ra những nhánh rẽ, những cấp bậc giống như một cây gồm có ít nhánh to, mỗi nhánh vài cành vừa vừa, mỗi cành vừa vừa mọc thêm dăm nhánh khác, rồi nào lá, nào nụ, nào hoa quả sinh sôi nảy nở theo giòng thời gian không thể nào kể xiết. Tôi tạm nhắc lại khái quát như thế anh em có lẽ nhớ lại; tôi nói nhớ lại, vì cho rằng ông bạn tôi đã giải thích về điểm này; nhiệm vụ của những người rao giảng nơi tôn giáo cần phải như thế nào, cần phải thực hiện những gì, và muốn giúp con người thăng tiến tâm linh thì phải làm sao. Riêng ông trùm Lực, ông đã thỏa mãn với lời giải thích của tôi chưa?

- Thưa cha, nếu cha nói như vậy thì tôn giáo là mặt ngoài của đạo học sao?

- Có thể nói thế đối với người thực sự tìm tòi và nghiệm chứng để thỏa mãn lòng khát vọng bẩm sinh nơi mình. Còn những người khác thì tôi không biết và cũng không muốn biết; bởi muốn biết phải giống như anh Sỹ nói, ngâm kíu; mà cuộc đời tôi đâu còn được mấy năm nữa để ngâm kíu cái chuyện vô bổ, biết cũng được, không biết cũng không sao. Thế nên, nghe ông bạn tôi nói về đây gặp anh em và giúp anh em nghiệm chứng Phúc Âm, tôi mừng hết lớn; bởi theo tôi, đây là cơ hội cho chính mình nghiệm chứng lại những gì mình đã kinh qua. Nếu không có những nghịch kiến, tất cả những gì mình cho rằng đã thức ngộ đều chỉ là mường tưởng, mộng du, giống như dân gian thường nói, “Vừa đá bóng, vừa thổi còi.” Tôi nói thế nghe được không anh Thanh?

- Thưa cha, con đồng ý, bởi nhiều lần, mới tối nay cảm thấy đắc ý với nhận thức nào đó, đến sáng mai đã thấy nó sai toẹt. Ấy là chính mình vừa đá bóng vừa thổi còi, chứ nếu phải đối diện với nghịch kiến thì có lẽ thay vì nghiệm coi chừng chỉ nên nghiện bia rượu. Thanh trả lời.

- Chú nói sao, mới đúng tối nay, sáng mai đã thấy sai? Ông Thung hỏi.

- Thưa anh, ai không thấy mình như một phụ nữ toàn diện, có thấy mình sai bao giờ đâu!

- Ai nói chúng em tự cho rằng mình toàn diện hay sao mà anh phải bới móc. Vợ Sỹ đặt vấn đề.

- Tôi nói không đúng sao mà thím phải vội đính chính. Một phụ nữ toàn diện là người sáng diện, trưa diện, và tối cũng diện, bộ oan cho phụ nữ?

- Đấy, mấy chục năm lấy nhau, bu mày lúc nào cũng chê tôi ăn mặc bê bối, đến bây giờ được khen toàn diện lại chối bai bãi. Quả thật, phụ nữ không bao giờ sai lầm. Sỹ nhà con đế vô.

- Đấy, cha, bác, và các anh các chị coi coi. Đúng là làm phúc phải tội. Đi đến đâu thì cũng ăn mặc giống tên ăn mày mà người ta nói lại còn không thèm nghe.

- Bu mày không nhớ lời Chúa dạy sao! Người giầu có khó vào nước thiên đàng hơn con lạc đà chui qua lỗ kim. Ăn mặc thanh lịch chứng tỏ mình khoe khoang giàu có giống như cha giảng ở nhà thờ ấy. Có chị thì ăn diện quá sức, mặc toàn đồ hàng hiệu mắc mỏ, mà nào có hay ho gì cho cam. Càng đồ hàng hiệu, càng vải tốt, thợ may càng bớt xén nên phơi ra hết, mất cả vẻ thẩm mỹ. Sỹ lên giọng giống như cha giảng khiến cha Hải cũng phải cười.

- Vậy đã ai nghiệm chứng được câu Phúc Âm chưa?

- Thưa cha câu nào?

- Thì anh Sỹ vừa nói đó, người giầu có khó vào nước thiên đàng hơn con lạc đà chui qua lỗ kim. Hai ông trùm, anh Sỹ giảng có giống cha giảng không?

- Thưa cha đúng đó ạ, còn hay hơn cha giảng chút xíu vì ở nhà thờ thì cha phán, ở đây chú Sỹ mới là giảng.

- Tôi hỏi lại, đã ai bao giờ suy nghĩ và đặt vấn đề về câu Phúc Âm này chưa?

- Thưa cha, ông trùm Canh lên tiếng, cứ theo như lời các cha giảng, thì phải tham lam tiền bạc mới giàu được, hoặc phải lừa đảo, ăn gian nói dối mới giàu được, hay là giống như những người phú hộ, chặn hầu bóp cổ, cho vay nặng lãi mới giầu được. Rồi thì giầu có, thừa tiền thừa bạc sinh tật ra, bê tha cờ bạc, hút sách; tiền đẻ ra tiền, nên có tiền thành ra nhàn hạ mà vẫn có thêm tiền để rồi nhàn cư vi bất thiện. Thưa cha quanh đi quẩn lại như thế, nên người giầu có đáng bị quở trách.

- Vậy những người giầu có đem tiền của làm phúc, giúp đỡ người nghèo túng, thiếu ăn, thiếu mặc, thiếu thuốc men thì sao.

- Thưa cha, những người giầu có, tốt lành thì được chúc phúc nên đâu cần phải nói đến.

- Thế tại sao Tục Ngữ mình có câu, “Số khó làm chẳng nên giầu,” và Ca Dao cũng có câu, “Làm quan có mả, làm kẻ cả có giòng?”

- Thưa cha, Phúc Âm đâu có nhắc đến Tục Ngữ, Ca Dao! Bá nói.

- Theo anh quan niệm, thế nào là nghiệm, và thế nào là chứng?

- Xin cảm ơn cha, con hiểu cha muốn nói gì!

Một vài người nhìn Bá, chẳng hiểu tại sao hắn nói như thế, nhưng không ai lên tiếng.

- Anh Thanh, anh có ý kiến gì chăng?

- Thưa cha, nếu con không lầm thì có thể nói, người nào được sinh ra để giầu có thì mới có thể giầu có được. Con có biết một vài người. Gia đình tốt lành, con cái đuề huề, ngoan ngoãn. Thế mà, cứ chăm chăm chú chú làm ăn chắt bóp một đôi năm để dành được ít tiền, có lần định bụng mua chiếc xe máy mới bởi chiếc đang chạy rã quá rồi, thì đùng một cái; bà vợ đau vô nhà thương, thế là trắng tay! Lần khác cách vài năm sau, để dành được ít tiền, lại thằng con đụng xe gãy chân và cũng sạch bách. Có điều hơi lạ, con thấy Phúc Âm vơ đũa cả nắm, như vậy đâu có được. Đã nhiều lần con đặt hết lý do này, lẽ trừ kia đến nỗi chính con phải vô thư viện lục lọi đọc tìm hiểu ý nghĩa “Lỗ kim” là thế nào. Có lần đi chơi được nghe một vị linh mục dòng Tên giảng rằng “Lỗ Kim” là tiếng lóng thời đó gọi cái cổng nhỏ nơi một góc hàng rào của thành thánh Jerusalem. Vì nó hẹp nên muốn cho lạc đà đi qua phải rỡ hết hàng quà trên lưng. Thế nên, chúng ta phải từ bỏ sự giàu có của mình mới theo Chúa Giêsu được. Rồi nào Chúa dạy các môn đồ không mang hai áo, không vàng bạc, người ta cho gì ăn nấy. Con thấy, suy luận để rồi nhận định như thế quá o ép đối với Lời Chúa; bắt Lời Chúa phải uốn theo ý riêng mình. Con lý luận, cho dù lỗ kim may vá hoặc cổng nhỏ nơi đền thờ Jerusalem thì Phúc Âm đã ghi, con lạc đà không chui lọt qua được thì phải giữ cho đúng thực trạng này. Và nếu đã như thế thì câu nói Phúc Âm chắc chắn phải ám định điều gì đó mà mình chưa nhận ra; bởi vì nếu hiểu theo nghĩa từ chương, câu Phúc Âm này có nghĩa xúi gìục những người có tiền của nên vui thú với cuộc sống hoang đàng vì lối nào cũng đã bị kết án muôn đời, chẳng có chút hy vọng nào nữa đâu. Nghĩ như thế, con cảm thấy nguy hiểm quá; may mà con chưa đọc được những bài bình luận chống đối nào dùng câu này làm căn bản đánh phá Kytô giáo. Giã sử nếu có, con không biết phải nghĩ sao. Thêm nữa, cũng theo nghĩa từ chương thì những người nghèo còn lo kiếm miếng cơm, manh áo, làm sao có tiền để cho nhà thờ, và nếu bụng đói có lết đến nhà thờ được không! Vậy thì ở mức độ nào được gọi là giầu có, thế nào thì nghèo đến nỗi đáng được hưởng nước trời? Đàng khác nếu xét giầu hay nghèo về đường tri thức, học vấn, hoặc kiến thức thì sẽ phải giải quyết cách nào? Phỏng đây có phải là đường lối chính trị cổ xưa đã thâm nhập vào Phúc Âm do chính sách ngu dân để trị? Và khi chợt nhận ra hàng giáo phẩm hoặc những nhà thuyết giáo phải được học hành đến nơi đến chốn thì sao! Nhìn vào thực tại, sao người ta cứ phải xây những nhà thờ nguy nga lộng lẫy giữa đám dân chúng khố rách áo ôm, gượng sống nơi một xã hội khó khăn đến độ hầu như không còn không khí sạch để thở? Bao lâu nay con cứ luẩn quẩn giữa Lời Chúa một chiều và thực tại nhân sinh mà đành bó tay hầu như thối chí, nên đành lờ đi bởi không cách nào giải quyết được.

- Ai có tình tiết gì thêm về suy tư câu Phúc Âm coi bộ như nghịch lý này nữa không?

Vẫn không thấy ai trả lời, cha Hải nói,

- Bây giờ, tôi kể chuyện của chính tôi khi phải đối diện với câu Phúc Âm này. Anh em để ý, mục đích tôi kể để anh em nhận định thêm về phương cách nhận thức sau này. Số là chiều thứ bẩy hôm ấy, lúc 5 giờ chiều tôi phải dâng lễ chủ nhật 28 B mùa thường niên với bài Phúc Âm trích từ Marcô đoạn 10 từ câu 17 đến câu 30 chứa đựng câu 23 nói rằng, “Những người giầu có khó vào được nước Thiên Chúa biết bao,” và câu 25 được viết, “Lạc đà qua lỗ kim còn dễ hơn là người giàu có vào được Nước Thiên Chúa” (Mc. 10:23-25). Nếu tôi không lầm, nơi cuốn Kinh Thánh bản dịch do linh mục Nguyễn Thế Thuấn dòng Chúa Cứu Thế lại dịch câu 23 là, “Những người có của khó vào được Nước Thiên Chúa biết bao.” Anh em thấy chút khác biệt giữa hai tiếng “Có của” và “Giầu có.” Có của, mang ý hữu vi; giầu có, mang nghĩa bao quát hơn. Tôi đọc bản tiếng Anh, họ dùng chữ “The rich” và “Rich man.” Ngay sau khi soạn xong bài giảng tuần trước, tôi đã đọc bài Phúc Âm này để có một tuần suy nghĩ cho bài giảng tuần tới. Thêm vào đó, hàng năm, tôi tốn tiền mua báo có đăng những bài giảng được soạn sẵn; tôi mua hai tờ báo, The Priest và Columbus. Riêng những sách bài giảng, tôi mua khá nhiều, ba bốn cuốn dầy vì họ soạn chung cho Thệ Phản, Anh giáo, Tin Lành, và Công giáo, vì những giáo phái này dùng chung Phúc Âm. Sau mấy ngày suy nghĩ, tôi đọc lướt qua tất cả những bài giảng viết về bài Phúc Âm này, nhưng không chấp nhận được bài nào. Mãi cho tới sáng thứ bẩy, sau khi cà phê cà pháo, tôi bước vô nhà thờ lúc 9 giờ. Dĩ nhiên, như mọi người biết, ngoại trừ những đình đám nếu có, sáng thứ bẩy nhà thờ không có ai. Tôi cảm thấy thật nản! Ngồi xuống băng ghế cuối nhà thờ, tôi cầu nguyện lớn tiếng: Lạy Chúa, Chúa muốn con nói gì với dân của Ngài về bài Phúc Âm. Nếu con giảng theo nghĩa từ chương, người ta bỏ không đi nhà thờ nữa; con thất nghiệp và coi chừng bị kết án rối đạo, nhưng không biết cách nào, không biết giải thích sao cho hợp lý, hợp tình. Chúa thực sự muốn gì? Và tôi ngồi đó, tâm trí bối rối với niềm khát vọng nhận thức Lời Chúa cỡ nửa tiếng.

 
Tâm tình tôi lúc đó thật là nản vì không biết phải xoay xở ra sao. Thà rằng tôi chấp nhận cuộc đời linh mục giống như một ông quan, làm việc để sinh sống cho qua ngày đoạn tháng thì không sao, nhưng tôi lại luôn tâm niệm cuộc đời là cơ hội cho mình thăng tiến tâm linh. Có lẽ cũng bởi tại tôi đã bị ảnh hưởng quá nhiều do đạo học Đông Phương mà ông bạn già của tôi đây xúi dại tôi bước vô nên mới phiền. Thêm vào đó, tôi là linh mục Công giáo nên có bổn phận phải rao giảng Phúc Âm, do đó không chấp nhận giảng giải cho qua rồi cứ nương nương mà sống như bao người khác. Thực ra, nhiều lần tôi có cảm nghĩ tự ôm rơm cho rặm bụng; biết bao linh mục Công giáo từ xưa tới nay đã giảng giải Phúc Âm theo nghĩa từ chương nào có chết ai đâu, có bị ai lên tiếng phiền hà bao giờ. Nhưng tôi không thể sống như thế, tôi không thể coi thường Lời Chúa cũng như coi thường lòng khát khao nhận biết về Phúc Âm của giáo dân. Hơn nữa như anh em biết, nếu xét theo phương diện học thức thì linh mục mới học tới “Master,” tiếng Việt gọi là cao học, trong khi giáo dân đang nghe có những người là luật sư, bác sĩ, kỹ sư. So về học thức, cao học chỉ đáng học trò của tiến sĩ. Họ không nói gì vì niềm tin của họ chứ chắc chắn họ không coi bằng cấp của linh mục là gì cả. Nói làm sao đây? Giảng thế nào? Tôi ngồi đó tâm trí quay cuồng với nỗi hối thúc tâm tư.

 
Cuối cùng, với tâm trạng mông lung sau cỡ nửa tiếng, tôi quyết định về phòng lấy bải giảng ngắn gọn nơi cuốn 5 Minute Homilies, do đức ông Authur Tone biên soạn, copy ra và đọc cho giáo dân nghe cho qua. Bí rồi! Vừa bước tới cửa nhà thờ, không hiểu sao tâm trí tôi chợt nhớ đến câu Phúc Âm, “Gia tài của ngươi ở đâu thì lòng dạ ngươi ở đó” (Lc. 12:34). Tôi tự hỏi, lòng dạ, tâm trí mình hiện đang ở đâu! Và chợt nhận ra tâm trí tôi không ở nơi gia tài mà đang bị luẩn quẩn vì câu Phúc Âm. Anh em cũng nhận thấy, tôi ăn mặc xuề xòa bình thường vì tiền lương được bao nhiêu đem mua đất đai hoặc nhà cửa may ra sau này có thêm chút lợi lộc đỡ đần mình trong lúc tuổi già; bởi khi về già, khi mà mình không thể làm việc, không thể tự giúp chính mình thì phải cần tiền thuê người giúp. Đây cũng là lý do tại sao đã mấy lần ông bạn già tôi nói về miền Nam cho ấm áp, nhưng còn mấy miếng đất bán chưa được sao có tiền về đây mua sắm nhà ở.

 

Vào thời đó tôi đã có một vài miếng đất nhỏ, hai tiệm tạp hóa, và một căn nhà cho thuê, lại có được chiếc xe Camry V6 mới mua, thêm ít tiền ở nhà băng, nhưng tôi không nghĩ gì đến chúng mà còn đang phải vật lộn với câu Phúc Âm. Từ nhận thức sự thể này, tôi chợt cảm thấy hình như có điều gì khác thường nơi ngôn từ của câu Phúc Âm, và đặt vấn đề lại, tôi thấy phải nói rằng, “Ước muốn của ngươi ở đâu thì lòng dạ của ngươi ở đó” mới hợp lý, hợp tình. Dĩ nhiên, chúng ta đều nhận biết, qua sự sử dụng theo địa phương, ngôn từ thay đổi ý nghĩa sau thời gian dài là chuyện thường. Xét câu “Gia tài của ngươi ở đâu thì lòng dạ của ngươi ở đó” không hợp lý chút nào, nhưng tự nhận định, “Ước muốn của ngươi ở đâu thì lòng dạ của ngươi ở đó” đúng vào mọi trường hợp và mọi thời đại. Thế rồi cũng trong lúc ấy, tôi tự nhủ, có thể câu nói “Người giầu có khó vào nước Thiên Chúa hơn con lạc đà chui qua lỗ kim” mang ý nghĩa nào khác tiềm ẩn nơi ngôn từ chăng. Tôi thử lấy ý của câu “Ước muốn của ngươi ở đâu,” ráp vô câu giầu có và lạc đà thì chợt ngỡ ngàng bởi câu đó trở thành, “Người ước muốn giầu có thì khó vào Nước Thiên Chúa hơn con lạc đà chui qua lỗ kim; vì ước muốn của ngươi ở đâu thì lòng dạ của ngươi ở đó.” Ý nghĩa của câu mới này thật tuyệt vời, đúng trong mọi trường hợp và đồng thời mang ẩn ý nói lên giá trị cũng như quyền lực ở ước muốn, ý định nơi con người. Hơn nữa, câu này bổ xung ý nghĩa, nói cách khác, minh xác rằng ý định, ước mơ mang quyền lực của Thiên Chúa nơi mình; vì ý định, ước muốn chính là hoạt động của linh hồn, Thiên Chúa nội tại. Đến đây, chấm dứt nỗi xốn xang nơi tâm trí tôi về câu “Người giầu có khó vào Nước Thiên Chúa hơn con lạc đà chui qua lỗ kim.” Ai hiểu sao thì hiểu, ai nghiệm được gì thì nghiệm.

 
- Thưa cha, như vậy câu Phúc Âm này có thể cũng được viết theo kiểu câu công án nơi Lão học, “Người biết không nói…,” Tình hỏi.

- Đấy là tự anh nhận thức, anh có thể lục lọi bất cứ nơi sách vở nào hoặc trên net, chưa một ai đưa lên nhận xét như thế.

- Thế thì ngộ dzồi, Sỹ nhà con lên tiếng, tặng cho chú mày danh hiệu thiền sư giàu có.

- Thưa cha, còn một câu nữa đã bao lâu nay con không giải quyết được. Xin cha giải thích, và đó là câu, “Hãy làm cho người ta những gì các ngươi muốn người ta làm cho các ngươi” (Lc. 6:31). Thanh lên tiếng.

- Sao anh có thể để ý đến mấy câu coi bộ bình thường mà ý nghĩa quá hóc búa nơi Phúc Âm như thế. Anh có biết câu này làm tôi khốn khổ bao nhiêu năm không? Vậy anh suy nghĩ về câu này được bao nhiêu năm rồi?

- Thưa cha, cỡ dăm bẩy năm gì đó, nhưng hình như Thánh Thần Thiên Chúa du hí nơi đâu đó ở các nhà đại gia thành ra con cứ đành phải chịu trận đợi chờ.

- Những dăm, bẩy năm cơ à; anh kiên nhẫn hơn tôi. Vậy anh còn câu nào xếp hàng chờ đợi nữa không?

- Thưa cha, còn một câu nữa nghe hơi kỳ đó là câu, “Phỏng khi Con Người trở lại có còn thấy được lòng tin trên mặt đất nữa không,” và thêm vấn đề “Tinh thần khó nghèo.”

- Với tâm trí ấy, sao anh không đi tu làm linh mục?

- Thưa cha, con muốn làm thiền sư vì thiền sư được cả đàng nọ lẫn đàng kia, được cả mọi sự theo ý thích nơi thế gian này, và chắc chắn được hưởng nước thiên đàng; trong khi đi tu, hoàn toàn mất cuộc sống thế gian mà lại chưa chắc gì được hưởng nước thiên đàng.

Thế là cả đám lại ồn ào giống đàn o­ng mất chúa. Bia lại được mở như e ngại không uống thì tiêu tan cả cuộc đời thế tục. Ai nấy mặt mày hớn hở mang vẻ thõa mãn vì đã nhận được điều gì đó nơi câu chuyện nghiệm chứng câu Phúc Âm do cha Hải kể.

- Tại sao anh nói chắc chắn được hưởng nước thiên đàng? Cha Hải nhẹ cười hỏi.

- Thưa cha, theo lời các cha hay giảng là phải biết yêu thương nhau như Chúa đã yêu thương chúng ta. Như vậy, thưa cha, chẳng gì khó hiểu, trong cuộc đời chúng con có cơ hội thực tập yêu thương ít nhất là một vài người, chẳng hạn, vợ, con, cháu chắt. Con yêu thương vợ và con cái nên nhận thức được yêu thương không phải chỉ là danh hiệu để quảng cáo mà thực sự là một cơ hội với giá mắc mỏ con người phải trả nơi hành trình tâm linh. Nói đến yêu thương như các cha giảng giải làm sao nghiệm được câu, “Không tình yêu nào quí hơn thí mạng sống vì bạn hữu.” Chẳng hạn nói đến anh chị em nào hay ông bà nào gặp điều chẳng may, cha cũng như con, như mọi người, đều cảm thấy chút chút xót xa, thương hại, mà coi chừng còn có người cảm thấy vui là đàng khác. Nhưng, như tụi con, nếu vợ, hoặc chồng, hay con ai đó trong gia đình bị tai nạn, thế là người đó nhảy quay lên, đến nỗi có khi phải bán nhà cửa đi để chạy chữa cho người phối ngẫu hay con cái. Cha thấy đó, chúng con đang chẳng những nghiệm chứng mà còn thực chứng sự yêu thương. Các cha chỉ giảng yêu thương khơi khơi sao có thể vô thiên đàng được; vì không có kinh nghiệm thì cũng chẳng khác gì người chưa bao giờ ăn ớt, nhai phải trái ớt hiểm, vội vàng nhổ ra ngay. Đàng này, chúng con ăn ớt quen rồi, không có ớt lại ăn mất ngon. Cha cứ thử so sánh thiên đàng với trái ớt hiểm sẽ thấy. Thanh luận lý một hơi.

 
Tràng pháo tay vang lên không ngớt cổ võ cho luận lý ngang tàng hữu vi.

- Anh nói cũng có lý nhưng lý hữu vi, thế tục. Tuy nhiên, cũng phải chấp nhận sự suy tư đó hợp lý và hợp tình đối với thực tế kinh nghiệm cuộc đời con người. Còn cái thiên đàng mà anh nói đó, anh đã biết nó thế nào chưa mà dám chắc chắn thích thú đạt tới nó; nó có thể là trái ớt đối với anh, nhưng nó cũng có thể là trái sầu riêng đối với một số người khác thì chẳng lẽ anh vô đó để chịu khổ vì phải nín thở sao. Tôi đề nghị, anh em thử suy tư về thiên đàng trong khi đọc Phúc Âm và lần tới chúng ta hội đàm về nó. Bây giờ mời anh trình bày về những nhận thức liên hệ với câu Phúc Âm, “Hãy làm cho người ta những gì các ngươi muốn người ta làm cho các ngươi.”

- Thưa cha, nơi Phúc Âm Matthêu cũng được ghi đảo lộn thứ tự, “Vậy tất cả những gì anh em muốn người ta làm cho mình, thì chính anh em cũng hãy làm cho người ta” (Mt. 7:12). Con thấy câu Phúc Âm này chỉ trúng được có một nửa. Con muốn nói, phần nửa trước của câu nói, “Các ngươi muốn người ta làm cho các ngươi” thì hoàn toàn ai cũng nhận biết mình đang muốn gì. Tuy nhiên, ai đó có muốn điều con muốn không mới là vấn đề. Chẳng hạn con thích ăn bún bò Huế với thật nhiều tương ớt; người khác không ăn được cay mà mời người ta đến nhà đãi ăn lại cứ bỏ đẫy ớt vô bún bò thì sao họ ăn nổi. Thêm nữa, hình như nơi Khổng học có nói, chẳng nên làm cho người khác những gì mình thích vì cái thích của họ khác mình. Câu này có thể đúng 99 phần trăm. Nhưng, chẳng lẽ lời Phúc Âm lại thua Khổng học. Con chỉ nghĩ tới như thế nên không biết cách nào nghiệm câu Phúc Âm này; anh em nào có ý kiến gì thêm, mời lên tiếng. Thanh muốn kéo thêm đồng đảng.

- Thưa cha, thưa quý vị, Lời Chúa dạy mình phải biết yêu thương như chính Chúa đã yêu thương chúng ta thì mình muốn được người khác yêu thương trước hết phải tỏ ra yêu mến, tử tế với người ta. Người ta là chiếc gương, mình là kẻ soi gương. Mình đối xử với người ta thế nào thì chắc chắn sẽ được đối xử lại như vậy. Ông trùm Hiểu nói.

- Ông nói gì, tôi không muốn ai thực hành yêu thương đối với vợ tôi. Đứa nào yêu thương vợ tôi, tôi sẽ tặng nó một băng đạn năm mươi mốt viên. Sỹ lên tiếng.

- Sao ông có được băng đạn năm mươi mốt viên?

- Thì một băng ráp đạn nhiều lần bao nhiêu chả có.

- Nói có lý, Bá nói lớn. Tên nào mà thực tập yêu thương với vợ tớ cũng lãnh năm mươi hai viên. Ha ha.

- Mấy cái ông này ăn nói lung tung gì thế, vợ Sỹ lên tiếng, đang nói một đàng thì bắt quàng một nẻo.

- Bộ bu mày cũng muốn tớ yêu thương người khác sao? Sỹ đáp lại.

- Thì ông cứ đi mà yêu thương người khác, tôi sẽ trả tiền thuê vú em nữa đó.

- Tớ yêu thương người khác thì được nhưng người khác không được thực tập yêu thương bu mày.

- Dễ thôi, về đóng cái tủ kiếng, mời bà ấy đứng vô trong và khóa nghiến lại. Ai muốn yêu thì yêu, ai muốn thương thì thương; thế là êm chuyện.

- Đóng thêm hộp tiền nữa lấy thu phí, coi chừng chẳng mấy chốc giàu có! Bá đề nghị.

- Sao đầu óc của ông có thiên tài thương mại vậy mà lại làm nghề đánh tôm? Vợ Sỹ nói.

- Thế câu nào mới có thể đúng một trăm phần trăm? Cha Hải giơ tay ra hiệu và hỏi Thanh.

- Thưa cha, có câu nói, “Đừng làm cho kẻ khác những gì mình không muốn kẻ khác làm cho mình,” con thấy câu này hợp lý trong mọi trường hợp.

- Vậy khi cầu nguyện có khi nào chúng ta cầu xin điều chẳng nên xảy đến cho kẻ khác không? Cha Hải hỏi câu lạ lùng.

- Thưa cha, Bá lên tiếng, khi mình cầu nguyện thì cầu những điều tốt lành chứ ai cầu xin những điều mình nghĩ là không nên.

- Thế sao điều mình cầu đã không xảy ra? Tôi muốn nhắc nhở anh em. Sở dĩ mình cầu mà chuyện không xảy ra chỉ vì mình không thực sự muốn điều đó. Có lẽ ông bạn tôi đã nói cho anh em biết năng lực của sự cầu nguyện, và thường thì chúng ta hiểu cầu nguyện là bày tỏ ước muốn ý định của mình. Tuy nhiên, thử nhận xét qua các đạo học, đặc biệt nơi Phúc Âm, sự bày tỏ ý định ước muốn chính là dùng quyền lực tối thượng đang hiện diện và hoạt động nơi mình để thực hiện điều mình muốn. Anh em nên biết, trong Phúc Âm có câu, “Sự gì các ngươi cầm buộc dưới đất thì trên trời cũng cầm buộc; sự gì các ngươi tháo cởi dưới đất thì trên trời cũng tháo cởi.” Câu này nói lên ý định, ước muốn của mỗi người mang năng lực ảnh hưởng đến chính người đó. Hoặc câu khác nơi Phúc Âm, “Kẻ nào bảo núi này xê đi mà nhào xuống biển mà trong lòng không nghi ngại nhưng tin rằng điều mình nói sẽ xảy ra thì sự sẽ thành cho nó.” Nói rằng “Kẻ nào” có nghĩa bất cứ ai. “Bảo núi xê đi” có nghĩa bày tỏ ước muốn, ý định ngọn núi phải di rời đi chỗ khác. Quyền lực nào nơi ý muốn của một người? Xin thưa, thánh Phao lô đã minh xác, “Anh em không biết sao, thân xác anh em là đền thờ của Thiên Chúa, và Thần Khí Thiên Chúa ngự trong anh em.” Ý định, ước muốn mang quyền lực, năng lực tối thượng nơi người đó, chính là quyền lực của Thiên Chúa. Thế nên, đã có câu nói, “Muốn là đã được một nửa.” Lẽ tất nhiên, thực sự ước muốn phát xuất tự đâu thì thành quả sẽ xảy đến nơi đó. Khi mình thực sự mong muốn, ước muốn điều gì thì điều đó sẽ xảy đến với mình; vì mình dùng quyền lực tối thượng nơi mình để kiến tạo. Tôi có câu hỏi, khi mình ước muốn điều gì đó xảy đến với ai đó, sự thể sẽ thế nào?

- Thưa cha, mình ước muốn thì sự thể sẽ xảy đến với mình. Thanh trả lời.

- Thế khi bực mình với ai đó, mình có ước muốn chẳng nên xảy đến với người đó thì ước muốn của mình sẽ xảy đến với ai?

- Thưa cha, Tình lên tiếng, chẳng lẽ nơi mình.

- Anh nói đúng. Bất cứ ước muốn nào cũng xảy đến với chủ thể phát xuất ước muốn đó. Thế nên, khi bực mình với bất cứ ai, coi chừng, lúc đó ý chí, ước muốn chúng ta rất mạnh. Nên khi có ước muốn chẳng nên đối với người nào đó, hãy chuẩn bị đón nhận nó sẽ xảy đến với chính mình.

- Thưa cha, ý cha muốn nói câu Phúc Âm, “Hãy làm cho người ta những gì các ngươi muốn người ta làm cho các ngươi” chỉ về quyền lực ước muốn, ý định của một người.

- Đúng. Chúng ta có thể nói, bất cứ những gì chúng ta ước muốn xảy đến với người khác, sự đó sẽ xảy đến với chúng ta, vì chúng ta tạo nên ước muốn đó; chính chúng ta dùng quyền lực tối thượng nơi mình để kiến tạo nên điều ước muốn. Anh em thử nhớ lại, bất cứ đạo học nào cũng chỉ nói về chủ thể, không nói đến bất cứ ai khác. Thế nên, hãy coi chừng ý nghĩ, ước muốn, ý định của mình. Chuyện gì tôi không biết, chứ điều chẳng nên chắc chắn cầu được, ước thấy. Anh Thanh, cha Hải hướng về Thanh nói, mời anh trình bày những suy tư của anh về câu, “Phỏng khi Con Người trở lại có còn thấy lòng tin trên mặt đất nữa chăng” (Lc. 18:8).

- Thưa cha, con thử phân tích thành hai trường hợp, phỏng khi đó là ngày tận cùng nên mọi người đều biết rõ sự gì đang xảy ra; thế nên không cần nói đến câu này. Trường hợp thứ hai có thể là các bè phái tin vào Đức Kytô không còn nữa vì chẳng ai nhắc đến thành ra không có ai tin; cũng có thể người ta đã không biết đức tin, lòng tin là gì. Sở dĩ con đặt vấn đề như thế bởi không thấy bất cứ nơi sách vở nào đá động đến câu này, mà hình như nó bị lờ đi cho khỏi phải đối diện để được an lòng. Càng những người hô hào tin vào Chúa, vào đức Giêsu thì lại càng phải lờ đi vì câu này mang tính cách đặt vấn đề sự sống còn của một sự thể được gọi là lòng tin, đức tin, mà lời nghi ngờ này lại được phát xuất từ Chúa Giêsu thì những sự hô hào, quảng bá cho lòng tin sẽ ra sao!

- Đức tin là điểm cao nhất mà Phúc Âm muốn nhấn mạnh. Tuy nhiên, với lối trình bày khuyến khích nghiệm chứng của Đông Phương, chúng ta cần nhiều suy tư, nghiệm chứng qua bốn Phúc Âm. Chẳng những thế, suy nghiệm về đức tin còn cần nhận thức nhiều quan điểm liên hệ đồng thời còn cần thêm điều kiện tâm trí được Phúc Âm đề ra mà người suy nghiệm phải tuân theo. Chẳng hạn, Phúc Âm được cấu tạo bởi những dụ ngôn liên kết với những công án. Tôi nghĩ anh em đã biết công án là gì vì đã nghe biết về đạo học Đông Phương. Riêng dụ ngôn cũng giống như ngụ ngôn, là những câu truyện ám định, dùng sự kiện và sự việc thế tục để ám chỉ điều muốn nói. Như vậy anh em đả hiểu tại sao chúng ta cần biết qua Trang Tử trước khi bàn luận về Phúc Âm.

- Tối nay, tôi định cùng với anh em thông qua phần nhận thức về thực thể con người của mình, nhận thức về Thiên Chúa qua quan điểm Phúc Âm, nhưng thời giờ đã muộn nên chúng ta tạm đình lại cho lần họp tới. Nhân tiện, tôi đề nghị anh em đọc trước bốn Phúc Âm, Matthêu, Luca, Marcô, và Gioan, để lần tới khi bàn luận ít nhất có được khái quát chúng ta đang nghiệm chứng dưới quan điểm nào, tránh cảnh ngỡ ngàng tưởng phải đối diện với những sự thể tự trời rơi xuống. Chúng ta tạm ngừng lúc này và cầu chúc anh chị em những ngày an bình sắp tới.

- Thưa cha, ông Thung lên tiếng, có thể kiếm mấy cuốn Phúc Âm tại đâu vì tôi không có?

- Ngày mai, tôi biếu anh hai một cuốn Kinh Thánh và sẽ chỉ rõ Phúc Âm thuộc phần nào trong đó. Thanh nói.

- Tôi không có thì sao, Hưng, Phủ giơ tay.

- Tôi sẽ lo. Còn ai muốn đọc Phúc Âm mà không có sách?

- Thưa cha, thế còn vấn đề “Tinh thần nghèo khó” mà người giàu có như anh Thanh gặp phiền hà. Chị Sỹ khúc mắc. Thực ra, chị lên tiếng hỏi về tinh thần nghèo khó vì gia đình chị cũng tạm được coi có của ăn, cửa để nên nhiều khi cảm thấy áy náy đã không rộng lượng đủ khi giúp anh em họ hàng còn ở lại VN.

- Anh Thanh có muốn trả lời. Cha Hải hướng về Thanh hỏi.

- Thưa cha, tự câu Phúc Âm, “Phúc cho những kẻ có tinh thần khó nghèo vì Nước Trời là của họ” (Mt. 5:3) đã ám định người thuộc thành phần nào nơi cuộc sống. Nói đến tin thần khó nghèo thì phải là người giầu có, hoặc ít nhất phải có của ăn, của để, hay dư thừa tiền bạc, ăn xài không hết, chẳng biết cất dấu tiền bạc nơi đâu mới cần phải có tinh thần nghèo khó như một phần điều kiện để thăng tiến, nghiệm chứng tâm linh; vì Phúc Âm cũng nói, “Người giầu có khó vào Nước Thiên Chúa hơn con lạc đà chui qua lỗ kim.” Thưa cha, xét về thực tại cuộc sống, chưa chắc có đã hơn không dẫu có câu hát nào đó mà thiên hạ cứ véo von, “Có còn hơn không, có còn hơn không.” Con thử hỏi, nơi cuộc sống, đến mức độ nào thì được gọi là giầu có mới được chúc phúc với tinh thần khó nghèo? Ngược lại, đã chắc gì người nghèo có tinh thần khó nghèo, mà có lẽ mọi người đều ước muốn giàu có thì lấy mực độ nào đo lường để phân định nghèo khó và giầu có về vật chất, tiền bạc, và ngay cả học thức, kiến thức. Con nghe tin tức, có trường hợp bà nào đó nơi Cali, có những 5 cấp bằng tiến sĩ vẫn thường hay đứng nơi khu vực buôn bán người Việt xin tiền; hoặc vùng St. Hosê, gia đình lương năm những 115 ngàn đô mà vẫn được coi là nghèo. Nếu nói rằng người nghèo sẵn có tinh thần nghèo khó, coi chừng bé cái lầm to; bởi thiếu gì những người nghèo tiêu xài đến độ vung tay quá trán, nào “I phone,” xe xịn, quần áo hàng hiệu v.v… trong khi có thấy đa số người tương đối khấm khá lại xài thứ phone cùi bắp, cổ hủ. Hơn nữa, đọc nơi Cựu Ước, chỉ những người tuân giữ luật Chúa nên được chúc phúc chứ không thấy nói gì đến tinh thần nghèo khó. Đạỉ khái, thưa cha, tinh thần nghèo khó là thế nào, điều kiện cũng như mức độ nào và phải áp dụng vào cuộc sống ra sao nơi hành trình nghiệm chứng Phúc Âm. Thưa con xin hết.

- Có ai ý kiến chi nữa không. Cha Hải lên tiếng.

- Thưa, Sỹ nhà con tửng tửng, chúng con luôn luôn thấy thiếu thốn vừa vật chất, lẫn tinh thần nên luôn có tinh thần của kẻ khó nghèo, đâu cần mơ ước nghèo khó.

- Mẹ Sỹ, bố Sỹ nói đúng không?

- Thưa cha, đúng đấy ạ. Ăn mặc thì như kẻ ăn mày nên nhà con thừa thãi tinh thần nghèo khó ạ.

- Thưa cha, Sỹ nhà con đế vô, con vừa nghiệm chứng, vừa thực chứng, thêm thực hành, áp dụng tinh thần nghèo khó, sống đúng Lời Chúa, mà còn cứ bị chê bai, coi thường. Quả là đàn bà không bao giờ sai.

- Anh Thanh, anh bị phiền hà với danh hiệu “Tinh thần nghèo khó,” có lẽ bởi cảm thấy mình giầu có chăng?

- Thưa cha, con gặp phiền hà vì thấy câu Phúc Âm nói điều không tưởng, không thể nào áp dụng vào thực tại cuộc sống khiến lòng xốn xang. Nhận định cuộc sống theo nhân gian thường nói, “Trông lên mình không bằng ai, trông xuống chẳng ai bằng mình,” con nghĩ, đã được sinh sống nơi đất nước này, nếu so sánh với cuộc sống của biết bao người bên Việt Nam, bên Tàu, nói chung, cả vùng Đông Á, tất nhiên cả là một sự may mắn, được chúc phúc. Nhưng đặt vấn đề về tinh thần khó nghèo, hình như là điều không tưởng; thế sao Phúc Âm lại nêu lên.

- Thế đã bao lâu rồi anh bị phiền hà vì câu Phúc Âm này?

- Thưa cha, cỡ hơn kém ba năm.

- Những ba năm cơ à! Tôi đoán không lầm thì anh không thể giải quyết ý nghĩa câu này nếu chỉ tìm kiếm nơi thư viện hoặc nơi các bản dịch Kinh Thánh tiếng Mỹ hoặc tiếng Việt bởi chính những dịch giả đã dịch giả.

- Thưa cha, Sỹ nhà con nhanh miệng.

- Anh nghĩ tôi nói lặp hay sao.

- Thưa cha,

- Thưa bẩm gì, làm ơn nghe. Bá chặn Sỹ.

- Tôi nói những dịch giả đã dịch giả chứ không dịch thiệt. Anh Sỹ còn thắc mắc gì nữa không. Tôi không ngờ về đây ít bữa lại là cơ hội cho tôi thực chứng điều tạm gọi là hoạt động củaThần Khí, nói cách khác, có lẽ, năng lực tâm linh vẫn đang triển nở thay vì than phiền như ai đó thường kêu lên “Thời mạt pháp.” Nói cho đúng, coi chừng chính lời nhà rao giảng môn phái nọ, đạo giáo kia, kết án lại trở thành công cụ thách đố nhận thức đối với con người. Ngược lại, những ai tự cho mình nắm bắt được chân lý, và chỉ cho rằng điều mình nhận biết hoặc tin tưởng là chân lý, coi chừng trở thành kẻ ngăn cản sự thăng tiến nhận thức của người khác. Tôi cũng chân thành cảm ơn quý anh chị đã nêu lên những câu hỏi coi bộ quá đơn sơ, nhưng thách đố tâm trí đặt lại nhận thức; khiến tâm trí con người không bị ngủ quên thực trạng tâm linh, luôn đòi hỏi con người lúc nào cũng cần tỉnh thức. Chính lúc này, tôi cảm thấy cũng phải cảm ơn quý anh chị em một lần nữa vì đã khơi dậy nơi tôi cảm nhận sâu xa hơn điều mà Phúc Âm khuyến khích, “Hãy tỉnh thức và cầu nguyện.” Cầu nguyện theo tôi nghĩ, lại mang thêm ý nghĩa khác; nó có nghĩa nghiệm chứng, hoặc đặt lại vấn đề nhận thức. Thế nên, không lạ gì Phúc Âm có câu, “Khốn cho các ngươi, biệt phái và ký lục, các ngươi cất đi chìa khóa mở đàng hiểu biết; các ngươi không vào đã rồi mà những kẻ muốn vào, các ngươi lại ngăn cản.”

- Riêng danh hiệu “Tinh thần khó nghèo,” danh hiệu này đã làm tâm trí tôi thao thức suốt một năm nhà tập. Nói như thế cũng không đúng, mà thêm một vài danh hiệu khác chẳng hạn “Sống đơn giản,” và sau này, “Đại diện đức Kytô,” cũng làm tôi tốn nhiều suy nghĩ sao cho hợp lý hợp tình.

- Sở dĩ tôi nói dịch giả, dịch giả, vì mãi sau này, hình như vào năm 1990, khi đang làm phó nơi một giáo xứ có trường tiểu học, bởi khó thể chấp nhận những bài giảng Phúc Âm nơi những sách hoặc bài giảng được viết sẵn, và nghe hoặc đọc đâu đó về bộ The Anchor Bible mới được xuất bản trước đó ít năm. Tôi phải nhờ văn phòng nhà trường đặt mua dùm vì nếu cá nhân mua, phải trả tới 1900 đồng, nhưng vào năm đó, một vài cuốn diễn giải về sách nơi Cựu Ước vẫn chưa in xong. Câu Phúc Âm tiếng Việt, “Phúc cho những kẻ có tinh thần khó nghèo vì Nước Trời là của họ” (Mt. 5:3), nơi cuốn Matthew của bộ The Anchor Bible do W. F. Albright và C. S. Mann biên soạn, được in năm 1987, theo tiếng Anh được dịch, “Fortunate are the humble in spirit, for theirs is the Kingdom of heaven.” Dịch giả giải thích, chữ “Fortunate” thường được dùng nơi ngôn từ Hy Lạp thời cổ chỉ về trạng thái đối nghịch giữa thần thánh và con người. Nơi tiếng Anh được đổi thành “Bless;” vì chữ này càng ngày càng được thông dụng trong ngôn từ nghi lễ. “Humble in spirit” chỉ về những người có cuộc sống chân chính (uprightness) hoặc hoàn hảo (perfection).

- Thưa cha, Thanh giơ tay, lên tiếng; xin cảm ơn cha, có thế mới hợp lý, hợp tình, và mới có thể áp dụng nơi cuộc sống.

- Thế theo anh thì nên hiểu ra sao?

- Con nhận thấy câu này nên được dịch là “Phúc cho những người sống công chính vì Nước Trời thuộc về họ,” nhưng nói như thế lại bị phiền hà với câu, “Phúc cho những kẻ khao khát công chính.” Có thể dịch giả dịch theo nghĩa đen từ thành ngữ, “Poor in spirit.” Thành ngữ này có nghĩa đơn sơ, chất phác. Nói theo ngôn ngữ Hy lạp, câu này nên được dịch là, “May mắn thay người có tâm hồn đơn sơ, chất phác.”

- Đặt vấn đề như vậy, có lẽ chúng ta nhận rõ thêm giá trị của nghiệm chứng, và chỉ nghiệm chứng mới có thể thăng tiến nhận thức. Thiển nghĩ, bởi có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến từng câu nói nơi đạo học tùy thời gian và địa điểm cũng như văn hóa nên nếu thiếu kiến thức, lại không nghiệm chứng, không đặt vấn đề mà chỉ đón nhận theo nghĩa từ chương, chúng ta khó thể nào thỏa mãn nỗi khát vọng tâm linh bẩm sinh của mỗi người. Cũng đã quá muộn, chúng ta cũng nên nghỉ ngơi, lấy sức làm việc ngày mai. Chúc quý anh chị một đêm an lành.

 

*  *  *

 

Thay vì họp tại nhà Tùy, tối hôm nay mọi người quy tụ tại nhà Thanh; bởi hôm qua, nhân kỷ niệm Thanksgiving mấy đứa nhỏ được nghỉ học; nên cha Hải cùng gia đình Thanh làm một chuyến câu bắt cá để dành ăn trong mùa lạnh. Cha Hải vui lắm; ngài câu được 9 con cá tương đối lớn từ 7 pounds tới 20 pounds. Số cá mọi người câu được đầy bốn thùng đá, mỗi thùng cỡ 100 pounds.

- Bố à, hay tối mai mình mời nhóm nhậu tại nhà mình ăn gỏi, lòng cá xào hành tây, thêm nồi đầu cá nấu lẫu ăn bún. Bố nghĩ có nên không?

- Ý kiến hay, cũng nhân tiện tỏ lòng biết ơn đến người dân đất nước này đã chấp nhận cho mình định cư, ba Thanh trả lời, cha nghĩ thế nào?

- Cũng là điều tốt nhưng có phiền lắm không? Cha Hải hỏi ngược lại.

- Không có chi đâu cha, tụi con nhóm họp nhiều lần rồi, mà còn vui nữa. Chị Thanh trả lời, đoạn quay qua anh Thanh nói, mình có nên hát karaoke không anh?

- Karaoke thì dễ rồi, lại có thêm chị Tiên và con gái, hai thợ karaoke, tha hồ xôm tụ. Nhưng em có cho tụi trẻ câu cá không?

- Có chứ anh, lần trước tụi nó vui ra phết. Câu cá ai mà không ham, dù không ăn cá cũng thích thú khi cá cắn câu. Anh phải nhờ mấy người đứng coi cho trẻ câu; những mốc cắm vẫn còn đó mà.

 
***
 
- Con xin mời cha! Vừa ăn vừa nghe hát cỡ nửa tiếng, sau khi ca xong, chị Tiên mời cha Hải.

Ngài không nói, không rằng, nhấp miếng bia cho sạch miệng đoạn tiến tới đón lấy microphone.

- Tôi không quen hát, chỉ quen giảng, nhưng đã lỡ chịu chơi thì đành chịu hát. Tôi sẽ trình bày nhạc bản Ai Lên Xứ Hoa Đào.

Tiếng vỗ tay ngạc nhiên bùng lên; thằng lớn con của Thanh chỉnh máy tính chọn nhạc.

- Ai lên xứ hoa đào, dừng chân bên hồ nghe chiều rơi,… Bản nhạc khá xưa, cha Hải hát không cần nhìn màn ảnh, chầm chậm đi quanh, dáng điệu dường như tưởng nhớ đến dư âm ngày cũ nào đó. Hết bản nhạc, ngài nói tiếp,

- Bây giờ mời mọi người thưởng thức bản Hoài Cảm. Nhạc trỗi lên, nhân dáng ngài chừng như đổi thay chút ít,

- Chiều buồn, len lén tâm tư, mơ hồ nghe lá thu mưa, dạt dào tựa những âm xưa, …

Không ngờ cha Hải có giọng truyền cảm tuyệt vời khi hát. Ngài hát nhỏ giọng; âm nhạc được điều chỉnh vừa nghe khiến lời ca theo giọng của ngài như khơi động tâm tình nhung nhớ xót xa nào đó thấm vào lòng mọi người. Tối nay, có thêm hai ông trùm của cộng đồng họ đạo nhập bọn, ông trùm Phong và ông trùm Hiểu. Hai ông trùm mới cũng xấp xỉ tuổi của hai ông trùm cũ, khá quen biết với Thanh và tương đối cởi mở hơn hai ông trùm cũ.

Tiếng vỗ tay lại ầm lên khi ngài vừa hát xong.

- Ngày còn trẻ chắc cha hát ăn khách lắm, chị Tiên khen.

- Thời còn đi lính, nơi phi trường Biên Hòa có dàn trống và mấy người bạn lính làm việc ở đó đánh ghi ta thùng; nên máu văn nghệ văn gừng của tôi nổi lên do đó cũng đàn đúm hát với họ.

- Hèn chi cha hát có vẻ điệu nghệ như thế.

- Không đơn giản như vậy đâu. Tôi mê nhạc, biết làm thơ, và mặc dầu không học nhạc theo trường lớp nhưng tự học nên quen. Tuy nhiên, hát cho đúng nhịp thì dễ, hát sao cho diễn xuất được tâm tình của bản nhạc mới cả là vấn đề.

- Sao cha hát nghe rõ và truyền cảm được như thế?

- Đấy mới là phần chính yếu của trình diễn. Hát mà người ta không biết mình hát gì, hoặc chói tai thiên hạ thì cần phải đặt vấn đề lại, nhưng thường thì người hát không để ý đến vấn đề này.

- Thưa cha, khi mình hát sao có thể nghe được mình hát thế nào.

- Chị muốn biết phải không?...

- Thưa cha, để anh Tiên tổ chức bữa tiệc mời cha truyền nghề. Sỹ nhà con đề nghị.

- Vâng, mời cha và quý vị tuần tới ghé tiệm con. Con sẽ đóng cửa lúc sáu giờ tối mời quý vị. Thanh, anh có thể mời thêm tay saxophone và ghi ta cùng anh chơi nhạc sống hôm đó được chăng? Anh Tiên hỏi.

- Để tôi hỏi ý kiến và mời họ. Tối thứ bảy nếu không có chương trình đặc biệt nào, thường thì không có chi ngăn trở. Thanh trả lời.

- Thưa bác, tụi cháu tham dự được không? Con trai lớn của Thanh hỏi.

- Bác mời ba má và các cháu. Nhà hàng không thiếu chỗ ngồi. Tiên trả lời.

- Muốn nghe được mình hát thế nào, phương cách hay nhất là thâu âm.

- Thưa cha, muốn thâu nhạc phải có người phối âm, phải thuê phòng thâu chịu sao nổi.

- Không khó như chị nghĩ đâu. Nhà chị có máy vi tính và có dàn karaoke phải không. Quá đủ, không phải thêm bớt gì, chỉ cần lên net download phương trình “Audacity” để thâu là mọi sự sẵn sàng. Tất nhiên, khi thâu tai nghe nhạc qua headphone; thâu giọng hát xong ráp vô nhạc là thành ca sĩ.

- Thưa cha, con có thâu thử nhưng nhạc thì rõ mà lời thì không ra gì, nghe không được.

- Chị thâu bằng hệ thống karaoke phải không?

- Thưa cha vâng.

- Tôi nghĩ, chúng ta đôi khi biết hoặc nghe riết nên không để ý. Người ta bảo, “Nghề chơi cũng lắm công phu” (Kiều), chị biết nhưng đã không chịu bỏ công sức thử.

- Con sẽ thử như cha nói. Nhưng sao ráp nhạc vô được?

- Khi thâu lời xong, “save” thành một “file;” đoạn thâu phần nhạc không có giọng hát qua mixer và save thành file khác. Dùng phương trình “Sonar” hay “Nuendo” để ráp nhạc và lời vô, đoạn điều chỉnh. Có điều, nếu dùng phương trình Nuendo 3, loại quảng cáo cho thử nghiệm, nhanh nhất chị phải mất hơn tháng tự tìm tòi thực tập. Nếu có người đã biết sử dụng chỉ cho chị, ít nhất phải một tuần. Một tuần này để chị làm quen với âm thanh của giọng hát và điều chỉnh theo ý thích; đồng thời nhận ra mức độ nào giọng hát không bị phá âm mà tiếng Mỹ gọi là “Saturated.” Thêm một tuần nữa để thực tập phát âm khi thâu. Chị làm ơn để ý, khi thâu hát rất nhỏ, đều, và để ý lấy hơi khi nào lúc hát. Càng hát to, càng bể và âm thanh không thể rõ được. Hát nhỏ nhưng phải mở rộng cổ họng, không được ép hơi, âm thanh mới đầy. Mới bắt đầu thâu hơi mệt nhưng riết rồi quen đi. Hát nhỏ mới rung giọng được, hát to không rung được. Tất cả lý thuyết chỉ có thế, thực hành mới là điều quan trọng.

- Lúc nãy cha chọn hát hai bài Ai Lên Xứ Hoa Đào và Hoài Cảm chắc có mang ẩn ý gì?

- Tôi thích bản Ai Lên Xứ Hoa Đào vì lời hát thật tuyệt vời. Tác giả phải là người rất giỏi về thơ văn. Chị thấy, chỉ đôi tiếng lật đi, lật lại mang ý nghĩa khác nhau; chẳng hạn “Đường trần nhìn hoa bướm rồi lòng trần mơ bướm hoa,” hoặc “Lâng lâng trong sương khói rồi bàng hoàng theo khói sương.” Văn chương như thế quả đáng cảm phục.

- Thưa cha, còn bài Hoài Cảm?

- Thoạt đầu tôi hát bản Hoài Cảm vì nhịp của nó ba phần tư ít người dám hát bởi hay bị lỗi nhịp. Thời đó, có chị thiếu nữ hàng xóm ở Biên Hòa, người miền Nam tôi quen biết, chị ta rất dễ thương, và hình như có cảm tình với tôi; trong khi mộng của tôi hơi cao. Tôi con nhà nghèo, thích văn thơ, thế nên sau trung học đệ nhất cấp tôi đăng lính không quân rồi làm tại phi trường Biên Hòa. Tôi dùng thời gian rảnh lấy xong tú tài một, tú tài hai và muốn lấy cử nhân luật và văn chương nên không dám vương mang dẫu thấy thích cô bé dễ thương ấy. Đùng một cái, cô bé đi buôn bị đụng xe chết. Dĩ nhiên lòng tôi cảm thấy xót xa nên khi hát bài Hoài Cảm, tôi cảm nghiệm được tâm tình của nhạc sĩ Cung Tiến, có lẽ ông ta viết bản nhạc này sau khi người yêu của ông ta chết. Chị thử nghĩ về mấy lời hát coi, “Lòng cuồng điên vì nhớ, ôi đâu người, đâu ân tình cũ. Chờ hoài nhau trong mơ, nhưng có bao giờ thấy nhau lần nữa… Cố nhân xa rồi, có ai về lối xưa.” Những lời này hát lên mà không thấm vào lòng thính giả được thì tôi nghĩ chẳng nên hát làm gì.

- Sao cha lãng đãng thế!

- Biết sao mà nói! Con người là giống hữu tình mà, ai thoát khỏi trầm tư đôi lúc.

- Con hiểu cha muốn nói gì rồi. Con xin cảm ơn cha, có lẽ từ nay con sẽ chỉ hát những bài mà con có thể cảm nhận được. Nhất định con sẽ thử thâu âm như cha nói. Con cảm ơn cha.

 
***
 
Hôm trước tôi đề nghị anh em đọc Phúc Âm để chuẩn bị tối nay chúng ta tiếp tục nghe khúc mắc của anh Thanh. Mời anh Thanh.

- Thưa cha, Thanh lên tiếng, như lần trước con có đề cập đến đức tin, theo Phúc Âm, hình như mang quyền lực nào đó, và nếu con nhớ không lầm thì cha đã nói đức tin chính là quyền lực nội tại nơi mọi người. Tuy nhiên, những sách vở viết về Phúc Âm thì con thấy hình như các tác giả chỉ nhắc đến đức tin như một danh hiệu nào đó rồi khuyến dụ chúng ta phải cầu xin Chúa ban thêm nhân đức tin. Kinh Tin Kính là kinh tuyên xưng đức tin, nhưng con đọc và suy nghĩ thì hình như kinh Tin Kính nói lên những điều dân Chúa phải tin. Con nhận thấy bất cứ những gì thường được gọi là tin, đều khác với đức tin theo Phúc Âm. Thêm vào đó, nếu con không lầm thì người ta đã hiểu lầm đức tin với tin tưởng và niềm tin. Niềm tin chứa đựng sự tin tưởng, nhưng tin tưởng nếu đem xếp hạng thì thuộc về giới hạn thấp, và niềm tin bao quát hơn. Đôi khi con đặt vấn đề; mình có chiếc xe thì mình có cần phải tin rằng mình có chiếc xe hay không! Mình biết mình có chiếc xe thì cần gì phải tin. Thế nên khi nói rằng tin điều gì, tự bản chất đã phần nào không chắc chắn. Suy từ đó, nói rằng tin điều gì mang nghĩa cho rằng điều đó đúng hay điều đó có thật chứ chưa biết thật, vẫn còn phần nghi ngờ nào đó. Xét như thế, nói rằng tin điều gì thì có thể tạm gọi đó là niềm tin, hay ước mơ điều đó đúng. Phúc Âm không nói về sự tin tưởng, không nói về niềm tin mà chỉ nói về đức tin, và nói về một đức tin mang quyền lực giải quyết mọi vấn đề; chứ không phải cho rằng hay tin rằng Chúa sẽ làm hay thực hiện. Con muốn nói, theo Phúc Âm, chính đức tin thực hiện như lời Chúa Giêsu nói cho người đối diện biết, “Đức tin con chữa con” (Lc. 8:48),”Đức tin con cứu con” (Lc. 7:50).

- Con trình bày nhận định này, nếu có gì sai cha, bố, và quý vị thử xét. Chúng ta thường hay dùng câu nói, “Tin vào Chúa,” hay “Tin thật có Chúa.” Thưa cha, thưa quý vị, nếu đã biết chắc chắn Thiên Chúa hiện hữu thì mắc mớ gì phải tin. Trong Phúc Âm, Chúa Giêsu khuyên dạy chúng ta gọi Thiên Chúa là Cha, “Lạy Cha chúng con ở trên trời; chúng con nguyện danh Cha cả sáng.” Câu nguyện cầu thẳng thắn, không nghi ngại, nhưng chúng ta lại nói “Phải tin vào Chúa.” Con thử đặt vấn đề, nói rằng phải tin mang nghĩa mình ngu quá, không biết gì nên phải thế nọ, phải thế kia giống như dạy đứa con nít, không được nô nghịch bậy bạ, phải ngồi im, phải thưa, phải bẩm. Con không chống báng ai, chỉ đặt vấn đề để suy tư. Nhận xét như thế, con có cảm nghĩ, hoặc là mình bị những nhà thuyết giáo, truyền giáo cho là quá ngu, hoặc là chính họ đã không tin chắc chắn sự hiện hữu của Thiên Chúa nên sử dụng ngôn ngữ một cách sai lầm. Điều này có nghĩa, họ đã không nghiệm chứng và thực chứng sự hiện hữu của Thiên Chúa trong cuộc đời. Nói như thế có thể suy luận rằng, họ chẳng hiểu gì về Phúc Âm, hay là đã coi thường Phúc Âm. Thế nên khi nghe cha nhắc tới Thiên Chúa của đức Giêsu, con vẫn đang chờ xem cha sẽ nói gì. Trước đây, anh em chúng con cùng bác Tài đàm luận thì thấy rằng danh hiệu Thiên Chúa chỉ về quyền lực tối thượng đang hoạt động và ngự trị nơi mọi người, nơi tạo vật, mà các đạo học Đông Phương gọi bằng những danh hiệu khác nhau. Lần trước, cha nói chúng con đọc Phúc Âm để hôm nay hội thoại về đức tin. Thế nên, khi đọc Phúc Âm đặc biệt để ý đến đức tin, được gọi là “Lòng tin” nơi bản dịch Kinh Thánh của linh mục Nguyễn Thế Thuấn dòng Chúa Cứu Thế, và sau này cuốn Kinh Thánh Tân Ước cũng dùng như thế, con thấy Phúc Âm viết về đức tin hoàn toàn khác lạ, không giống như những gì được học hỏi và được viết nơi sách vở xưa nay. Con có cảm nghĩ, chính những vị thày dạy về đức tin đã coi thường Phúc Âm, không cần biết Phúc Âm nói gì, và chỉ dùng danh hiệu đức tin như một sự gì huyền nhiệm; để rồi phát biểu theo nhận thức hữu vi, loanh quanh, luẩn quẩn chẳng khác gì con kiến bò trên miệng ly, không đầu, không cuối, và cứ như tự trời rơi xuống; rốt cục kết luận phải, phải, và phải, cũng như lần trước con nêu lên khiếm khuyết của định nghĩa đức tin nơi thư Hipri.

Ngừng một chút, Thanh nói tiếp,

- Đọc nơi Phúc Âm, con thấy đức tin được trình bày như một thực thể quyền lực nơi mỗi người. Dẫu Phúc Âm dùng những dụ ngôn đôi khi nói về sự tin tưởng nơi đức Giêsu, nhưng vẫn kèm theo ước muốn, chứ không phải chỉ nói suông rằng tin là sự việc sẽ thành. Chẳng hạn nơi Phúc Âm Matthêu, đức Giêsu trả lời người đại đội trưởng rằng, “Ông cứ về đi! Ông tin thế nào thì được như vậy!” (Mt. 8:13). Con nghĩ, bình thường, người ta cứ cho rằng hay gán ép cho đức Giêsu làm phép lạ; nói như thế, làm sao chứng minh được những gì được gọi là phép lạ vẫn xẩy ra ngày nay? Thường thì câu trả lời lại được tạo dựng rằng Chúa, hay đức Mẹ, hay thánh nọ, thánh kia đáp ứng theo sự cầu khẩn. Con thử đặt vấn đề, vậy nếu không có ước muốn, phép lạ có thể xảy ra không? Và nói rằng thánh nọ, thánh kia làm phép lạ thì sao giải thích được những lời Phúc Âm minh xác, “Đức tin con chữa con; đức tin con cứu con.”

Đang thao thao bất tuyệt, Thanh ngưng lại hỏi,

- Thưa cha, con có nên nói tiếp không?

- Khúc mắc của anh là sự gì có thể xảy ra mà đức Giêsu đặt vấn đề nghi ngờ có còn đức tin trên mặt đất khi Ngài trở lại hay không. Anh cứ nói tiếp. Nhưng để tôi hỏi xem có ai phản bác điều gì chăng. Trả lời Thanh xong, cha Hải giơ tay hỏi,

- Có ai nhận thấy điều gì anh Thanh nói cần được giải thích hay có thêm ý kiến gì không?

- Thưa cha, con xin có ý kiến, ông trùm Phong lên tiếng, nếu như ông Thanh nói, Chúa Giêsu trả lời “Ông tin thế nào thì được như vậy” mà Chúa không làm phép lạ thì chẳng lẽ người đại đội trưởng làm phép lạ?

- Ông trùm quên rằng, Thanh trả lời, tôi muốn nói đến ước muốn của người đại đội trưởng chứ không nói người đại đội trưởng làm phép lạ; bởi Chúa Giêsu nói rõ ràng, ông tin thế nào thì được như vậy chứ không nói Ngài chữa hay Ngài cứu.

- Như vậy chẳng lẽ ước muốn là đức tin? Ông trùm Phong hỏi tiếp.

- Thưa cha, con phải giải thích thế nào bây giờ?

- Để tôi nói vắn tắt, nhưng đừng dựa vào những gì tôi nói mà cần suy nghĩ và nghiệm chứng, đặc biệt đừng nhắc lại lời tôi nói mới được. Con người là hình ảnh của Thiên Chúa, và linh hồn mình chính là Thiên Chúa nội tại. Ước muốn, ý định chính là hoạt động của linh hồn, của Thiên Chúa nội tại nên ước muốn mang quyền lực tối thượng của Thiên Chúa nơi mỗi người. Ước muốn ở đây nói theo trường hợp tâm linh, không phải ước muốn thế tục. Tôi chỉ có thể nói như thế; bởi anh chị em đã đàm luận với ông Tài về đạo học Đông Phương cũng như đã nhận biết về thực thể con người. Tôi nghĩ, để làm sáng tỏ vấn để hơn, ông trùm nếu có thời giờ nên nói chuyện với mấy anh em sau này. Còn có ai thêm ý kiến gì nữa, làm ơn cho biết.

- Thưa cha, sao con cầu hoài không được; chẳng lẽ con không có đức tin? Vợ Tình lên tiếng.

- Thế đức tin của chị là gì?

- Thưa cha, con không biết nên con mới hỏi. Chị Tình trả lời.

- Thưa cha, cũng giống như ông trùm Canh hay ông trùm Lực đã nói, các cha giảng sao thì tin theo vậy. Chị Sỹ trả lời.

- Tôi cũng tin theo các cha giảng giải nên cũng không biết đức tin là gì. Cha Hải mỉm cười trả lời, đoạn lại lên tiếng hỏi,

- Có anh em nào đã đọc qua Phúc Âm trả lời đức tin là gì được không?

- Thưa cha, con thì không biết lấy câu nào nơi Phúc Âm làm bằng chứng, nhưng cứ theo những gì “ngâm kíu” nơi đạo học Đông Phương cộng thêm với lời Kinh Thánh, đặc biệt nơi thư thánh Phao lô thì đức tin là quyền lực nội tại nơi mỗi người. Quyền lực này chính là quyền lực sự sống, quyền lực hiện hữu như bác Tài thường nói; mà hình như lần trước anh Thanh ví chúng ta giống như đứa trẻ tay cầm “credit card” mà chết vì khát bởi không biết cách nào dùng card để mua sữa. Chúng ta cũng thế, được sinh ra với đức tin nhưng không nhận biết đức tin là gì. Sỹ nhà con nói một hơi.

Thế là tiếng vỗ tay bùng lên cổ võ.

- Nói giỏi, tên thiền sư ngộ lúc nào vậy không biết! Hưng diễu!

- Thiền thì phải ngộ chứ không ngộ thì thiền làm chi.

- Anh nói thế thì, ông trùm Phong giơ tay, thì mọi người đều có đức tin à? Vậy những người vô đạo không tin Chúa, tin Mẹ gì ráo trọi; sao bảo rằng họ có đức tin!

- Nơi Phúc Âm, Chúa Giêsu phán rằng, “Kẻ nào bảo núi này xê đi mà nhào xuống biển mà trong lòng không nghi ngại nhưng tin rằng điều mình nói sẽ xảy ra, thì nó sẽ thấy thành sự” (Mc.11:23). Kẻ nào có nghĩa bất cứ ai. Chúa Giêsu không nói chỉ người Công giáo hay những ai thuộc Kytô giáo mà dùng danh hiệu chung “Kẻ nào.” Ah! Thưa cha, nếu vậy Chúa Giêsu không phải người Công giáo hay sao? Thanh giả đò ngỡ ngàng!

- Sao anh lại hỏi tôi, cha Hải đặt vấn đề. Năm nay tôi mới 83 tuổi thì sao biết ngày đó Chúa Giêsu theo đạo nào!

- Thưa cha, lại ông trùm Phong lên tiếng, nếu cha không biết làm sao chúng con biết?

- Có nhiều thứ tôi không biết lắm chứ không phải chỉ về tôn giáo của Chúa Giêsu. Có điều, lần trước tôi nói anh chị em đây đọc Phúc Âm thì tất nhiên họ đã biết Chúa Giêsu theo đạo nào. Anh Thanh giả đò ngạc nhiên hỏi chơi cho vui. Mới nói chuyện với anh em đây lần trước, tôi cũng bị lây cái đặc tính lãng đãng, tửng tửng của mọi người. Tôi nghĩ, ông nghe thì nghe vậy rồi để ý suy tư chứ chẳng nên có ý giải quyết vấn đề ngay lập tức; bởi có nhiều vấn đề liên hệ về nhận thức mà anh em ở đây đã biết nhưng không nhắc tới; thành ra khi nêu lên một vấn đề mới nào để rồi câu trả lời coi bộ ngớ ngẩn và phi lý chẳng khác gì các công án khiến người mới nghe sửng sốt. Ông trùm đừng bị ngạc nhiên. Tôi trả lời không biết để anh em nhớ lại, nơi Phúc Âm có ghi Chúa Giêsu theo đức Mẹ và thánh Giu se đi dự lễ nơi đền thờ Jerusalem, tức là đền thờ của đạo Do Thái. Nào có ai lạ gì chuyện này.

- Vậy thưa cha, Chúa Giêsu theo đạo Do Thái à?

- Giêsu ma lạy Chúa tôi! Sỹ nhà con lên tiếng, Chúa Giêsu không theo đạo Do Thái thì chẳng lẽ theo đạo Công giáo nhà ông à! Ông trùm ơi, về đọc Phúc Âm thôi!

- Chú nói vậy không nên! Ông Thung lên tiếng. Ông trùm Phong lần đầu tham dự với chúng ta, chú quên mất, ý kiến không đúng không sai rồi hay sao! Chú làm ơn nhớ dùm, dẫu nhận biết đã sai ngàn lần mà có được một lần thứ ngàn lẻ một không sai thì đã có được ngàn lẻ một nhận thức. Muốn ngộ thì phải sai, không sai không ngộ; bởi không sai, không biết đúng; mà đã không biết đúng thì luôn luôn sai; thế nên, người ngu nhất là người không bao giờ sai. Mời ông trùm nói tiếp.

Lại một tràng pháo tay bùng lên!

- Hoan hô anh cả. Anh cả nói say thì cứ say, uống không say nào hay. Nào uống, mời mọi người nâng chai. Đã không nâng thì thôi; nâng một lần là hết một chai. Tình cất tiếng hát.

Ông trùm Phong vừa bị Sỹ chỉnh cũng cảm thấy bớt căng thẳng nên cùng hòa tâm tình vui với mọi người. Dẫu quen biết nhưng những lần gặp gỡ và ăn nhậu các nơi khác, thái độ của mỗi người hoàn toàn khác với khi tham dự cùng nhóm này. Ông cũng hơi ngỡ ngàng khi bị Sỹ lên tiếng cắt ngang. Thế nên, khi nghe thấy ông Thung thẳng thừng lên giọng giáo huấn Sỹ chẳng khác gì thày đối với trò; ông hiểu được mọi người ở đây bất chấp cách thức ăn nói, mà vấn đề chính lại là nhận thức.

- Say thì say, cuộc đời này chưa thằng nào sợ thằng này nên say thì cứ say. Sỹ cao giọng. Nào mời anh cả, mời ông trùm.

Ông Phong lại càng ngạc nhiên, mấy người này kỳ cục, vừa nghiêm chỉnh đấy lại đã lè phè, lãng đãng.

- Uống để mừng đức Giêsu bỏ đạo. Sỹ cao giọng.

- Tại sao lại nói Chúa Giêsu bỏ đạo? Vậy mình theo Chúa Giêsu mình cũng bỏ đạo à?

- Thì Chúa Giêsu theo đạo Do Thái. Mình theo Chúa Giêsu; mình theo đạo Công giáo thì Chúa Giêsu bỏ đạo Do Thái nên mới có Công giáo!

- Ai nói Chúa Giêsu theo đạo Công giáo?

- Vậy ông theo đạo Công giáo hay theo Chúa Giêsu?

Thế là thiên hạ rối tung lên, theo Chúa hay theo đạo.

- Thưa cha, Phúc Âm không nói Chúa Giêsu sáng lập đạo Công giáo hay Tin Lành, Thệ Phản, Anh giáo, vậy ai lập nên những đạo này? Tình lớn giọng.

- Thưa cha, nơi Phúc Âm chỉ ghi, Chúa Giêsu sai các môn đồ đi rao giảng Tin Mừng Nước Trời và rửa tội cho muôn dân mà sao không thấy đạo nào có tên Tin Mừng Nước Trời?

Mấy ông trùm dẫu quen biết hết mọi người nhưng chưa bao giờ gặp trường hợp ý kiến ý bọ nhắng lên, vô trật tự đối với cha cụ như thế. Thường tham dự những buổi họp về điều hành cộng đoàn có linh mục làm chủ tọa, các ông trùm phải tỏ ra nghiêm chỉnh, ăn nói bẩm thưa đúng khuôn phép. Đàng này, bia rượu lộn xộn, cha ngồi chủ tọa giảng giải mà giống như quân hồi vô phèng, muốn uống gì thì uống, nói sao thì nói, lại dám đem cả Chúa Giêsu làm đối tượng phân tích, phân cốc. Nhưng sao không thấy cha nói gì mà còn tán đồng. Ông trùm Phong lỡ lời, lại được ông Thung, người ngoại đạo, dùng lý luận và qui ước lạ lùng, đúng sai không thành vấn đề; bởi không có sai không nhận ra điều đúng, bênh chằm chặp, khiến tên to miệng như Sỹ nhà con phải im lặng.

Cha Hải giơ tay ra hiệu im lặng, đoạn nói,

- Nhìn vào dòng lịch sử đạo học chúng ta dễ dàng nhận thấy, những vị tiên phong của một chủ thuyết đều là những vị không chịu khuất phục trước các khuôn mẫu, truyền thống. Anh em đã tìm hiểu về đạo học Đông Phương nên thấy rõ, chẳng hạn Lão tử, Trang tử, đặc biệt hơn là Thích Ca Mâu Ni, nếu họ cứ thần phục tư tưởng, chiều hướng lúc bấy giờ thì cũng chẳng có gì thành tựu đáng nói về sau. Đức Giêsu cũng thế, nếu chỉ như chúng ta, nhắm mắt, cúi đầu tuân theo Do Thái giáo thì sao có Kytô học, sao có Công giáo, Thệ Phản, Tin Lành, Anh giáo ngày nay. Chỉ tiếc là những người tin theo đã không để ý nghiệm chứng mà chỉ biết rập khuôn theo mẫu mực sẵn có khiến cho cái tinh tuý, cái gốc tủy của chủ thuyết, của đạo học, mỗi ngày một phôi phai. Lâu dần, những mấu chốt tâm linh bị lãng quên đến nỗi ngay những người được đặc biệt huấn luyện để thuyết giảng để triển dương giáo phái, cũng không thể nhận biết thì sao có thể nói đến tín đồ. Kết quả thế nào mọi người đều nhận thấy, người ta cứ bám vào các nghi thức vô hồn để rồi tin tưởng cứ làm đúng theo những nghi thức như thế hầu thỏa mãn một phần nào khát vọng bẩm sinh thường ngày đêm thôi thúc.

- Lục lọi sách vở anh em sẽ thấy, không một vị giáo chủ nào đứng ra lập tông phái, mà chính những người tiếp nhận chủ thuyết đứng lên cùng nhau thiết lập hệ phái để truyền bá. Thoạt đầu chỉ một nhóm với lòng kính thành đón nhận rồi lại truyền bá thêm để triển dương giáo phái. Theo dòng thời gian, nếu chủ thuyết được nhiều người đón nhận, tất nhiên tổ chức nhân sinh dưới sự hướng dẫn của chủ thuyết phải được thiết lập. Có chủ thuyết, có tổ chức nhân sinh lẽ đương nhiên phải có nội quy, luật lệ, giáo lý, cơ cấu phát triển, lịch trình sinh hoạt. Đây là thành phần thế tục của tổ chức. Điều đáng buồn lại do không nghiệm chứng chủ thuyết, và bởi không ai chỉ bảo nên tín đồ thường dùng danh tánh tổ chức như chiếc áo an toàn che lấp tâm thức trống rỗng nơi mình. Lần trước đề nghị anh em đọc Phúc Âm, tôi không hiểu anh em đã đọc như thế nào, và sau khi đọc anh em lãnh hội được những gì. Tôi nghĩ, những anh em nào đọc Phúc Âm mà không cảm thấy ngỡ ngàng về những câu nói chứa đựng trong đó đến độ té ngửa thì vẫn còn chưa biết cách đọc lời Chúa. Tôi thử nêu lên một câu rất đơn giản anh em đã gặp 8 lần khi đọc Phúc Âm, đó là câu, “Ai có tai để nghe thì hãy nghe” (Mt. 11:15; 13:9,43; Mc. 4:9,23; 7:16; Lc. 8:8; 14:35). Có ai cảm thấy giật mình hoặc bực mình vì câu nói nghịch thường này không? Thử hỏi, câu này mang ý nghĩa gì, làm sao có thể áp dụng vào cuộc đời mỗi người.

- Không thấy anh em nào lên tiếng, có lẽ chẳng ai để ý đến câu nói này dẫu đã đọc qua 8 lần. Không có cái đạo nào phát xuất từ Phúc Âm dạy về câu này; mà chỉ thấy hô hào nào đức tin Công giáo, nào đức tin Tin Lành, đức tin gì gì đó, nếu chỉ kể tên cả tháng cũng chưa hết. Và rồi cũng chỉ bốn cuốn Phúc Âm lại sinh ra giáo lý nọ, giáo lý kia, phải thế nọ, phải thế kia, nguyên những cái phải không cần phải. Lý do, nếu đầy trong lòng ắt phải tràn ra bên ngoài. Bởi vì lòng trống rỗng nên phải có luật hù dọa cho người ta sợ để giữ tín đồ. Không có luật buộc, nó không sợ bị phạt kiếp sau thành con sâu con bọ hay đời đời bị trầm luân nơi hỏa ngục thì nó không theo nữa; dẫu nó chẳng biết cái hỏa ngục được nói đến kinh khủng, khổ ải như thế nào. Tại sao tôi nói người ta không biết? Xin thưa, tại họ chưa chết. Người ta theo cái đạo sợ dù được gọi dưới bất cứ danh hiệu nào. Ông bạn tôi rất hãnh diện về các anh vì không ngờ tâm trí các anh rộng mở, dám đối diện với con người thực của mình. Dẫu mới một lần nói chuyện, tôi đồng ý với đặc tính rộng mở, không e ngại, không giới hạn suy tư, không lệ thuộc thói quen, truyền thống, nhưng coi chừng thiếu ý chí phấn đấu vì vẫn bị lệ thuộc mặc cảm. Tôi dám nói thẳng, miệng nói không sợ sai lầm, lòng nghĩ không sợ sai lầm, vì sai lầm có thể là cơ hội thăng tiến nhận thức vẫn chỉ là cái vỏ. Dám chấp nhận mọi hậu quả vì niềm tin, vì nhận thức bất chấp bị đời gán cho danh hiệu nào mới đủ can đảm đối diện với Phúc Âm. Nghỉ một chút, nhấp miếng bia, ngài nói tiếp,

- Anh em tin theo đức Giêsu, anh em có biết người ta đã kết án ngài thế nào không?

- Phạm thượng.

- Anh em có dám phạm thượng theo Ngài không đó mới là vấn đề; đó mới là thực trạng chúng ta phải tiến tới. Muốn phạm thượng như đức Giêsu, nhưng lại sợ người đời lên án thì chỉ còn cách cầu xin Chúa cất về nước thiên đàng cho sớm, và tôi biết, mọi người cũng như tôi, không ai muốn lên thiên đàng ngay lúc này.

Mọi người phá ra cười, thầm nghĩ, ông cha này dám tự đưa mình ra mà diễu, nhưng ngài nói hợp lý, hợp tình. Hèn chi lần trước ngài nói học theo Chúa Giêsu không được.

- Phúc Âm chỉ cho chúng ta mình là gì, như thế nào, trong khi chúng ta tự chấp nhận mình là thứ nô tài nhắm mắt tuân giữ điều lệ cho có giả tưởng an lòng. Nhắm mắt học thuộc lòng giáo lý mà không biết mấu chốt, căn gốc mình theo là gì, thế nào, để rồi không dám chất vấn quyền uy bởi không biết chính mình là gì! Anh em nên nhớ, tất cả những nhà cải cách đều gặp phải muôn ngàn chiều hướng phản đối; chẳng những bởi các thế lực thâm căn cố đế, mà còn từ xã hội đương thời đã quá quen và chấp nhận nỗi an bình giả tạo để rồi cố gắng bám víu lấy nó, hầu đàn áp nỗi lòng sôi động phát xuất từ sự khát vọng bẩm sinh. Nhìn lại thực tại, chúng ta sẽ thấy, giả sử không có TV người ta sẽ ra sao? Và TV đem lại gì cho họ? Dĩ nhiên bất cứ gì mang lại lợi ích cũng kèm theo cái hại của nó. Không có TV, khối người nổi điên vì chẳng có gì giúp họ đè nén nỗi thao thức tâm tư, và bởi không quen, nên không muốn suy nghĩ.

- Thưa cha, Hưng lên tiếng, thế chẳng lẽ Lão học đề nghị bớt, càng ngày càng bớt là sai lầm.

- Bớt để lộ ra, để nhận thực chính mình thế nào; thực thể mà lục tổ Huệ Năng gọi là bản lai diện mục, nhà Phật gọi là cái tâm, Atman của Ấn, hoặc linh hồn như chúng ta thường gọi. Hành trình bớt này cũng được gọi là hành động lau gương, lau bụi bặm che khuất cái tính nơi mình. Thiền, tu, quán, hành, tất cả đều là phương tiện để nhận ra thực thể chính mình chứ không phải trở nên ngu ngơ như người khùng điên; mặc dầu những vị thức ngộ dưới con mắt bình thường thế nhân bị coi giống như người điên. Đây là hành trình nhận thức, một hoạt động ý thức của tâm hồn chứ không phải hoạt động náo loạn hữu vi. Lão học gọi là vô vi, không làm gì nhưng không việc nào mà không làm. Ai có ý kiến nào thêm không?

 
Thế là mấy ông trùm cảm thấy tâm trí mình quay quay, không hiểu cha nói gì mà lại dính dáng đến nhà Phật, nhà Lão, Ấn, lại còn Atman, linh hồn. giáo lý dạy linh hồn là tính thiêng liêng chẳng hề chết được mà cha lại nói những gì tới thiền, quán, hành, rồi lau gương, rồi thức ngộ, nhận thức; mà sao mấy tay lãng đãng bất thường vì bia rượu này lại nghe coi bộ nghiêm chỉnh. Quái lạ, những cái mỏ bán trời không văn tự sao lại có thể chăm chú đến im hơi lặng tiếng khiến bầu không khí có vẻ tăng thêm phần nặng nề, trầm tư.

- Thưa cha, Tình giơ tay ý kiến, như vậy là cái hồn nghe, nhưng sao lại nói có tai nghe thì nghe?

Đang nói về bớt, về vô vi, không làm gì mà Tình lại hỏi về cái tai nghe, chẳng đâu vào đâu. Mấy ông trùm ngỡ ngàng, chẳng hiểu Tình muốn hỏi về cái tai để làm gì.

- Cái tai có thể nghe tự nó không?

- Thưa không, Sỹ lớn tiếng trả lời. Tai chỉ là phương tiện cho linh hồn nghe.

- Vậy tại sao phải nói có tai để nghe thì hãy nghe?

- Thưa cha, vì hồn dùng cái tai để nghe, và vì cái tai chỉ là phương tiện; nên mọi sự nghe được hay không, tùy thuộc cái tai, nhưng nghe được như thế nào lại tùy thuộc linh hồn. Ah! Hình như câu này nói về điều kiện để hồn nhận thức được gọi là nghe.

- Như vậy, anh em hiểu được tại sao Phúc Âm đưa lên những công án không đâu vào đâu đôi khi bị gán ép vào những dụ ngôn nghe có vẻ kỳ cục. Chẳng hạn, người ta không đổ rượu mới vào bì cũ, chẳng ai lấy vải mới vá áo cũ. Những chuyện thường tình như thế nhưng mang ý nghĩa ám định chỉ về điều kiện ắt có cho một tâm hồn muốn nhận thức.

- Hình như chúng ta đi quá xa trong sự bàn luận. Chúng ta chưa nói gì về Thiên Chúa của đức Giêsu; vấn đề khúc mắc về sự mất còn của đức tin anh Thanh đang nói dở bị đình lại; bây giờ lại thêm điều kiện để hồn nhận thức, tạm gọi là điều kiện tâm trí. Anh em thấy thế nào, nên dứt khoát từng đề mục hay cứ bàn luận lan man như thế này thì có lẽ không bao giờ cùng. Ai có ý kiến?

- Thưa cha, ông trùm Canh lên tiếng, đây là lần thứ hai con được tham dự hội luận về Phúc Âm. Con xin cảm ơn cha và quý vị đã giúp con mở rộng lòng trí. Nói thì nói vậy nhưng thật ra có rất nhiều điểm không hiểu gì mà con không dám xía ngang. Con nghĩ, tốt nhất là cha giảng giải những gì thấy lợi ích cho phần rỗi chúng con. Riêng theo thiển nghĩ, xin cha giải đáp dứt khoát từng mục cho dễ thâu nhận kẻo đầu óc kém cõi của chúng con đang lùng bùng. Chả nói giấu gì, ngay vấn đề Chúa Giêsu theo đạo, bỏ đạo ra sao con cũng chưa biết cách nào phân định.

- Ông nói như thế thì chính cha cũng lùng bùng chứ đâu phải mình ông; vì cha có phải là Chúa Giêsu nhà ông đâu mà biết Ngài theo đạo nào và bỏ đạo nào. Nói rằng Ngài theo đạo Do Thái sao lại sai các môn đồ đi rao giảng Tin Mừng Nước Trời. Bảo rằng Ngài theo đạo Công giáo thì khi Ngài còn sống làm chi có cái gì tên gọi Công giáo. Con nói thế phải không thưa cha? Bá lên giọng nói một hơi.

- Ông nói vậy thì Chúa Giêsu vô thần à?

- Ơ hay, ông trùm nói gì vậy? Chính ông vừa nói Chúa Giêsu vô thần mà lại gán cho tôi nói Ngài vô thần! Thưa cha, con nói thế đúng không?

Cha Hải cười cười vì thấy ông trùm bị dồn vô ngõ bí. Mình đã nói rồi, chẳng nên có ý định giải quyết dứt khoát bất cứ vấn đề gì, chỉ nên nghe rồi nghiệm, thế mà vẫn không chịu ngồi yên. Không đủ kiến thức, lập luận, mà ý kiến ý bọ dây dưa với mấy tay này, không cho nói thì khóc mà cho nói lại chỉ còn nước mếu máo, ấm ức mà chẳng thể nói được gì. Ngài đành ra hiệu im lặng rồi lên tiếng,

- Anh em có hiểu vô thần nghĩa là gì không? Người ta thường cho rằng những người không tham gia tôn giáo nào được gọi là người vô thần. Anh em nên để ý về những ngôn từ mình sử dụng, coi chừng nhiều khi sai sót hoặc kiến tạo phản cảm mà không biết. Trước hết thử hỏi, thần là gì. Tôi nghĩ, có lẽ ngay những người vỗ ngực xưng danh vô thần họ cũng không biết họ đang nói gì; vì họ không biết cái gì đang nói nơi họ. Cái miệng của họ tự nó đâu nói được mà chỉ là phương tiện cho hồn của họ hoạt động được gọi là nói mà thôi. Như thế, chẳng có ai vô thần mà chỉ có những người không nhận ra thần nơi mình. Ông trùm hiểu tôi nói gì chứ?

- Nói hay, Tình nói lớn.

- Làm cha nói phải hay, không hay sao đỗ cụ! Bá chêm vô.

- Thưa cha, ông trùm Phong lên tiếng, bây giờ con mới hiểu cha và quý vị đang bàn luận theo chiều hướng nào. Theo con, những vấn đề nào có thể dứt khoát xin cha cho phép bàn luận đến tận cùng, còn những vấn đề nào dây dưa xin cha nhắc nhở để đặt thành chủ đề. Thưa cha, có điều con thắc mắc là nếu không có ai được gọi là vô thần thì sao họ mệnh danh họ là người vô thần.

- Họ nghĩ là họ vô thần vì họ không biết chính họ là gì. Họ biết họ đang sống nhưng không biết thực thể sự sống nơi họ là gì. Họ có cuộc đời nhưng không dám đối diện với câu hỏi tại sao họ có cuộc sống này. Họ tưởng rằng cuộc đời là của họ, nhưng không nhận biết, họ chẳng có quyền hành gì về cuộc đời của họ. Họ không dám đối diện với nỗi khát khao bẩm sinh luôn thôi thúc họ nhận biết nên kiếm tìm những sự việc thế tục để che lấp. Nơi phương diện tôn giáo, tôn giáo không giúp được họ nhận thức về chính họ, và sự liên hệ tâm linh của họ với thực thể tâm linh tối thượng là Thiên Chúa. Sở dĩ tôi nói đến Thiên Chúa của đức Giêsu vì chúng ta cần nhận biết Phúc Âm nói gì về Thiên Chúa để nghiệm chứng. Có phải bất cứ vấn đề nào tôi vừa nêu lên là những gì chúng ta ngại ngùng suy tư hoặc chưa bao giờ đặt thành vấn đề để suy tư không? Tựu chung, những gì chúng ta bàn luận nơi đây cũng chỉ loanh quanh luẩn quẩn về những vấn đề ấy. Đoạn ngài tiếp,

- Như vậy, chúng ta tiếp tục nghe anh Thanh trình bày khúc mắc về sự sống còn của đức tin trong ngày Chúa Giêsu đến như nơi câu nói Phúc Âm, tiếp theo chúng ta nói đến Thiên Chúa của đức Giêsu, rồi tiếp đến điều kiện tâm trí để nhận biết, nhận thức Phúc Âm. Có ai thấy cần biết thêm những đề mục nào đã được nhắc tới mà còn dang dở không? Ngưng một chút, cha Hải tiếp, nếu không ai có ý kiến, mời anh Thanh.

 
- Thưa cha, con nói đến đâu rồi không biết?

- Anh hỏi tôi thì tôi biết hỏi ai!

Thế là cả làng phá ra cười. Hình như cha Hải cố tình dẫn dụ cho mọi người nhận thức mình đang nói gì, và như vậy liên hệ đến suy tư ý nghĩ đang biến chuyển nơi mỗi người. Lôi miếng giấy trong túi áo lật ra xem, Thanh nói,

- Con đang nói Phúc Âm trình bày một đức tin mang quyền lực. Con xin được nhắc lại, nơi dụ ngôn người đại đội trưởng đến xin Chúa Giêsu chữa cho tên hầu và được Ngài trả lời, “Ông đã tin sao, thì hãy được như vậy” (Mt. 8:13). Phúc Âm ghi rõ, Chúa Giêsu nói, “Quả thật, Ta bảo các ngươi, Ta chưa hề gặp được lòng tin lớn như thế nơi một người nào trong Israel.” Cứ theo thời đại bấy giờ, viên bách quản này thuộc triều đại Roma nên Chúa mới so sánh với dân chúng Israel. Chúa Giêsu không nói ta chữa cho người đầy tớ của ông nhưng chỉ nói “Ông đã tin sao thì hãy được như vậy.” Có thể nói, lòng tin mà Chúa Giêsu ca ngợi ở đây chính là sự tin tưởng và ước muốn cực mạnh nơi ông ta. Đối với người đàn bà loạn huyết, Chúa Giêsu minh xác, “Này con, hãy vững lòng, lòng tin của con đã cứu chữa con” (Mt. 9:22; Mc. 5:34; Lc. 8:48), mà chính người đàn bà đã phải tự đoan chắc dẫu chỉ được chạm đến áo Ngài thì sẽ được chữa lành. Ước muốn, ý định của bà ta thật mạnh mẽ. Đối với hai người mù đi theo về đến nhà, họ được lành mắt và Chúa Giêsu tuyên bố, “Các ngươi đã tin sao thì hãy được như vậy” (Mt. 9:29). Tại sao Chúa không chữa lành ngay khi họ kêu xin, “Lạy con vua David xin thương xót chúng tôi” mà để họ đi theo về tới nhà mới nói cho họ biết? Có thể rằng Chúa thử lòng tin của họ chăng. Với người phụ nữ có con gái bị quỉ ám, Chúa Giêsu lên tiếng không muốn đá động gì tới, nhưng qua lý luận và lòng tin tưởng, đoan chắc của bà, Ngài đã phải lên tiếng, “Này bà, lòng tin của bà lớn thật! Bà muốn sao thì hãy được như vậy!” (Mt. 15:28). Tất cả những trường hợp được chữa lành, Chúa Giêsu đều nói rõ ràng đó là lòng tin chữa, lòng tin cứu. Nơi Matthêu, khi các môn đồ không trừ được quỉ ám, Chúa Giêsu đã phải than lên, “Ôi thế hệ cứng tin và tà vạy! Cho đến bao giờ nữa Ta sẽ ở với các ngươi; cho đến bao giờ nữa ta sẽ phải chịu đựng các ngươi!” (Mt. 17:17). Câu Phúc Âm này minh chứng Chúa Giêsu đã nghĩ rằng các môn đồ của Ngài dùng đức tin trừ được quỉ, nhưng họ không làm được chỉ vì không biết đức tin là gì để rồi Ngài phải đoan chắc, “Quả thật, Ta bảo các ngươi, nếu các ngươi có lòng tin bằng hạt cải, thì các ngươi có bảo núi này: Hãy bỏ đây qua đó, nó cũng sẽ chuyển qua, và các ngươi sẽ không bất lực trước một điều gì” (Mt. 17:20; Mc. 11:22). Câu này rõ ràng minh chứng, Chúa Giêsu không bảo hãy cầu Ngài hoặc cầu Thiên Chúa; mà là, “Nếu các người có lòng tin bằng hạt cải.” Đã có lần con được xem hạt cải do một linh mục đi hành hương đất thánh đem về; nó nhỏ như hạt cát mịn. Thế nên, nói rằng nếu có lòng tin bằng hạt cải có nghĩa không có chút nào. Thêm vào đó, nơi Phúc Âm Matthêu đoạn 21 câu 21 lời đoan chắc này được lặp lại, “Quả thật, Ta bảo các ngươi, nếu các ngươi có lòng tin và không nghi ngại, thì các ngươi không chỉ làm được điều xảy ra cho cây vả, mà cho dù các ngươi có bảo núi này 'xê đi mà nhào xuống biển' thì sự cũng sẽ xảy ra” (Mt. 21:21; Lc. 17:6).

- Thưa cha, thưa bác, thưa ba, quý anh chị em, những câu Phúc Âm Matthêu minh chứng lòng tin mang quyền lực tối thượng nơi mỗi người. Trong trường hợp so sánh lòng tin với phẩm lượng hạt cải, con nghĩ để ám định rằng môn đồ của Chúa cũng chẳng biết đức tin là gì. Các môn đồ theo Chúa Giêsu, được chính ngài dạy bảo mà vẫn không biết đến nỗi Ngài phải than, “Ôi thế hệ cứng tin” là thế nào? Đồng thời nơi Phúc Âm Gioan, Ngài đương đường công bố, “Quả thật, quả thật, Ta bảo các ngươi: kẻ tin vào Ta, thì các việc Ta làm kẻ ấy cũng sẽ làm, và sẽ làm được những việc lớn lao hơn thế nữa” (Gioan 14:12). Qua kinh nghiệm sống, khi chúng ta nghĩ hay nói thực sự tin vào một chuyện gì mang tính chất chuyện đó có thật. Nhưng khi nóí tin vào một người nào, chúng ta nghĩ rằng những điều người đó nói ra sẽ xảy đến đúng như người ấy nói. Nơi câu Phúc Âm này, Chúa Giêsu minh xác, tin vào Ngài thì các việc Ngài đã làm, người được gọi là tin cũng sẽ làm được. Xét thế, tin vào đức Giêsu mang nghĩa ẩn chứa điều kiện thực hành nào đó chứ không phải chỉ nghĩ suông là tin chắc những điều Ngài nói là đúng, là sự thật thì có thể làm được như Ngài. Phải thế nào, thực hành những gì để câu Phúc Âm này trở thành hiện thực nơi mỗi người, có lẽ cần được cha nêu lên và giải thích cũng như đưa ra phương pháp áp dụng. Như vậy, thiển nghĩ, các môn đồ cũng như chúng ta, có đức tin nhưng đã không nhận ra, không nhận biết, không nhận thức được, không biết cách nào để thực nghiệm. Nói thế, phỏng những gì chúng ta tuyên xưng, mệnh danh là đức tin không phải là đức tin được trình bày qua Phúc Âm. Có, nhưng không biết nó là gì; có, nhưng không nhận thức được nên không dùng được. Người Mỹ có câu nói, “You don’t use it; you loose it,” anh không sử dụng khả năng của anh, anh sẽ mất nó. Tuy nhiên, con thực tâm nghĩ, đức tin nơi mình không thể biến mất vì nó chính là quyền lực của Thiên Chúa, quyền lực sự sống, quyền lực hiện hữu nơi mình mà chỉ vì không được nhận biết nên không xài được. Ngưng một chút, hơi đăm chiêu, Thanh nói tiếp,

- Thế cho nên, con nghĩ, Chúa Giêsu đặt vấn đề, “Phỏng khi Con Người trở lại có còn thấy lòng tin trên mặt đất nữa chăng” (Lc. 18:8), có thể rơi vào trường hợp cha đã nói, “Chỉ tiếc là những người tin theo đã không để ý nghiệm chứng mà chỉ biết rập khuôn theo mẫu mực sẵn có khiến cho cái tinh tuý, cái gốc tủy của chủ thuyết, của đạo học mỗi ngày một phôi phai. Lâu dần, những mấu chốt tâm linh bị lãng quên đến nỗi ngay những người được đặc biệt huấn luyện để thuyết giảng, triển dương giáo phái cũng không thể nhận biết thì sao có thể nói đến tín đồ. Kết quả thế nào mọi người đều nhận thấy, người ta cứ bám vào các nghi thức vô hồn để rồi tin tưởng cứ làm đúng theo những nghi thức như thế hầu thỏa mãn một phần nào khát vọng bẩm sinh thường ngày đêm thôi thúc.” Nói đến đây, giọng Thanh chùng xuống và im lặng. Vài giây sau lên tiếng,

- Thưa cha, con có câu hỏi hơi quá nhưng đã lỡ nghĩ đến nên xin cha giải thích. Đó là đã hơn hai ngàn năm qua, nói chung, Kytô giáo dạy gì để đến nỗi câu Kinh Thánh vẫn nằm chình ình đấy mà không thấy ai nhắc đến?

- Đến cả cuốn Kinh Thánh cũng trở thành phương tiện triển dương giáo phái phương chi là chỉ một câu. Anh chị em biết rõ, Kinh Thánh được viết bên Trung Đông nhưng bị lối nhìn, quan điểm Tây Phương diễn giải theo nghĩa từ chương thiếu nghiệm chứng. Thêm vào đó, những vị thông thái đó không dám chấp nhận một nhận thức hay quan điểm, có thể đúng và cũng có thể sai; hoặc là đúng nơi đất nước này, có thể sai nơi đất nước khác, đúng nơi trường hợp này, sai nơi trường hợp khác. Hơn nữa, để cho mau và dễ dàng minh chứng, người ta không thể bỏ được thói quen cố hữu đưa ra một điểm, một chủ đề nào đó và dùng mọi phương tiện gán ép minh chứng theo quan điểm của mình; chẳng hạn như anh vừa sử dụng Phúc Âm để minh chứng quyền lực lòng tin. Anh em để ý, diễn trình nghiệm chứng đi từ căn bản sống, hợp lý hợp tình, và chủ thể có thể chấp nhận được. Thí dụ, người Tây Phương chứng minh trái ớt lợi ích, thì tiền đề phải là lợi ích của trái ớt rồi từ đó diễn dịch, phân tích bằng nhiều cách để rồi minh chứng người này ăn thấy tốt, người khác ăn thấy ngon. Chiều hướng Đông Phương không làm thế mà đưa trái ớt ra trình diện trước, thử, và cho biết người này thích, người kia không ăn được cay, rồi tìm hiểu nguyên nhân tại sao người này thích, tại sao người khác không ăn được, và đối với mình thì sao. Nếu mình không ăn được, nghiệm chứng dừng lại nơi đó; vì nó không hợp với mình hoặc chỉ dùng với mực độ hơi cay; không ca tụng, không đoán xét vì nó là nó; nó không phải là bất cứ trái nào khác. Đông Phương nghiệm chứng; Tây Phương minh chứng, chứ không cần biết nó hợp với mình hay không. Anh minh chứng Phúc Âm nói về lòng tin mang quyền lực nhưng không trình bày nghiệm chứng. Những gì anh minh chứng chỉ là cái biết ngoài da, biết để mà biết, ai làm không được. Minh chứng từ Phúc Âm để rồi nghiệm chứng và tìm kiếm phương pháp thực hành để thực chứng; mà chưa thực chứng được có giải thích cách mấy thì cũng chỉ là hiểu biết, kiến thức. Anh em nên nhớ, đạo học Đông Phương không trình bày kiến thức mà dùng dụ ngôn, công án để hành giả thực chứng, biến nhận thức thành sự thể nơi mình. Đạo học Đông Phương không trình bày những lý thuyết suông mà đòi hỏi hành giả nhào vô, ngụp lặn trong đó sống với nó, biến nhận thức thành hành động. Thử hỏi, sự minh chứng quyền lực lòng tin đem lại lợi ích gì cho anh phương chi đối với chúng tôi chỉ là những người nghe. Biết để làm gì nếu không thể thực nghiệm, áp dụng nơi cuộc sống thì cái biết đó vô dụng, chỉ tiêu phí thời giờ mà thời giờ là chính cuộc đời. Biết những thực phẩm nơi bữa ăn ngon lành và bồi bổ, nhưng không ăn thì đói vẫn hoàn đói. Phỏng cái biết đó lợi ích gì cho cơ thể.

 
Thế là thiên hạ tối tăm mặt mày; bởi xưa nay như thói quen tưởng rằng hiểu biết những kiến thức sẽ nâng cao giá trị con người, giúp con người sống ý thức hơn; ai ngờ, sự hiểu biết kiến thức thiếu nghiệm chứng, thực chứng chỉ giống như thái độ giả tạo của lũ khỉ học làm người. Tất nhiên, người ta có thể dạy một con khỉ đánh đàn một bản nhạc tuyệt vời nhưng không thể nào dạy con khỉ trở thành nhạc sĩ. Cứ như những gì được minh chứng từ Phúc Âm đối với lòng tin đem suy luận, thì những giải thích, minh chứng xưa nay đang biến con người trở thành khỉ. Con người mang sẵn đức tin, lòng tin nhưng đã không thể nào sử dụng mà chỉ biết hô hào, quảng bá, minh chứng lòng tin chẳng khác gì khỉ chơi đàn. Lời Phúc Âm đâu đây vọng về nơi tâm trí, “Thật, tôi bảo thật các ông: ai nghe lời tôi và tin vào Đấng đã sai tôi, thì có sự sống đời đời và khỏi bị xét xử” (Gioan 5:24); “Không phải bất cứ ai thưa với Thầy: ‘Lạy Chúa! lạy Chúa!’ là được vào Nước Trời cả đâu! Nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời, mới được vào mà thôi. Trong ngày ấy, nhiều người sẽ thưa với Thầy rằng: ‘Lạy Chúa, lạy Chúa, nào chúng tôi đã chẳng từng nhân danh Chúa mà nói tiên tri, nhân danh Chúa mà trừ quỷ, nhân danh Chúa mà làm nhiều phép lạ đó sao?’ Và bấy giờ Thầy sẽ tuyên bố với họ: Ta không hề biết các ngươi; xéo đi cho khuất mắt Ta, hỡi bọn làm điều gian ác!” (Mt. 7:21-23); “Tại sao anh em gọi Thầy: ‘Lạy Chúa! Lạy Chúa!’, mà anh em không làm điều Thầy dạy? Ai đến với Thầy và nghe những lời Thầy dạy mà đem ra thực hành, thì Thầy sẽ chỉ cho anh em biết người ấy ví được như ai. Người ấy ví được như một người khi xây nhà, đã cuốc, đã đào sâu và đặt nền móng trên đá. Nước lụt dâng lên, dòng sông có ùa vào nhà, thì cũng không lay chuyển nổi, vì nhà đã xây vững chắc. Còn ai nghe mà không thực hành, thì ví được như người xây nhà ngay mặt đất, không nền móng. Nước sông ùa vào, nhà sụp đổ ngay và bị phá hủy tan tành” (Lc. 6:46-49); “Vì lòng dân này đã ra chai lại, chúng đã nặng tai nghe, chúng đã nhắm mắt lại” (Mt. 13:15). Lời Chúa như bữa ăn, không ăn, đói vẫn hoàn đói.

 
Những lời nói của cha Hải mang đầy thách đố như những nhát vồ đập vào màng tang người nghe khiến rúng động con tim tạo nên nỗi lo lắng, do nhận biết, đã bao lâu nay không hiểu biết Phúc Âm muốn nói gì để rồi tưởng rằng chỉ “nghe cho qua” là đủ. Ý nghĩ nào đó thoáng qua, thà đừng hiểu biết thì nỗi an bình tâm tưởng không bị giao động.

- Thưa cha, thế chúng con phải làm sao? Phương pháp nào để có thể áp dụng Lời Chúa? Ông trùm Phong lên tiếng hỏi.

- Có lẽ chúng ta chợt có cảm nghĩ thà không nhận thức được lời Phúc Âm sẽ có được nỗi an bình tâm tưởng. Và cũng có lẽ anh em lúc này đã hiểu được câu, “Ai từ chối tôi và không đón nhận lời tôi, thì có quan toà xét xử người ấy: chính lời tôi đã nói sẽ xét xử người ấy trong ngày sau hết” (Gioan 12:48). Ông trùm không cần vội lo lắng. Muốn thực chứng Phúc Âm cần nghiệm chứng; muốn nghiệm chứng cần hiểu biết và định tâm suy nghiệm. Phúc Âm cũng chỉ rõ điều kiện tâm trí để suy nghiệm và cũng là đề tài chúng ta sắp bàn tới. Riêng anh Thanh, chắc anh đã có thể trả lời được khúc mắc của anh.

- Thưa cha, đúng như cha nói, con cũng chợt có cảm nghĩ thà không để ý tìm hiểu về Phúc Âm thì có được nỗi an lòng giả tưởng. Càng biết về Phúc Âm thì càng như ngồi trên lửa; ngọn lửa ngu dốt đã bao lâu nay thiêu đốt mà mình vẫn an hòa chịu đựng nó. Nhưng thưa cha, chẳng lẽ đã hai ngàn năm qua người ta tránh đối diện với Phúc Âm?

- Họ không tránh đâu, nhưng nhận thức Phúc Âm với quan điểm hữu vi, từ chương thì cho đến muôn đời Phúc Âm cũng chỉ được mệnh danh là Lời Chúa; mà Lời Chúa thì chỉ để Chúa nghe, mình cứ an tâm và hãnh diện theo đuổi ước mơ thế tục của mình. Bây giờ có lẽ anh đã hiểu được tại sao nhà Phật gọi là thời mạt pháp.

- Thưa cha, ông trùm Hiểu lên tiếng, vậy bổn giáo lý chúng con được dạy từ đâu ra.

- Có thể nói, Phúc Âm thoát thai từ Cựu Ước và những giáo phái như Anh giáo, Tin Lành, Công giáo, Chính Thống giáo cũng từ Phúc Âm mà ra. Bổn hay giáo lý là lý thuyết niềm tin của Công giáo. Cũng như đức tin, chỉ có một Tin Mừng được diễn tả qua bốn Phúc Âm, nhưng từ những quan niệm khác biệt dựa trên các thư, người ta lại kiến tạo thành đức tin Công giáo, đức tin Tin Lành, đức tin Chính Thống, đức tin Anh giáo. Nhận định như thế thì bổn hay giáo lý cũng từ Phúc Âm được viết ra.

- Thưa cha, ông trùm Hiểu hỏi tiếp, sao bổn dễ hiểu mà Phúc Âm lại khó hiểu như thế?

- Thời còn nhỏ, chúng ta được dạy bổn đồng ấu và các kinh. Ngày xưa ở Việt Nam thì như thế nhưng nay giáo lý được phân định tùy trình độ. Bổn ngày xưa được viết để học thuộc lòng cho dễ nhớ vì cách đây 70 đến 100 năm ít người biết chữ; đặc biệt có quan niệm không nên cho con gái đi học vì e chúng chưa kịp lớn đã vội viết thư cho trai. Ngày nay, hầu hết biết chữ nên phương tiện học hỏi giáo lý cũng phải thay đổi.

- Thưa cha, ông trùm Hiểu hỏi tiếp, vậy những người không theo đạo Công giáo thì sẽ ra sao vì con được dạy là ai ngoài Công giáo không có ơn cứu rỗi, hoặc ai không được rửa tội thì sẽ không được vào nước thiên đàng.

- Đó chỉ là quan niệm xa xưa; có lẽ vì thời đó dân chúng còn đơn sơ nên nói gọn như thế cho tiện. Nói như anh Sỹ cho rằng các linh mục ở Việt Nam là đức chúa trời ngôi thứ tư; cha nói luôn luôn đúng và thực ra, mới chỉ mấy chục năm nay từ khi máy computer (vi tính) phát triển để rồi những phương tiện truyền thông cập nhật thì những suy tư thần học cũng phải được đặt vấn đề lại. Chẳng hạn câu hỏi, giã sử có loài người sinh sống nơi một hành tinh nào đó trong vũ trụ bao la bát ngát này thì ơn cứu độ của Chúa Giêsu có đến với họ không? Cho đến giờ vẫn chưa có câu trả lời, hoặc mới có mà tôi chưa biết. Chưa trả lời được cũng chỉ vì quan niệm hạn hẹp ơn cứu độ bị giới hạn nơi Chúa Giêsu mà quên rằng Chúa Giêsu được sai đến chứ không phải tự ý Ngài xuống thế. Riêng về quan niệm ai không được rửa tội thì không được vào nước thiên đàng đã bị lờ đi từ lâu vì Phúc Âm nói ai rửa tội cho thánh Giu se đâu hoặc ngoại trừ thánh Phao lô; Phúc Âm đâu có viết là có tông đồ nào chịu phép rửa tội đâu. Thật ra, tôi không nên trả lời ông về vấn đề này vì nó thuộc về tôn giáo. Trả lời như thế hơi bất nhã đối với những anh chị em thuộc tôn giáo khác. Thôi, cũng đành vậy, mong quý anh chị em thông cảm.

 
- Cha nói vậy chứ không phải Chúa Giêsu xuống thế để chuộc tội cho loài người à? Ông trùm Hiểu hỏi tiếp.

- Thế ông trùm, Bá cao giọng, ông có biết mục đích cuộc đời của Chúa Giêsu là gì không?

- Các cha vẫn thường giảng giải mà ông không biết hay sao lại còn hỏi như thế!

- Tôi không muốn nói đến các cha giảng giải, tôi chỉ muốn hỏi ông trùm. Ông có biết mục đích mà Chúa Giêsu được sai đến thế gian này làm gì không?

- Tôi không hiểu ông muốn hỏi gì vì ai không biết là Chúa Giêsu chịu đóng đanh trên cây thánh giá mà chuộc tội cho thiên hạ và đến ngày thứ ba sống lại. Ngay người ngoại đạo họ còn biết mừng lễ Sinh Nhật và ngày Chúa phục sinh. Thế mà ông hỏi mục đích là thế nào?

- Cho tôi nói, ông Thung lên tiếng khiến mọi người ngỡ ngàng, nếu tôi không lầm thì trong Phúc Âm, hình như Luca thì phải, có ghi lời đức Giêsu bảo hình như đi giảng Tin Mừng thì phải.

- Anh cả nói đúng, Thanh tiếp lời, nơi Phúc Âm Luca đoạn 4 câu 43 ghi lại, “Sáng đến, Ngài ra đi vào một nơi hoang vắng. Dân chúng đi tìm Ngài và đến nơi Ngài và họ cố cầm giữ Ngài lại, không để Ngài đi khỏi nơi họ. Nhưng Ngài bảo họ, ‘Ta còn phải đem tin mừng Nước Thiên Chúa cho các thành khác nữa, chính vì thế mà Ta đã được sai đến.’ Và Ngài đã rao giảng trong các hội đường nước Yuđê” (Lc. 4:43). Cứ theo câu này thì mục đích cuộc đời của Chúa Giêsu là rao giảng tin mừng Nước Thiên Chúa.

- Tin Mừng Nước Trời chứ làm gì có tin mừng Nước Thiên Chúa, ông trùm Hiểu đính chính.

- Giêsu ma lạy Chúa tôi, ông trùm có biết mình nói gì không? Giọng Tình chán nản.

- Sao mà nóng tính thế, ông Thung lên tiếng, ông trùm Hiểu mới tham dự với chúng ta lần đầu, chưa đọc Phúc Âm mà. Chú lại quên rồi, ý kiến không đúng, không sai.

Cha Hải giơ tay ra hiệu, đoạn nói,

- Nước trời hay nước Thiên Chúa cũng là một, và chúng ta thường hay gọi là thiên đàng. Anh Thanh nói đúng, mục đích cuộc đời của Chúa Giêsu chính là rao giảng Tin Mừng Nước Trời. Nói theo kiểu tôn giáo, Ngài được Thiên Chúa Cha sai đến để rao giảng Tin Mừng Nước Trời.

- Thưa cha, vậy Chúa Giêsu không chịu chết à? Ông trùm Hiểu cố vớt vát.

- Có, Ngài đã chịu khổ hình, bị đóng đanh trên thập giá, chết, được mai táng trong mồ và ba ngày sau sống lại, hiện ra vài lần với các tông đồ, đồng thời sai các tông đồ đi khắp nơi rao giảng Tin Mừng Nước Trời và rửa tội cho họ nhân danh Thiên Chúa Cha, Chúa Con, và Chúa Thánh Thần.

- Thưa cha, nếu nói rằng Thiên Chúa ba ngôi là một, một Chúa mà ba ngôi thì chính là Chúa Giêsu tự ý đến thế gian chứ làm gì có Chúa Cha sai Chúa Con vì Cha và Con cũng là một. Ông trùm Canh luận lý.

- Nói hay, cha Hải khen, nói như thế, suy luận như thế tại sao ông trùm không đi tu làm linh mục?

- Thưa cha, ở Việt Nam thời ấy con nhà nghèo sao có thể đi tu.

- Gia đình tôi còn nghèo hơn gia đình ông nữa nên phải đi lính để có cơ hội học tiếp.

- Thưa cha, con thuộc hạng sinh viên sỹ quan động viên thì làm gì có cơ hội. Sau khi cải tạo về, mò mẫm kiếm miếng ăn không đủ sao dám có ý gì phương chi là mơ ước.

- Trở lại vấn đề, nói như ông trùm, rất đúng, nhưng nơi trường lớp thần học mà nói như thế sẽ bị chụp cho chiếc mũ rối đạo bởi không phù hợp với truyền thống. Vấn đề này thuộc về tôn giáo nhưng tôi muốn minh định rõ hơn một chút để anh em nhớ mà tránh lỡ phát ngôn đúng nhưng sẽ bị kết án là rối đạo hay chống đối. Tôi có thể giải thích như sau, vì người ta đã không nhận thức được thực thể Thiên Chúa Ba Ngôi; nói cho đúng, vì Phúc Âm được tìm hiểu theo nhãn quan thế tục, theo nghĩa từ chương, chữ nghĩa thế nào thì giải thích theo nghĩa đen như thế sợ bị kết án, sợ bị sai lầm nên không thể nào suy nghĩ được một cộng với một chưa chắc đã là hai. Chúng ta thấy, hỏi bất cứ ai nơi trần gian này một cộng với một là mấy họ sẽ trả lời như chiếc máy là hai, nếu không cho mình là khùng vì không biết một cộng một là hai. Không tin tôi, ngày mai về hỏi bất cứ ai, vợ quý vị hoặc con cái của quý vị một cộng một là mấy; họ sẽ ngỡ ngàng nghĩ rằng mình bị nóng đầu. Bởi vậy, nói rằng tự ý Chúa Giêsu xuống thế làm người cũng đúng mà nói rằng Ngài được sai đến thế gian cũng không sai. Tôi nghe thấy ông Thung nêu lên chủ thuyết “Ý kiến tự nó không đúng không sai” mà không thấy ai lên tiếng phản đối. Giờ chợt nhớ lại, tôi muốn hỏi, ai bày ra câu nói ngang ngược như thế?

- Thưa cha, bác Tài.

- Nếu tôi không lầm, dạo này anh em nói chuyện với người ngoài coi chừng hay bị phê bình là nói ngang lắm phải không?

- Cũng tại bác Tài, Tình lên tiếng, thưa cha, ngay mấy hôm đầu tiên, vợ con cứ thắc mắc sao bác Tài biết nhiều thứ như thế mà nguyên những thứ ngang như cua, nhưng suy xét, lại hợp lý hợp tình. Thưa cha, vợ con người nam, mấy tiếng cười nhẹ chợt nổi lên, con muốn nói, vợ con người miền Nam rất dễ thương nhưng thẳng thắn, bộc trực, nên dễ đưa ra nhận xét như vậy.

- Phải không chị Tình, Bá hỏi.

Cả bọn cười ầm lên.

- Mấy cái ông quỷ này, người ta nói một đàng lại nghĩ xằng một nẻo. Đúng là thứ óc thối. Vợ Sỹ lên tiếng.

- Bộ chị ấy không phải là người nam thì là người nữ à? Bá đổ thêm dầu vào lửa.

- Làm sao mà biết, muốn biết thì phải hỏi chị Tình, Phủ đế vô, người đáng hỏi không hỏi lại cứ thích nghe hơi, ngồi chõ.

- Thôi đi mấy ông ơi, nghe xem cha nói gì.

- Tôi nghĩ, anh em đã hiểu được câu Phúc Âm, “Của thánh đừng cho chó, châu ngọc chớ quăng trước miệng heo kẻo chúng dày đạp dưới chân và quay lại cắn xé các ngươi” (Mt. 7:6).

- Thưa cha, khi đọc đến câu này con không thể hiểu được Phúc Âm muốn nói gì, Thanh lên tiếng, sao Phúc Âm dùng chữ quá nặng nề như thế.

- Có lẽ chúng ta còn lệ thuộc ngôn từ quá nhiều. Thường thì những công án bất chấp văn tự, và mục đích của công án là thách đố, dồn tâm trí người đọc vào chốn tối tăm, u mê của suy tư để rồi nhờ đó chợt ngộ khi vô tình được sự việc, sự kiện soi sáng. Ai cũng biết, Phúc Âm được kiến tạo bằng sự kết hợp những dụ ngôn và công án, nhưng đã được mấy ai thức ngộ từ Phúc Âm. Thiển nghĩ, chúng ta bị ảnh hưởng quan niệm và lối suy luận Tây Phương quá nặng nên quên đề nghị nơi Trang học, “Được ý quên lời.” Đối với Đông Phương, nền luân lý đại chúng khuôn mẫu hóa con người bao nhiêu thì ngôn từ nơi đạo học lại được giải phóng khỏi các khuôn mẫu tâm thức bấy nhiêu; vì ý mới là điểm tới, ngôn từ chỉ là phương tiện; thế nên đôi khi sự giải thích có vẻ ngây thơ nhưng lại cần thiết đối với đại chúng. Chẳng hạn nơi Phật học có câu, “Ngón tay ta chỉ mặt trăng nhưng ngón tay ta không phải là mặt trăng.” Ai không nhận ra được sự thể này nhưng thử xét nơi hành trình tâm linh, đã bao người, và qua bao thế hệ, chưa nhận thức được câu giải thích quá ngây thơ này để áp dụng hay vẫn bị lệ thuộc ngôn từ thay vì hướng về điểm chính yếu. Tôi cũng cảm thấy hơi lạ bởi không thấy ai phản đối khi tôi nói đức tin là tâm điểm cao nhất của Phúc Âm; trong khi ai không thấy tất cả những sự rao truyền về Phúc Âm lại được cho rằng trung tâm điểm của công việc cứu chuộc của Chúa Giêsu là sự khổ nạn; dẫu mục đích cuộc đời của Chúa Giêsu là rao giảng Tin Mừng Nước Trời, người ta cũng rất ít nhắc tới. Nói như thế, hy vọng anh em suy nghĩ hầu nhận thực được sự thể; phân định thực thể để có thể ấn định điểm nào khi nghiệm chứng.

 
- Thưa cha, ông trùm Hiểu lên tiếng, ngón tay ta chỉ mặt trăng nhưng ngón tay ta không phải là mặt trăng là chuyện quá thường ai cũng biết thì mắc mớ gì phải nói.

- Ông trùm, câu này đã có hơn hai ngàn năm trăm năm mà vẫn đứng vững chẳng những nơi sách vở mà còn trở thành điều kiện thiết yếu dẫn dắt hành giả nghiệm chứng nơi hành trình thức ngộ. Thanh lên tiếng. Tuy nhiên, có thể vì nó quá hiện thực mà người ta đã coi thường không nhận ra giá trị thực tiễn của nó. Đồng ý nghĩa với câu nói này là câu, “Lời ta nói như chiếc bè” cũng đã bị coi thường. Tôi không muốn nói đến tôn giáo nhưng nếu đem so sánh sự thực hành tôn giáo và đạo học, chúng ta thấy rất rõ ràng. Chẳng hạn Phật học chỉ nhấn mạnh đến tâm ý, và đỉnh điểm nhận thức của hành giả dù áp dụng phương pháp nào cũng chỉ là kiến tính. Thế sao lại phát sinh những nghi thức cúng, kiến. Phật học nói về cúng dường, giúp người sơ căn nhận biết về tri thức để nghiệm chứng, nhưng sao lại có những tỳ kheo khất thực, và rồi muôn lý thuyết, quan niệm về khất thực phát sinh. Không nói đâu xa, Phúc Âm nói rõ, “Thiên Chúa là Thần Khí nên những kẻ thờ phượng Ngài phải thờ phượng trong thần khí và sự thật” (Gioan 4:24); vậy những nghi thức thờ phượng, đọc kinh, cầu nguyện, hành hương, viếng mộ, viếng đất thánh từ đâu ra; chắc chắn là không phải từ trên trời bỗng nhiên rơi xuống. Phỏng Lời Chúa chưa đủ thỏa mãn lòng khát khao bẩm sinh nơi mỗi người nên phải đặt ra những hình thức phiền hà mới được giải thoát, mới được cứu độ. Nói ra, coi chừng cha và anh em sẽ lên án con, nhưng chúng ta thử nghĩ, nói rằng Chúa Giêsu chịu chết chuộc tội thiên hạ vì yêu thương con người thì mắc mớ gì mình phải ăn ngay ở lành, phải tránh phạm tội bởi đã có Ngài chết thay, đền thế. Phỏng sống ngay thẳng tốt lành là từ chối ơn cứu độ vì không phạm tội thì lấy gì cho Ngài cứu. Nói đến đây, con hình như mang máng hiểu được ý nghĩa tại sao cha nhắc đến điều kiện tâm trí nếu muốn nghiệm chứng Phúc Âm.

- Nơi hành trình nghiệm chứng, cha Hải lên tiếng, nếu không để ý, chúng ta sẽ rơi vào nhiều trường hợp khó khăn, bế tắc. Có lẽ ai trong chúng ta cũng biết câu tục ngữ, “Người ta canh kiệu thì ngon, tôi canh hương án thì đòn vào lưng.” Không để ý hoặc hiểu sai ý nghĩa của một vài ngôn từ, coi chừng chúng ta rơi sâu vô quan niệm thế tục. Nói cho dễ hiểu, nếu anh em đã thức ngộ về Phúc Âm, thiển nghĩ, sự hiện diện của tôi nơi đây hoàn toàn vô ích. Thêm vào đó, khi đọc kinh sách, anh em cũng nên đặt lại vấn đề vì coi chừng sách vở đã được viết hoặc dịch từ nhiều năm về trước, những ngôn từ theo thời gian và địa phương thay đổi nên đôi khi có những câu vì không hiểu sự thể hay sự việc được câu nói hay dụ ngôn nhắc tới, mà chúng ta không thể tưởng tượng ra được; thế là bị rơi vào trường hợp nghịch thường, càng cố gắng chỉ càng gặp thêm khó khăn. Thí dụ câu tục ngữ, “Lấy râu ông cắm cằm bà.” Mặc dầu câu này cũng có nghĩa riêng của nó nhưng thực ra, câu này phải được nói hay viết là, “Lấy dâu ông, ném tằm bà.” Ý nghĩa chỉ về nỗi lòng tình tứ của người đàn ông tỏ bày với người đàn bà. Thử nghĩ lại coi, chúng ta đã bị lầm lẫn câu nói này đã bao nhiêu ngày tháng.

- Thưa cha, chị Tình lên tiếng, canh hương án là canh gì mà bị đòn vào lưng?

- Có câu chuyện ngụ ngôn như sau. Ngày xưa, có ông nhà quê kia đi dự đám tiệc, về nhà cứ tấm tắc khen chủ nhà cho ăn món canh củ kiệu tuyệt ngon. Dĩ nhiên, bà vợ nào không chiều chồng và không muốn nấu những bữa ăn ngon cho chồng con. Riêng bà vợ ông này người bắc, chứ không phải người nam, nói đến đây, vài người cười to tiếng, cứ thắc mắc không biết canh kiệu là canh gì mà lại được chồng mình thích như thế. Một hôm đi chợ ngang qua đình làng, bà vợ nhân tiện ghé vô cầu xin cho gia đình được an khang. Đến bàn hương án thắp nhang khấn vái, bà ta mới chợt nhớ chồng mình khen món canh kiệu. Bà nghĩ, kiệu hay hương án cũng đồng một thứ vì người bắc gọi hương án là bàn nhang khói cố định, kiệu là trang thờ do người ta khiêng các tượng thần cũng được thắp nhang trên đó. Bởi vậy, bà ta có ý nghĩ, kiệu hay hương án cũng đồng một thứ. Thế rồi bà ta vơ vét chân nhang cùng tàn nhang gói về nấu món canh kiệu, lòng hí hửng vì sẽ được chồng khen. Chẳng ngờ, đến bữa ăn, ông chồng thấy tô gì mà nổi lềnh bềnh chân nhang lại được bỏ vô mâm cơm bèn hỏi. Bà vợ trả lời thấy bố mình khen món canh kiệu ngon thì nhân tiện ghé qua đình làng, tôi lấy tàn nhang về nấu canh kiệu cho bố mình dùng. Ông chồng sững sờ, chợt nổi điên bưng ráo cả mâm cơm quăng ra ngoài. Nhân chuyện đó mới có câu tục ngữ, “Người ta canh kiệu thì ngon, tôi canh hương án thì đòn vào lưng.” Chẳng hiểu ông chồng có tức quá mà đánh vợ không nhưng tục ngữ nói vậy thì mình đọc vậy. Chị biết cái kiệu để rước Chúa, rước Phật chứ gì? Tôi nghĩ chị biết rành về những món liên quan tới củ kiệu hơn tôi.

- Thưa cha, cũng giống như chiếc gầu với chiếc môi, kỳ con mới cưới, về nhà ảnh, cô em nói đưa chiếc môi, con chẳng hiểu là cái gì, ngớ cả ra. Chị Tình với giọng ngọt ngào miền Nam nói.

- Thế nên, khi đọc kinh sách, chúng ta cần để ý ngôn từ. Vì nghiệm là nghiệm chứng cho mình; không ai biết mình suy nghĩ thế nào và cách nào. Tất cả những ý nghĩ, giả sử có thể xảy ra trong vòng luận giải nơi tâm trí, chúng không đúng, không sai, chúng là chúng. Mục đích của nghiệm chứng là thức ngộ chứ không đụng đến thần thánh hay phản nghịch, đối nghịch bất cứ chiều hướng nào. Kinh nghiệm cho thấy, nếu tự mình chứng được câu nào đó, hành trình nhận thức từ đó sẽ phát triển rất nhanh khi mình để tâm. Nào, bây giờ chúng ta tiếp tục tiết mục chi? Cha Hải hỏi.

- Thưa cha, nếu tôn giáo phát xuất từ đạo học mà không phát triển đạo học thì mục đích của tôn giáo là gì? Ông trùm Hiểu lên tiếng.

- Ông theo đạo mà lại hỏi mục đích của tôn giáo! Tôi làm sao trả lời được mục đích của ông. Nói đúng ra, ông theo thì ông đã biết tôn giáo sẽ dẫn ông đến mục đích nào chứ!

- Thưa cha, bố mẹ con đem con đến nhà thờ rửa tội khi mới sinh được ít ngày. Lớn dần học giáo lý, đi lễ, đi nhà thờ, thờ phượng Chúa, đọc kinh cầu nguyện xin Chúa ban cho khoẻ mạnh, gia đình an khang, nghe lời các cha giảng giải để biết đường sống tốt lành và được hưởng ơn cứu độ khỏi phải sa hỏa ngục. Có bao giờ con nghe nói về mục đích của tôn giáo đâu vì được dạy rằng Chúa đã tạo dựng nên mình do đó mình có bổn phận phải tôn thờ Chúa. Mình tôn thờ Chúa cần phải có mục đích sao, thưa cha.

- Thưa cha, Thanh lên tiếng, con có ý kiến trả lời ông trùm được không?

- Mời anh.

- Ông trùm không nhắc đến ngôn từ mục đích mà những gì ông nói chính là mục đích theo đạo của ông. Chẳng hạn đi nhà thờ để tôn thờ Chúa, cầu nguyện cho gia đình an khang, nghe lời giảng giải để sống tốt lành. Đó chính là những mục đích theo đạo của ông. Riêng về mục đích của tôn giáo nói chung, đều có cùng mục đích với các đạo học dẫu người ta biết hoặc để ý đến hay không. Tôn giáo và đạo học đều bắt nguồn từ lòng khát khao bẩm sinh nơi mỗi người. Lòng khát khao này chính là nỗi thao thức nhận biết thực thể mình là gì. Liên hệ giữa mình với thế giới, vũ trụ này ra sao, và cuộc đời mình có nghĩa gì để rồi sau khi chết mình thế nào. Tựu chung nơi cuộc đời, khi nào một người nhận thực được thực thể chính mình thì gọi là thức ngộ; nhà Phật gọi là thành Phật. Có ba con đường đồng hành nơi hành trình nhận thức thực thể chính mình tùy căn cơ mỗi người. Ai được sinh ra với lòng khát vọng mạnh mẽ, cuộc đời họ sẽ đi vào con đường chiêm nghiệm dù hoàn cảnh sống thế nào. Con đường khác, nhà Phật mệnh danh là minh triết, con đường thức ngộ nhanh nhất là dùng kiến thức, khả năng suy lý một cách ý thức để thức ngộ. Và hành trình còn lại đối với  đại đa số quần chúng là tôn giáo. Tôn giáo đặt nền tảng trên niềm tin và cầu nguyện. Khi mình cầu nguyện, mình định tâm để bày tỏ ước muốn. Không có gì có thể làm mẫu mực để so sánh giữa ba dạng thức này vì mỗi dạng thức hòa hợp với căn cơ mỗi người. Các vị thức ngộ trước tác những tác phẩm được gọi là kinh chẳng hạn nhà Phật có Kinh Kim Cang, Kinh Đại Niết Bàn, Kinh Viên Giác v.v… Lão học có Đạo Đức Kinh, Trang học có Nam Hoa Kinh, Thiên Chúa giáo có Kinh Torah, Kytô học có Kinh Thánh Tân Ước. Những kinh này là căn bản, gốc gác cho các tôn giáo đi theo. Chẳng hạn Kytô giáo bao gồm Công giáo, Chính Thống giáo, Anh giáo, Thệ Phản, Tin Lành. Hệ phái Tin Lành lại gồm có khá nhiều học phái liên hệ. Mới tham dự với chúng tôi, ông trùm đã có thể nhận thấy sự khác biệt. Các kinh của đạo học có cơ cấu liên kết các dụ ngôn và công án lại với nhau tạo thành một câu truyện chỉ dẫn hành trình nhận thức. Dẫu tôn giáo lấy các kinh làm gốc nhưng vì tôn giáo phải đối diện với tổ chức nhân sinh không đồng nhất căn cơ và kiến thức, lại lắm chiều hướng, thêm vào đó, sự ảnh hưởng của nhãn quan hữu vi, hiểu biết kinh sách đạo học theo nghĩa từ chương, nên tôn giáo đặt nặng vào niềm tin và cầu khẩn thần thánh cứu giúp trong sự cố gắng tinh tiến của con người nơi hành trình tâm linh; mà ở Công giáo được gọi là hành trình đức tin. Con tạm dừng nơi đây, nếu có gì thiếu sót xin cha và quý vị bổ túc thêm. Xin cảm ơn.

- Thưa ông, Công giáo thuộc về Kytô giáo chứ không phải là Chúa Giêsu à?

- Thưa cha, nhờ cha giải thích.

- Nói chung, những người tin tưởng vào Thiên Chúa và đức Giêsu, được chịu phép rửa tội đều thuộc về Kytô giáo. Chữ Kytô từ tiếng Hy Lạp Christós, ngày xưa tiếng Việt mình đọc là KyTô. Ngày nay gọi chung những nhóm tin tưởng vào Chúa Giêsu là Christianity, tiếng Việt gọi là Kytô giáo.

- Vậy thưa cha, ông trùm Hiểu hỏi tiếp, thế sao kinh Ngày Chủ Nhật lại dạy rằng ai chẳng thông công cùng hội thánh thì chẳng được rỗi linh hồn mà sao lại có lắm đạo khác tin vào Chúa Giêsu chẳng thông công cùng hội thánh, vậy rồi sao?

- Lần trước cha đã giải thích với anh em rằng ngày nay người ta không nghĩ như thế nữa vì đó là quan niệm ngày xưa cả trăm năm rồi. Thanh trả lời.

- Thưa cha, nếu nói vậy thì trăm năm sau những gì chúng con tin tưởng bây giờ sẽ ra sao?

- Anh Thanh có thể giải thích được không? Cha Hải hỏi Thanh.

- Không những mới hơn kém trăm năm, quan niệm con người thay đổi, mà từ hai ngàn năm trước tới nay giáo hội Công giáo đã mấy lần họp công đồng, và cứ mỗi lần họp công đồng thì lại phát sinh thêm một bè phái khác bởi có thêm quan niệm và chiều hướng khác. Riêng vấn đề trăm năm tới ai mà biết; vì giả sử cuộc hội luận của chúng ta xảy ra một hoặc hai trăm năm trước, chắc chắn chúng ta phải bị kết án lên giàn hỏa thiêu. Thiển nghĩ, vấn đề ông trùm đặt ra thuộc về tôn giáo; chúng ta có lẽ để dành dịp khác nói chuyện hợp lý hơn. Quay về phía cha Hải, Thanh hỏi,

- Thưa cha, bây giờ chúng ta tiếp tục đến tiết mục nào?

- Khoan, thưa cha, cho con xin hỏi, ông trùm Phong lên tiếng, thưa cha, ông Thanh nói, kinh nhà Phật, kinh nhà Lão, kinh Tân Ước, vậy kinh chúng con đọc hằng ngày có thuộc về những kinh ấy không?

- Ông hỏi có lý! Cha Hải trả lời. Đây là lý do tại sao tôi nói mọi người nên để ý đến ngôn từ được viết nơi kinh sách. Nói về đạo học, được mệnh danh là “Kinh” có nghĩa những trước tác của các nhà thức ngộ để lại hầu giúp con  người nghiệm chứng. Loại kinh này được viết dưới dạng dụ ngôn và những công án, ý nghĩa thâm sâu nhưng ngôn từ dùng một cách mập mờ, ám định giống như những truyện ngụ ngôn hoặc Ca Dao hay Tục Ngữ. Thí dụ, chúng ta thường nghe nói câu, “Ăn trông nồì, ngồi trông hướng,” “Mất bò mới lo làm chuồng,” hay “Thương thì cau bẩy bổ ba, chẳng thương cau bẩy bổ ra làm mười,” Nơi Phúc Âm có rất nhiều công án; chẳng hạn, “Kẻ nào yêu cha mẹ hơn ta không đáng là môn đệ ta,” hay, “Nếu mắt ngươi làm cớ cho ngươi vấp phạm thì móc mà quăng chúng đi.” Nói về kinh hạt, những anh chị em theo đạo Công giáo sẽ nhận ngay được sự khác biệt với kinh sách đạo học. Chẳng hạn kinh Ngày Chủ Nhật, kinh Lạy Cha, kinh cầu Chịu Nạn, kinh ăn năn tội. Những kinh này thường thì để cho giáo dân học thuộc lòng cho dễ nhập tâm và áp dụng nơi cuộc sống thường ngày. Kinh cầu Chịu Nạn thì giúp cho người đọc theo thứ tự cuộc đời Chúa Giêsu mà suy nghiệm. Kinh Lạy Cha, Kính Mừng, Sáng Danh giúp cho người đọc định tâm mà suy nghiệm những ý nghĩa nơi kinh. Nơi Ấn học có thực hành Yoga, và phổ thông nhất là ngôn từ Aum, miệng hành giả phát âm ngôn từ Aum trong khi thở ra và hít vào, ý dẫn luồng hơi chạy theo những trung tâm kinh mạch nhất định theo phương pháp nào đó. Nhà Phật cũng có mantra hay chuỗi bồ đề. Mantra bắt nguồn từ Ấn học, đó là một câu nói hay một công án, hành giả lặp đi lặp lại giúp định tâm nghiệm chứng. Chuỗi bồ đề của nhà Phật thì được dùng giống như niệm mantra nhưng ngôn từ ngắn gọn chẳng hạn A Di Đà Phật, hoặc Nam Mô Phật, nam mô A Di Đà

- Thưa cha, ông trùm Phong hỏi tiếp, Kinh Tân Ước chỉ được coi là kinh chứ không phải lời dạy của Chúa Giêsu sao?

- Lần trước ông không có ở đây tôi đã giải thích, chẳng hạn câu nói, “Cha ta và ta là một” là một công án nơi Ấn học mà RamaKrishna đã ngộ nơi một ngôi chùa cổ hơn kém năm ngàn năm về trước; cũng như câu, “Kẻ trước hết sẽ trở nên sau hết” là một công án nơi Lão học cỡ hai nghìn năm trăm năm trước đây. Đạo Đức Kinh được cho rằng Lão tử viết ra, nhưng Lão tử là danh hiệu của một cụ già đáng kính, không phải là tên của vị trước tác. Theo các học giả Kinh Thánh, Phúc Âm được viết vào khoảng năm 70 tới năm 100 sau công nguyên, và bốn thánh sử, Matthêu, Marcô, Luca, và Gioan chỉ là mệnh danh của nhóm người hay cộng đồng trước tác. Chúng ta đọc thấy nơi Phúc Âm, Chúa Giêsu sai các môn đồ đi rao giảng cho những con chiên lạc của Israel mà thôi. Sau này, nếu không có thánh Phao lô rao giảng cho dân ngoại thì chúng ta làm gì biết đến Công giáo hay Kytô giáo. Tôi chỉ biết kể ra như thế chứ không quyết đoán chuyện xảy ra thế nào. Tuy nhiên, Phúc Âm được gọi là Lời Chúa thì điều quan trọng là tìm hiểu và nhận thức Phúc Âm; nói gì thì nói, dẫu có cho rằng Phúc Âm là thế này, là thế kia hay được viết thế nào hoặc nên thế nào đâu có mang lại lợi ích gì cho nhận thức, cho phần rỗi con người. Gọi Phúc Âm là kinh theo nghĩa nơi đạo học hay gọi là Lời Chúa nào có chi phiền hà tới nhận thức về Phúc Âm. Điều quan trọng là làm thế nào để Phúc Âm trở thành hiện thực nơi cuộc sống của mình chứ hiểu biết về Phúc Âm thì đã hai ngàn năm qua, Lời Chúa vẫn mù mờ đối với mọi người, không riêng gì chúng ta. Tôi nói điều này anh em nên để ý, người ta đã không hiểu Phúc Âm nói gì và làm sao có thể áp dụng nơi hành trình đức tin nên đổ dồn vào con người của đức Giêsu. Thử hỏi, tôn thờ Chúa Giêsu, ca tụng Ngài thế nọ, thế kia có thay đổi gì được Ngài không; trong khi Ngài dạy, “Không phải bất cứ ai thưa với Thầy: “Lạy Chúa! lạy Chúa!” là được vào Nước Trời cả đâu! Nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời, mới được vào mà thôi” (Mt. 7:21). Thi hành ý muốn của Thiên Chúa là gì nếu không phải trước tiên cần nghiệm chứng lời Chúa, lời Phúc Âm, để rồi thực chứng trong cuộc đời. Không cần nói gì nhiều, tôi hỏi anh em có ai biết tại sao đức Giêsu biến nước thành rượu ở tiệc cưới Cana?

- Thưa cha, dễ mà, vì uống rượu ngon hơn uống nước lạnh ạ. Sỹ trả lời.

Thế là mọi người đang căng thẳng do nghe cha Hải giải thích chợt cười thoải mái vì câu trả lời có vẻ ngây ngô nhưng hiện thực, lại khác với ý nghĩ ai cũng biết bởi Phúc Âm viết vì nhà đám hết rượu đang giữa tiệc cưới.

- Thưa cha, Tình giơ tay, con nghĩ vì các môn đồ của Ngài là dân chài lưới quen ăn đầu sóng, nói đầu gió, nên bất kể, uống hết rượu, và Chúa Giêsu biết được bởi ngồi cùng bàn nên do e bẽ mặt vì mấy tên đệ tử ham ăn ham uống, Ngài phải biến nước thành rượu.

- Con đồng ý với Tình bởi theo Phúc Âm, lúc ấy Chúa Giêsu bực với mấy môn đồ quá mà Đức Mẹ lại nói nhà đám hết rượu nên Ngài trả lời ngang ngang cà bứa vì thẹn, “Này bà, giữa tôi và bà, nào có việc gì” (Gioan 2:4). Nơi cuốn Kinh Thánh Tân Ước 1994 nói tránh đi nên viết, “Thưa bà, chuyện đó can gì đến bà và con?” Bá hùa theo.

 

Mấy ông trùm ngớ ra, sao họ dám đem cả Lời Chúa ra mổ xẻ, diễu cợt, mà chẳng thấy cha nói gì, coi chừng lại có vẻ cổ võ nữa. Đồng ý rằng, ai thì cũng đang ngà ngà, say say, nhưng say sao cái nhà ông ngoại đạo lại biết về Phúc Âm rành hơn mình mà lại còn bênh mình khi lỡ cơ nữa. Ông trùm này nhìn ông trùm kia hội ý nhưng cũng không biết nên nghĩ thế nào và nên nói làm sao; trong khi thiên hạ, lương cũng như giáo, bất chấp, có cơ hội vui thì cứ vui. Còn cha Hải thì đã có tuổi rồi thế mà karaoke cũng hát, mà hát mùi mẫn nữa. Cái nhà chị Tiên bán phở lại đến đứng kè kè bên chỗ cha ngồi, cúi đầu nói gì không biết, ra bộ thân tình lắm giữa đám quân hồi vô phèng mà cũng chẳng thấy ai nói sao.

- Con cháu thánh Phêrô, nào cùng nâng chai. Đã không nâng thì thôi, nâng một lần là hết một chai. Tình khới xướng và nâng cao chai bia chờ mọi người.

Bốn ông trùm cũng đành nâng bia uống cạn để những chai bia mới chuyền tới.

- Nhân nói về kinh sách và nghiệm chứng, cha Hải nói tiếp, nếu nhìn tôn giáo qua quan điểm nhận thức, tôn giáo được coi như phương tiện để con người bày tỏ tâm hồn mình với các đấng linh thiêng tùy theo nhận thức của mỗi người khi họp nhau để thờ phượng. Những lời kinh, lời cầu nguyện tập thể được đại diện bởi vị chủ tế hướng dẫn và nâng tâm hồn người tham dự nếu họ thành tâm, nguyện ý và dồn hết mọi năng lực hòa lòng cùng diễn tiến của việc thờ phượng. Thử đặt mình vào trường hợp đó, sự cầu nguyện bày tỏ ý định và lòng chân thành cộng hưởng tạo nên sức mạnh tâm linh. Anh em nên để ý, nếu không, tốn giờ vô ích; tôi muốn nói, nếu tâm không thành thì may ra tạm có nỗi an bình giả tưởng.

- Thưa cha, ít nhất, Bá lên tiếng, họ đã có công tham dự.

- Tham dự bữa tiệc mà không ăn uống gì, thử hỏi chúng ta được gì? Hưng nói.

- Thưa cha, chính sự hiện diện đã bày tỏ tâm tình của mình với chủ mời. Bá thêm vô.

- Anh nói về giá trị của tâm tình qua sự hiện diện, vậy tâm tình ở đâu khi tham dự việc thờ phượng với tâm không thành, ý ở nơi khác. Tôi nhắc lại, khi cầu nguyện tức là sử dụng năng lực nội tại, năng lực sự sống của Thiên Chúa nơi mình được bày tỏ qua ý định, ước muốn. Năng lực nội tại hay năng lực sự sống chính là đức tin, lòng tin. Chúng ta đã nghe anh Thanh minh chứng đức tin qua Phúc Âm. Tôi muốn nhắc lại, chúng ta thường lầm tưởng sự tin tưởng, niềm tin, với đức tin. Đức tin là quyền lực của Thiên Chúa, quyền lực, năng lực sự sống nơi mỗi người. Quan niệm, hay cho rằng, hoặc nói rằng, tin tưởng Chúa nghe lời cầu nguyện của mình khác hẳn sự thể thực sự ước muốn điều mình muốn xảy ra. Phúc Âm ghi rõ lời đức Giêsu minh xác, “Tất cả những gì anh em lấy lòng tin mà xin khi cầu nguyện, thì anh em sẽ được” (Mt. 21:22). “Vì thế, Thầy nói với anh em: tất cả những gì anh em cầu nguyện và xin, anh em cứ tin là mình đã được rồi, thì sẽ được như ý” (Mc. 11:24). Như vậy, chúng ta thấy, quyền lực của lòng tin cũng chính là quyền lực nơi ý định, ước muốn của một người. Anh em đã biết, ý định, ước muốn phát xuất tự linh hồn, Thiên Chúa nội tại, chứ không phải nơi bộ óc. Vì thế, Phúc Âm được ghi, “Các ngươi đã nghe bảo: chớ ngoại tình. Còn Ta, Ta bảo các ngươi: Phàm ai nhìn người nữ để thỏa lòng dục thì đã ngoại tình với nó trong lòng” (Mt. 5:28). Chính ý định, ước muốn tạo nên một thực thể được gọi là ngoại tình trong lòng. Hơn nữa, Phúc Âm còn được viết, “Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết: ai giận anh em mình, thì phải bị đưa ra toà. Ai mắng anh em mình là đồ ngốc, thì phải bị đưa ra trước thượng hội đồng. Còn ai chửi anh em mình là quân phản đạo, thì phải bị lửa hoả ngục thiêu đốt” (Mt. 5:22). Đã bao giờ anh em để ý câu nói, “Quả thật, Ta bảo các ngươi: mọi điều dưới đất các ngươi cầm buộc thì cũng sẽ bị cầm buộc trên trời, và mọi điều dưới đất các ngươi tháo cởi, thì cũng sẽ được tháo cởi trên trời” (Mt. 18:18). Ý định, ước muốn mang quyền lực ràng buộc con người chẳng những khi còn nơi cuộc đời dương thế mà còn kéo dài tới cuộc sống sau này của linh hồn.

- Thưa cha, chúng con được dạy rằng quyền cầm buộc hay tháo cởi do Chúa Giêsu ban cho các tông đồ và những đấng kế vị trong hội thánh. Nếu con không lầm thì cha vừa nói quyền cầm buộc hay tháo cởi điều gì đều ở nơi mọi người.

- Thường thì sự cầm buộc được hiểu theo hai nghĩa, người khác cầm buộc mình và mình cầm buộc chính mình. Phúc Âm nói về hành trình đức tin nơi mỗi người. Nơi tôn giáo, các vị bản quyền hay thuyết giảng giải thích và lấy quyền đó áp đặt trên tín đồ trong giới hạn tín đồ đã chấp nhận quy luật của tổ chức, chẳng khác gì nơi trường hợp chúng ta phải tuân theo luật lệ quốc gia, luật lái xe, mặc dầu chúng ta không đặt ra luật lệ lái xe. Những luật lệ này được đặt ra vì lợi ích nhân sinh, dĩ nhiên, ai không tuân giữ sẽ làm hại đến chính họ và những người khác nên phải được áp đặt một cách mạnh mẽ và hữu hiệu. Xét theo phương diện tâm linh, những gì chúng ta cầm buộc chính là những gì chúng ta theo đuổi, ước muốn. Vì ước muốn, ý định phát xuất từ linh hồn thế nên những gì chúng ta theo đuổi nơi cuộc sống này, khi thân xác qua đi, linh hồn vẫn tiếp tục theo đuổi ước muốn đó. Nhận xét như thế, anh em hiểu rõ ràng hơn trường hợp “Người ước muốn giầu có của cải, danh vọng thế tục thì khó vào Nước Trời hơn con lạc đà chui qua lỗ kim.” Tôi thử hỏi anh em, nếu mình muốn áp đặt hay cầm buộc sự gì đó trên người khác, họ có bị lệ thuộc sự cầm buộc của mình không? Ngược lại, nếu mình ước muốn làm lụng sao cho có tiền nuôi sống gia đình thì ước muốn này ảnh hưởng mình thế nào anh em biết rõ. Tuy nhiên, đối với một người khác lười lĩnh, nếu mình đặt vấn đề cầm buộc người đó phải chịu khó làm lụng lo lắng cho gia đình của họ thì ước muốn của mình có ảnh hưởng chi đến ông ta không? Thế cho nên, chúng ta có thể suy ra, sự cầm buộc do chính quyền lực của ước muốn, ý định của mình; nói cách khác sự cầm buộc do chính đức tin của mình, quyền lực của Thiên Chúa ngự trị nơi mình.

- Thưa cha, Thanh lên tiếng, con nhận thấy, đành rằng nhận biết đức tin theo Phúc Âm, nhận biết được quyền lực đức tin được phát biểu qua ước muốn, ý định, nhưng phương cách nào để sử dụng được đức tin thì con chịu thua. Chẳng lẽ ước muốn, ý định của con không công chính, hay còn bí quyết nào nơi Phúc Âm mà con kiếm chưa ra?

- Hèn chi anh nói mình giống như em bé một hoặc hai tuổi tay cầm credit card, nhưng chết khát vì không biết dùng nó để mua sữa. Nói vậy thì cũng có lý nhưng thay vì cầm credit card lại cầm phải lưỡi dao sắc bén thì sao? Anh chị em hãy bình tĩnh nghe tôi nói. Chúng ta có nhà để ở, nghề nghiệp an toàn, không thiếu thực phẩm, quần áo, dày dép, xe cộ, không thiếu thứ gì. Hồi tâm nhận định ai cũng nhận thấy, thực phẩm đối với chúng ta được tạm gọi là dư thừa nhưng làm sao có được bữa ăn ngon lại quá hiếm. Tại sao? Chúng ta quen nấu nướng và làm đồ ăn giỏi là đàng khác, nhưng vẫn hiếm có bữa ăn ngon. Xin thưa, vì cuộc sống của chúng ta quá đầy đủ. Cứ thử nhịn ăn một bữa hay một ngày xem ăn có ngon không. Tại sao chúng ta không nhìn thấy cuộc sống mình quá đầy đủ mà chỉ nhìn thấy khó mà có được bữa ăn ngon miệng? Lẽ thường, “Nhàn cư vi bất thiện,” nhưng “Bần cùng lại sinh đạo tặc.” Chúng ta không bần cùng và chắc chắn với tâm ngay chúng ta không phải là đạo tặc, nhưng vì có đầy đủ quá chúng ta rơi vào cảnh bất thiện, chạy theo ước muốn, bị cầm buộc bởi ước muốn, coi chừng không biết mình muốn gì nhưng vẫn ước, vẫn muốn. Nơi Phúc Âm có câu nói thoạt nghe rất nghịch thường, “Tôi nói cho các anh hay: phàm ai đã có, thì sẽ được cho thêm; còn ai không có, thì ngay cái nó đang có cũng sẽ bị lấy đi” (Lc. 19:26). Anh em nghĩ sao? Có phải tại mình thiếu thực chứng nên không nhận thực được đức tin nơi mình dẫu mình đã nghiệm chứng qua Phúc Âm, đồng thời cũng minh chứng được quyền lực của đức tin theo những gì đã được ghi trong đó?

- Thưa cha, Tình giơ tay, dẫu biết được, nghiệm được đức tin là gì, nhưng đó chỉ là cái biết ngoài da cũng như đứa trẻ biết trong tủ lạnh có sữa nhưng không lấy ra được mà uống thì cũng chỉ chết khát. Biết đức tin mà không sử dụng được, không thực hành, thực nghiệm được chẳng khác gì như cha nói, ngồi trước bàn tiệc mà không ăn, đói vẫn hoàn đói. Con dám bảo đảm với cha, mọi người đang hiện diện nơi đây, lúc này, chắc chắn biết được đức tin là gì, thế nào, nhưng ai cũng vậy, chẳng thể nào dùng đức tin nơi mình, dùng quyền lực sự sống, quyền lực hiện hữu, quyền lực của Chúa nơi mình để thực hiện được bất cứ chuyện gì. Như thế, chẳng khác gì dân chúng thời bấy giờ nghe Chúa Giêsu rao giảng và rồi cũng chẳng đi đến đâu. Nhiều lần con nghe các cha giảng, đức tin không có việc làm, hoặc là thiếu việc làm là đức tin chết. Nhưng sao nó mang nghĩa đóng góp công sức, tiền bạc mà thôi. Xét thế cũng giống như cha đã nói, ông nói gà, bà nói thóc. Con có thể nói mà không sợ ngượng miệng; giảng dạy Lời Chúa theo kiểu đó chỉ là lạm dụng. Con cũng cảm thấy nhức nhối gì đó nơi tâm tư vì không sử dụng được đức tin nơi mình, có thể giống như anh Thanh nói. Như cha vừa nhắc tới câu Phúc Âm, “Kẻ có thì được cho thêm mà nên dư dật, còn ai không có thì dù có ít cũng bị lấy mất.” Con nghĩ, nhận biết đức tin mà không biết cách nào sử dụng dẫu không bị lấy mất thì cũng kể như không có. Như vậy, tại sao Phúc Âm còn có vẻ thách đố, “Kẻ tin vào Ta thì mọi việc ta đã làm, kẻ ấy cũng sẽ làm được và còn làm được những điều lớn lao hơn nữa” (Gioan 14:12). Lời Chúa dồn chúng con tới đường cùng. Không biết thì thoải mái ăn nhậu, càng biết càng cảm thấy gần tới cửa hỏa ngục. Mặc dầu con không sợ hỏa ngục bởi Chúa ở trong con, Chúa phạt con thì Chúa phạt ai! Nhưng chính vì thế mà cứ phải đeo đẳng nỗi ấm ức hại người, mất vui. Phỏng còn cái hỏa ngục nào tệ hại hơn nỗi dằn vặt tâm tư.

 
Tiếng vỗ tay lại bùng lên, ai nấy mặt mày tươi rói vì cảm thấy thỏa dạ bởi đã có người nói lên được tâm trạng của mình. Bia tiếp tục cạn; bia cạn, bia lại tiếp tục được chuyền tới. Con nhà Tình hôm nay sao nói hay đến thế! Hay nức lòng người.

- Hoan hô, Bá la lớn, thưởng cho hắn một chai, nào mời mọi người cùng nâng chai!

Cha Hải nhìn mọi người vui vẻ cũng vui lây. Thánh Thần phải làm việc như vậy chứ, nếu không, câu nói nghi ngờ lòng tin trên mặt đất vẫn luôn thách đố dân Chúa. Đợi dăm ba phút, ngài giơ tay ra dấu im lặng.

- Mọi người vừa nghe anh Tình nói hay không?

- Thưa hay. Cả bọn đồng thanh thưa với những khuôn mặt rạng rỡ, vui vẻ.

- Thế nhưng, cha Hải nói tiếp, hay trật! Hay theo quan niệm hữu vi, thế tục.

Ai nấy chợt giật mình ngỡ ngàng, chú ý lắng tai nghe.

- Chúng ta đã bị tiêm nhiễm quan niệm hữu vi, thực hiện được một cái gì mới là làm được gì. Như vậy, chúng ta chưa hiểu đạo vô vi nơi Lão học, chưa hiểu ý nghĩa về hành động của Brahma, Thượng Đế nơi Ấn học. Tôi hỏi anh em, mục đích cuộc đời của Chúa Giêsu là gì nếu không chỉ là rao giảng Tin Mừng Nước Trời. Biết như thế, thử hỏi câu, “Kẻ tin vào Ta thì mọi việc ta đã làm, kẻ ấy cũng sẽ làm được và còn làm được những điều lớn lao hơn nữa” (Gioan 14:12) mang nghĩa gì? Như vậy, nỗi thao thức chính thức phải là mình có rao giảng Tin Mừng Nước Trời hay không? Bất cứ ai đã nghiệm chứng Phúc Âm, đều có bổn phận rao giảng Tin Mừng Nước Trời; và chắc chắn, ai trong chúng ta cũng có thể rao giảng Tin Mừng như đức Giêsu đã làm. Thử nghiệm lại ý nghĩa câu, “Kẻ có thì được cho thêm mà nên dư dật, còn ai không có thì dù có ít cũng bị lấy mất.” Càng thực hành thì càng rành việc. Càng thực hiện rao giảng Tin Mừng thì bất cứ nơi nào, lúc nào cũng rao giảng được, ngay cả khi ở một mình. Nghiệm chứng không phải là phương pháp tuyệt vời nhất để rao giảng cho chính mình sao? Phúc Âm nói, “Hãy tỉnh thức” là thế. Có điều, anh chị em nên lưu ý; người Mỹ có thành ngữ, “ Don’t use it, you loose it,” nhưng đồng thời lại cũng có câu, “Use it, you abuse it;” Không sử dụng sẽ bị mất nhưng sử dụng coi chừng lạm dụng. Sự khôn ngoan luôn luôn dồn chúng ta tới đường cùng; thế nên muốn được khôn ngoan, chúng ta phải luôn tỉnh thức. Biết đức tin, biết Tin Mừng mà không thực nghiệm trong đời sống, không thực sự rao giảng bằng cuộc đời mình thì mất đức tin là cái chắc, mất ngay bây giờ, lúc này, đâu cần phải đợi lúc xuống hỏa ngục mới mất. Vậy Tin Mừng Nước Trời là gì theo Phúc Âm? Đã ai nghiệm chứng chưa?

 
Thế là mọi người ngớ ra!

- Dạ nghiệm rồi, nhưng thưa cha, chưa ngộ ạ! Sỹ nhanh nhẩu trả lời.

- Ngộ là thế nào? Cha Hải tiếp tục, biết được chanh thì chua nên khi nhìn thấy trái chanh hay miếng chanh đã cắt sẵn, nước miếng ứa ra đâu phải là ngộ; vì có nhìn thấy cả núi chanh mình cũng không bị chua.

- Thưa cha, nhưng ăn cả núi chanh sẽ bị ngộ độc.

- Đúng, ngộ độc cũng là ngộ; thế nên vì không làm được những chuyện như được viết nơi các dụ ngôn, chúng ta cảm thấy không có đức tin chứ gì? Sai, sai, sai, sai hoàn toàn, bởi chúng ta vẫn bo bo giữ quan niệm hữu vi; nói cách khác, quan niệm hữu vi tựa cặp kính màu khiến nhìn bất cứ sự vật gì cũng bị lệ thuộc màu sắc của cặp kính. Nhìn lại bản thân, cái miệng nói được, cặp tai còn nghe được, mắt nhìn được, còn suy nghĩ được, tim vẫn tiếp tục đập dẫu khi ngủ quên cả thân mình không là những phép lạ thì là thứ gì? Người mù được chữa lành có thể nhìn thấy thì được coi là phép lạ; vậy chúng ta đang nhìn được chẳng lẽ đùng một cái không nhìn được mới là phép lạ? Anh em đã thấy dụ ngôn nói người mù được sáng nói về việc gì nơi mình chưa? Đã ai nghe câu nói, “Có mắt mà như mù” bao giờ chưa? Bởi vậy Phúc Âm nói đến điều kiện tâm trí chúng ta sẽ bàn luận sau. Làm ơn, nghe dại tôi, hãy mở con mắt linh hồn ra mà nhìn, hãy vất tất cả những cặp kiếng màu sắc vô hình để nhìn cho rõ mà nghiệm chứng. Đâu phải vô lý mà câu nói coi bộ ngớ ngẩn đã hơn hai ngàn năm vẫn đứng vững nơi Phúc Âm, “Người ta không đổ rượu mới vào bì cũ.” Hãy động não đừng ngại suy nghĩ sai. Nói rằng sợ suy nghĩ sai lầm chỉ là lười lĩnh suy tư. Nói rằng không đủ khả năng để suy nghĩ tất nhiên chứng tỏ một tâm hồn giả đò ngu xuẩn. Tôi nói giả đò ngu xuẩn bởi không muốn suy nghĩ và vì suy nghĩ rất khó, đòi hỏi nhiều điều kiện như học thức, nhận biết về chính mình, và phải thường xuyên tỉnh thức nhận định. Chẳng lạ gì có câu nói, “Tội lỗi bởi sự ngu dốt mà ra,” mà gốc gác của ngu dốt lại là không suy nghĩ, là thực trạng khinh chê hồng ân được sinh ra làm người. Anh em biết câu nói khá nghịch thường của Đạt Ma sư tổ, “Chỉ có một tội độc nhất là tội vô minh vì tội này cầm giữ con người luẩn quẩn trong vòng luân hồi không thể thoát ra được.” Cho nên có thể nói, sự cứu độ chính là kích thích, thách đố, và giúp con người giải thoát khỏi vòng vô mình. Điều này có nghĩa khuyến khích con người suy nghĩ để nhận thức.

- Thưa cha, chúng con suy nghĩ nhiều lắm chứ, lúc nào cũng suy nghĩ, bộ óc luôn luôn làm việc cả ngay khi đang ngủ nữa mà. Sỹ lên tiếng.

- Ai nói bộ óc anh suy nghĩ? Anh tự thấy vậy hay sách vở nào nói vậy? Nói lộn, cho nói lại.

- Con cảm ơn cha; cha nói đúng, tội lỗi bởi sự ngu dốt mà ra. Phạt, phạt một chai, Sỹ dốc chai bia làm một hơi.

- Thưa cha, ông trùm Phong lên tiếng, chúng con được dạy phải tin với giáo hội thì suy nghĩ thế nào?

- Vậy ông nghĩ giáo hội là gì?

- Thưa cha, giáo hội bao gồm giáo hoàng, các hồng y, giám mục, linh mục.

- Tôi đồng ý các vị ấy thuộc về giáo hội Công giáo nhưng nếu không lầm, ông chưa đọc Công Đồng Vatican II hoặc chưa được nghe giảng về giáo hội. Công Đồng Vatican II định nghĩa giáo hội là dân Chúa. Ai không là dân Chúa? Ai không có sự sống, quyền lực hiện hữu nơi mình. Nếu hiểu giáo hội đúng nghĩa như thế, những chiều hướng tư tưởng, quan niệm khác biệt cần phải được nhận định cho đúng đắn. Nói cho dễ hiểu, một Thiên Chúa hoạt động nơi đức Giêsu cũng chính là Thiên Chúa đang hoạt động nơi ông, nơi tôi, nơi mọi người. Nói rằng phải tin với giáo hội là tin thể nào trong khi giáo hội chính là mọi người, không cần biết họ tin tưởng ra sao. Coi chừng nói phải tin với giáo hội chỉ để che lấp sự ngu dốt căn bản, gốc gác của mọi tội lỗi; đó là thực trạng thiếu suy nghiệm.

- Thưa cha, anh Linh, người mới tham dự giơ tay, cha nói như vậy chẳng lẽ xưa nay chúng con được dạy dỗ sai lầm?

- Anh nói đúng. Tất cả những gì anh đã được dạy dỗ xưa nay xét dưới quan niệm tâm linh đều hoàn toàn sai lầm. Cha Hải giơ tay, đừng vội cho rằng tôi nói ngang hay nói sai. Vừa rồi anh Sỹ nói bộ óc luôn luôn suy nghĩ đã thực sự sai thì quan niệm Phúc Âm theo nghĩa từ chương sao có thể đúng mà không sai. Tin theo đức Giêsu, tất cả mọi sự phải được nhận thức theo Phúc Âm và phải được nghiệm chứng bởi chính mình. Ca tụng bữa cơm ngon mà không ăn thì vẫn đói; nghe giải thích chỉ giúp mình nghiệm chứng chứ không ai có thể giãi bày cho mình thức ngộ được. Thí dụ, anh không thể nào giải thích lòng thương yêu của anh đối với vợ con để mọi người đang hiện diên nơi đây, hay ít nhất chỉ một người, ngoại trừ anh, có thể yêu thương vợ con anh như chính anh thì cũng không ai có thể giải thích nghiệm chứng Phúc Âm để cho anh thức ngộ được. Anh không nhớ lúc nãy, anh Sỹ nói, nghiệm nhưng chưa ngộ hay sao? Tất cả những sự giải thích, giảng giải chỉ là phương tiện cho chúng ta so sánh hay tham luận để thăng tiến nơi hành trình tâm linh. Đó là những cái biết của người khác, không phải cái biết của mình. Tôi nghĩ, anh đã hiểu tại sao tôi nói giảng giải, giải thích, luôn luôn sai lầm. Đúng đối với họ vì họ nghiệm chứng, sai đối với mình vì cái biết của họ không phải là cái biết của mình. Họ ăn; mình không no.

- Thưa cha, ông trùm Phong lên tiếng, bây giờ thì con có thể hiểu được câu nói, ý kiến không đúng, không sai. Con không ngờ câu nói đơn sơ không hợp lý chút nào mà có nghĩa thâm trầm như thế. Cha nói đúng, hiểu được thì hiểu nhưng con không thể nào giải thích tại sao không đúng, không sai, hay nó có ý nghĩa nào đối với con. Thế ra, đã bao lâu nay con cũng đã chẳng biết đức tin là gì, tin Chúa là như thế nào, và muôn vàn thứ khác nữa. Cảm ơn cha và quý vị đã giúp con đui mù nay được thấy. Con xin hết.

- Tôi hỏi ông thêm một câu, lời Phúc Âm nói, “Cho kẻ mù được thấy,” ông hiểu thế nào?

- Thưa cha, nhưng con vẫn còn bị mù. Ông trùm Phong nhẹ nhàng trả lời khiến nhiều người ngạc nhiên.

- Nói hay, thưởng một chai bia, Tình nâng chai lên giọng.

- Thưởng gì kỳ cục, vợ Tình nói chồng.

- Anh Tình, anh đề nghị thưởng có lẽ anh nên giải thích lý do.

- Thưa cha, ông trùm Phong đã không biết đức tin là gì dẫu theo đạo cả đời mà vẫn cố thủ tham gia giúp cộng đồng họ đạo, đáng thưởng một chai. Ông trùm dám nói lên nhận thức thực sự về mình không e ngại sai lầm hay tai tiếng, đáng thuởng thêm một chai, vị chi hai chai. Ông trùm cũng nhận ra không giải thích được cái đúng, cái hay của câu nói ngang ngược do bác Tài xúi dại, đáng thưởng một chai, vị chi ba chai. Ông trùm nhận biết mình mù trong khi còn đang sáng mắt, đáng thưởng một chai, vị chi bốn chai. Sự thể đáng thưởng bốn chai, con đề nghị thưởng mới có một, vẫn còn thiếu ba chai.

- Thưa cha, Thanh lên tiếng, thưởng thêm cho Tình một chai cho đủ cấp số ngũ hành của bộ lòng ruột. Nào mời mọi người, nâng chai.

- Anh Thanh có thể giải thích tại sao thưởng anh Tình một chai không?

- Thưa cha, hắn ngộ câu nói của ông trùm, vẫn còn bị mù.

- Như vậy, tôi nghĩ mọi người đã ít ra là nhận thức được câu Phúc Âm, “Thần Khí Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn. Người đã sai tôi đi công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức” (Lc. 4:18).

- Ông trùm Phong, ông thấy thế nào?

- Thưa cha, con thích lắm nhưng không giải thích được tại sao thích, chỉ biết lòng dạ thơ thới, không cảm thấy e sợ bất cứ gì, và người con nó cứ như bay bổng.

- Ông cảm thấy câu, “Loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn” ra sao?

- Thưa cha, con nghĩ, dù tiền của có đến bao nhiêu mà không nhận biết đức tin thì cũng quá nghèo.

- Ai có ý kiến gì về nghèo hèn?

- Thưa cha, nơi Phúc Âm tiếng Anh có câu nói nhắc tới chữ “Poor in spirit,” nơi cuốn sách đó ghi chú là “Simple minded,” cũng có nghĩa nghĩa là người đơn sơ, chất phác.

- Anh nói đúng, mặc dầu Phúc Âm thường nhắc tới hoàn cảnh nghèo khổ vật chất hoặc thân xác bất toàn, nhưng những câu truyện đó chính là những dụ ngôn không có thật được dùng như phương tiện ám định khuyến khích nhận thức mà thôi. Chẳng hạn ông trùm Phong vừa trả lời vẫn còn “Đui mù” trong khi mắt vẫn còn thấy sự vật, và “Quá nghèo” khi ông nhắc tới người có nhiều tiền của. Phúc Âm không nói đến việc giải quyết những chuyện thế tục; thế nên câu,”Tôi đến thế gian này chính là để xét xử: cho người không xem thấy được thấy, và kẻ xem thấy lại nên đui mù!” (Gioan 9:39) trở thành thách đố cho mọi người nơi hành trình tâm linh. Những người huênh hoang về học thức kinh viện thường hay né tránh giải thích câu này.

- Thưa cha tại sao? Sỹ hỏi.

- Tại đầu óc họ thông thái và luôn luôn suy nghĩ. Ngài mỉm cười giải thích.

- Phải phạt. Đầu óc còn có thể suy nghĩ thì phải phạt. Anh cả tính giải quyết sao đây. Tình nói lớn.

- Bạn bè với ông chẳng khác gì nuôi o­ng tay áo. Người ta bảo chị ngã em nâng, đàng này ông đạp.

- Bạn bè tốt là khi thấy té thì đỡ chứ không phải đợi lúc mình tắt thở rồi mới đốt nhang. Ông chưa tắt thở nên tôi tỉnh thức; miếng ngon nhớ lâu, điều đau nhớ đời; từ nay chừa thói quen chưa suy nghĩ đã nói. Tình trả lời.

- Thưa cha, chẳng ít thì nhiều cho tới thời điểm này, anh em chúng con cũng thức ngộ được đôi chút. Thế nên, con nghĩ nên tự giác đỡ phải bầu bán hoặc phạt hay tha.

- Được rồi, tôi chịu phạt, lần tới họp tại nhà tôi. Sỹ cao giọng, quay sang hỏi Tình, mấy con cờ nhỏ bên nhà ông họ đã bán hết chưa?

- Chưa đâu, ai mà dám rước của nợ ấy vào thời buổi gạo châu củi quế này.

- Để tôi. Sỹ nói nhỏ.

Tiếng vỗ tay lại ầm lên. Bia lại cạn, ồn ào không giảm chút nào đối với nhóm nhậu trong khi hai, ba người nhìn Sỹ gật gật đầu lúc nghe thấy hai tiếng cờ nhỏ.

- Chúng ta đều biết câu nói, “Cuộc sống giống như lái một chiếc xe đạp, để giữ thăng bằng thì phải luôn di chuyển” (Albert Einstein). Nơi hành trình tâm linh cũng thế, cần luôn tỉnh táo bởi những sự khôn ngoan, những việc xảy đến quanh ta đều là cơ hội thức ngộ. Hôm nay tạm dừng nơi đây. Lần tới, chúng ta sẽ bàn luận về Thiên Chúa của đức Giêsu. Có ai còn thắc mắc gì nữa không? Cha Hải nói.

- Thưa cha, ông trùm Phong lên tiếng, nói rằng Chúa Giêsu đến để cứu loài người thoát khỏi vòng tội lỗi, vậy những người không bao giờ nghe biết Chúa thì sao?

- Để tôi hỏi ngược lại ông một câu, vậy những người cố gắng không phạm tội có phải là từ chối ơn cứu độ? Tuy thế, nói vậy nhưng không phải vậy! Thiển nghĩ, anh em hãy để một tuần suy nghĩ về câu của ông trùm hỏi. Lần tới xem ý kiến của anh chị em thế nào. Chúc mọi người một đêm an bình.

 

*  *  *

 
Màn ăn nhậu tối nay quả là xôm tụ, có những bốn ông trùm, thêm Linh và một người nữa thuộc ca đoàn. Riêng đối với Linh, cỡ chừng 42, 43 tuổi, có bằng cử nhân vi tính (computer), có công việc vững chắc tại sòng bài, tham gia ca đoàn; anh cảm thấy lòng ruột luôn luôn áy náy vì câu hỏi của cha Hải, “Vậy những người cố gắng không phạm tội có phải là từ chối ơn cứu độ?” Sống nơi đất nước mà nền kỹ thuật tân tiến, chỉ cần thử chút xíu tóc người ta đã có thể biết mình “Dope” hay không. Có người bị ho, đi bác sĩ được cho uống thuốc đặc biệt trị ho. Dầu đã được nhận làm việc hơn một tháng, vì sòng bài mới mở cửa hoạt động chưa có đủ thời giờ kiểm chứng sức khỏe, văn phòng gọi lên đình chỉ công việc ngay lập tức bởi qua thử nghiệm tóc; kết quả cho biết trong tóc có chứa chất nhựa cây thuốc phiện. Người đó phải về gặp bác sĩ xin giấy chứng nhận đã được cho toa uống loại thuốc trị ho đặc biệt có chứa chất đó ba tháng trước. Đi làm công sở, lương lậu được tách thuế trước khi trả cho nhân viên. Sáng tới sở làm, chiều về lo cho con cái, dọn dẹp nhà cửa, cắt cỏ, sửa sang những chỗ hư hỏng lặt vặt từ hàng rào tới cửa bếp, ống nước, ống tiêu nếu bị trục trặc. Ăn được miếng cơm thì đã 6 hoặc 7 giờ tối, và lại phải chăm sóc con cái học hành, 9, 10 giờ mới được lên giường, và 5 giờ sáng đã phải thức dậy thúc giục con cái chuẩn bị ăn sáng, và chở con tới trường rồi vô sở làm thì còn giây phút nào ngơi nghỉ mà phạm tội, Linh tự đặt vấn đề. Thế mà chính ý nghĩ này lại rơi vào câu hỏi nghịch thường cha Hải đặt ra khiến suốt tuần anh cứ bối rối chẳng biết giải quyết ra sao. Trong khi người người hít hà rôm rả với những món cờ tây nướng, lòng, luộc, rượu mận ăn với bún, bia, rượu, thi đua chui vào bụng dạ nhóm nhậu, thì lòng ruột anh cứ chờ chực mong sao sớm đến giờ hội thảo may ra kiếm được câu trả lời cho yên ổn tâm tư. Mà sao mấy người coi bộ vô tư đến thế, ăn uống đã phè phỡn rồi lại còn karaoke, người lên hát, kẻ khen hay chừng như chẳng có gì đáng cho họ ưu tư, lo lắng. Linh cũng không thể nào hiểu được mấy người lớn tuổi này; miệng môi quá quắt, có thể nói bán trời không văn tự, bất cứ gì cũng trở thành đề tài bàn luận, không kiêng nể bất cứ thần thánh nào nhưng lại trang trọng tỏ lòng chấp nhận lầm lỗi mỗi khi lỡ miệng hoặc bị khuất phục một vài lý lẽ rất thường tình xưa nay mọi người mặc nhiên chấp nhận; ngược lại đôi khi có ai nêu lên quan điểm bình thường nhưng không hợp lý hợp tình nào đó thì họ lại dùng lý lẽ đả phá tới mức tối đa khiến người dám bênh vực cho lẽ thường tình ấy tối tăm mắt mũi không biết lối nào mà trả lời.

 
Và rồi màn ăn nhậu, hát hỏng cũng qua, cha Hải mở màn với câu hỏi,

- Sao, chúng ta bắt đầu cuộc hội thoại với điểm nào, hoặc ai có khúc mắc hay ý kiến gì xin mời nêu lên cho mọi người chứng giám!

- Thưa cha, Linh chộp vội cơ hội lên tiếng, lần trước cha đặt vấn đề nếu cố gắng sống tốt lành, tránh các dịp lỗi lầm thì có phải là từ chối ơn cứu độ của Chúa không? Cả tuần nay con cứ bối rối vì như cuộc đời con lúc này, dẫu muốn phạm tội cũng không có cơ hội, nhưng con đâu bao giờ có ý nghĩ coi thường hoặc từ chối ơn cứu độ của Chúa. Chẳng lẽ không có cơ hội phạm tội cũng phải cố kiếm cách phạm thì mới có tội để được Chúa cứu, bởi trong Phúc Âm con đọc được câu, “Tôi không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi sám hối ăn năn” (Lc. 5:32) khi những người Pharisiêu và những kinh sư chê trách đức Giêsu rằng ăn uống với người tội lỗi. Thưa cha, cố gắng sống tốt lành, tránh lầm lỗi thì bị cho rằng coi thường hoặc chối bỏ ơn cứu độ, và cho dù không có cơ hội phạm tội cũng vẫn được khuyên nên sống tốt lành như các cha giảng dạy nơi nhà thờ. Chẳng lẽ các cha cũng khuyên giáo dân chối bỏ ơn cứu độ của Chúa?

- Con cũng có nhận định như thế, Sỹ nói tiếp, hơn nữa,  bà chủ nhà con cũng luôn luôn canh giữ con để ép con phải từ chối ơn cứu độ.

- Tôi ép ông bao giờ; già rồi mà còn không nên nết, ăn nói bậy bạ. Vợ Sỹ nói.

- Bà không ép tôi hả? Nào là cứ lải nhải xúi tôi phải ăn mặc đàng hoàng tỏ vẻ ta đây giàu có để khó vào được nước thiên đàng; nào là mới liếc qua cái mụ xồn xồn nào đó, khen người ta đẹp đã vội cấu tôi đau điếng lúc lái xe, lỡ gây tai nạn thì chỉ lên thiên đàng sớm; nào là nhậu say cũng bị lôi đầu dậy đi nhà thờ kẻo mắc tội trọng. Bà ngăn cản tôi phạm tội, xa lánh dịp tội, không là khinh chê ơn cứu độ thì là gì; bộ tôi nói oan lắm sao!

Cha Hải giơ tay ra hiệu Sỹ ngừng, đoạn hỏi,

- Thế tội là gì?

- Thưa cha, ông trùm Lực lên tiếng, tội là làm những việc mất lòng Chúa, lỗi đức yêu thương. Bất cứ những gì lỗi phạm đến mười điều răn của Chúa, và đặc biệt hai điều tổng kết “Thờ phượng một Đức Chúa Trời và kính mến Người trên hết mọi sự, sau lại yêu thương người ta như mình ta vậy” đều được gọi là tội.

- Thế những ai đang hiện diện nơi đây nếu lỡ phạm bất cứ điều nào trong mười điều răn có dám giơ tay lên không?

- Bộ không ai dám giơ tay sao? Tình lớn tiếng.

- Muốn phạm nhưng không có cơ hội sao mà giơ tay với giơ chân! Sỹ nhà con nói.

- Lần trước ông trùm Phong hỏi rằng đối với những người không bao giờ được nhận biết Chúa thì ơn cứu độ đối với họ thế nào? Mà bây giờ, anh chị em thấy, chúng ta không phạm bất cứ điều răn nào chẳng lẽ không được nhận lãnh ơn cứu độ? Vậy nói rằng Chúa cứu độ chúng ta thì cứu khỏi chuyện gì. Đồng thời, nói rằng Chúa chết vì tội lỗi của chúng ta mà chúng ta cố tình không phạm tội thì Chúa chết cho chúng ta về chuyện gì? Chẳng lẽ không dám phạm tội cũng là một cái tội để Chúa phải cứu? Cha Hải đặt vấn đề.

- Thưa cha, cái tội sợ nên không dám, Sỹ lên tiếng.

- Theo anh Sỹ nói, như vậy chúng ta không dám phạm tội vì sợ. Chúng ta sợ gì?

- Sợ mất lòng Chúa? Sợ bị phạt. Ông trùm Lực trả lời.

- Thưa cha, Chúa ở nơi mình như thánh Phao lô nói, “Thân xác anh em là đền thờ của Thiên Chúa” (1Cor. 3:16), thì khi mình phạm tội Chúa có phạm tội với mình không? Thanh hỏi.

- Chúa làm sao phạm tội được! Ông trùm Lực lại lên tiếng.

- Chúa ở nơi mình thì Chúa hoạt động nơi mình, và nếu Chúa không phạm tội sao mình có thể phạm tội? Tình lý luận.

- Nói thế cũng đúng, Thiên Chúa là đấng toàn hảo (perfect), nghĩa là không thiếu một thứ gì, lại ở nơi mình thì phạm tội với mình đâu có sao! Sỹ đế vô.

 
Thế là mọi người ngớ ra, chẳng biết đâu mà mò. Lý luận thế nào cũng không xong. Một đàng Thiên Chúa đang ngự trị và hoạt động nơi mọi người, đàng khác khi người ta phạm tội phỏng Chúa có phạm tội với họ không. Lý luận rằng Chúa không thể phạm tội lại hoạt động nơi con người thì sao con người có tự do để sa ngã. Nói rằng vì có tự do nên con người sa ngã thì giải quyết sao với sự hiện diện của Chúa nơi mình! Thánh Phao lô cũng nói, “Tôi sống nhưng không phải tôi mà là đức Kitô sống trong tôi” (Gal, 2:20); đồng thời nơi thư khác ngài lại tuyên xưng, “Điều tôi muốn, tôi không thi hành, nhưng tôi lại làm chính những điều tôi ghét” (Rom. 7:15), hoặc, “Sự lành tôi muốn, tôi không làm; còn sự dữ không muốn, tôi lại thi hành” (Rom. 7:19). Cả một sự đối nghịch không thể hòa giải khiến lòng ruột ai nấy đều cảm thấy như bị dồn vô góc tường không lối thoát. Cha Hải vẫn nhẹ nhàng nói chuyện với cụ Tài chừng như cố ý chờ xem có ai nẩy sinh ý kiến mới.

 
- Thưa cha, thưa bác, Đạt Ma sư tổ có nói, một vị phật không thể phạm tội được nên làm gì thì cứ làm, giết heo thì cứ giết, mổ bò thì cứ mổ, ăn mặn hay chay không thành vấn đề, trong khi đạo Phật cấm sát sinh. Hưng lên tiếng. Phỏng trong suy tư, sự thức ngộ nơi nhà Phật có liên hệ gì với việc phạm tội bên Phúc Âm?

- Người đã thức ngộ, nhà Phật được gọi thành phật vì đã kiến tính. Dĩ nhiên kiến tính cũng chính là thực chứng được linh hồn nơi mình, thực chứng được quyền lực tối thượng là Thiên Chúa ngự trị nơi mình. Cụ Tài giải thích.

- Nhưng sao, thưa bác, ngộ bên nhà Phật thì không thể phạm tội được mà ngộ bên Phúc Âm lại còn phải đối diện với tội lỗi, với cám dỗ, với nỗi sợ phạm tội? Có phải tại mình chưa ngộ được thực thể tội lỗi là gì! Thanh hỏi tiếp cụ Tài.

- Nói như vậy anh đã trở lại câu hỏi tội lỗi là gì. Bởi nếu muốn biết khi mình phạm tội Thiên Chúa có phạm với mình hay không thì cần phải biết thực thể tội lỗi là gì. Chúng ta vẫn có thói quen chấp nhận những chuyện thường tình mà quên đặt vấn đề. Câu truyện Sáng Thế đã bị hiểu theo nghĩa từ chương nên tội nguyên tổ được tạo dựng. Thử hỏi ai ở đó lúc ông Adong và bà Evà phạm tội để có thể ghi lại được, hay câu truyện Sáng Thế là một dụ ngôn ám định thực thể, sự thể nào đó bao quát quan niệm đại chúng nơi hành trình tâm linh, thức ngộ. Bởi đó muốn nghiệm chứng, nói cách khác, muốn giải quyết khúc mắc Thiên Chúa hay Thượng Đế có phạm tội hay không, và tội lỗi là gì, cần phải nghiệm chứng câu truyện Sáng Thế. Cụ Tài đặt vấn đề.

- Thưa bác, Linh lên tiếng, như vậy có phải tội lỗi phát sinh từ ước muốn, ý định nơi mỗi người? Mà ước muốn, ý định phát sinh từ linh hồn, nghĩa là phát sinh từ Thiên Chúa nội tại thì chẳng lẽ tội lỗi cũng từ Thiên Chúa mà ra?

- Sao anh dám cả gan nói thế, ông trùm Lực đe Linh, tội lỗi sao có thể từ Thiên Chúa mà ra. Bộ anh cứ ăn chơi hoang đàng rồi nói rằng tại Chúa ngự nơi anh bảo anh hoang đàng à?

- Thưa ông trùm, tôi đâu nói gì, Chúa nói trong tôi chứ tôi đâu có thể nói! Linh lý luận.

- Anh không nói chứ vậy cái gì vừa nói.

- Thưa cái hồn tôi dùng miệng tôi để nói. Mà cái linh hồn của tôi chính là Thiên Chúa trong tôi. Ông trùm hỏi cái gì nói thì đó chính là Chúa nói.

- Vậy anh là Chúa à? Chúa mà ăn bậy nói bạ như thế sao? Dám nói Chúa phạm tội!

- Tôi đề nghị anh Linh khoan trả lời, Thanh lên tiếng. Thưa ông trùm, có lẽ Chúa của anh Linh khác với Chúa của ông trùm do đó anh Linh theo luận lý dẫn tới kết quả nên được suy nghĩ lại như thế. Ông trùm tham dự hội luận lần thứ ba nên cũng rõ, chúng ta tôn trọng mọi ý kiến vì ý kiến tự nó không đúng, không sai. Ý kiến được coi là đúng hay sai tùy theo người nhận thức chứ không có ý kiến sai. Đã tự ngàn xưa có câu nói, “Không có học trò ngu mà chỉ có vị thày dốt.” Câu hỏi được nêu lên chính là tội lỗi là gì, và chúng ta chưa gỉải quyết, chưa nhận thức đúng nghĩa của tội lỗi, chúng ta đã vội đặt vấn đề Thiên Chúa ngự trị và hoạt động nơi mỗi người phỏng khi mình phạm tội thì Chúa có phạm tội với mình hay không. Đặt vấn đề như thế, chúng ta đã rơi vào ngõ tối của suy tư vì chúng ta chưa phân định tội lỗi là gì đồng thời cũng chưa phân định Thiên Chúa như thế nào, ra sao. Chúa theo ông trùm quan niệm hay nhận thức khác với quan niệm của anh Linh về Thiên Chúa thế nào. Nếu ông trùm không chấp nhận Chúa phạm tội, ông trùm làm ơn dùng Kinh Thánh hoặc lý lẽ để chứng minh. Anh Linh không nói Chúa phạm tội nhưng cứ theo lý lẽ suy luận bình thường thì sẽ đưa đến kết quả tất nhiên như thế. Tôi nghĩ chúng ta hình như lạc đường trong suy tư hay đã không để ý điểm mấu chốt nào đó nên vẫn cứ luẩn quẩn với Chúa phạm hay không phạm khi mình phạm tội. Bác Tài đề nghị suy nghiệm câu truyện Sáng Thế, vì câu truyện này bị hiểu theo nghĩa từ chương nên kiến tạo tội tổ tông. Con cũng cảm ơn bác đã nhắc nhở, hình như chúng ta vẫn đang quanh quẩn nơi mắt kiếng quan niệm hữu vi. Bởi vậy, tôi đề nghị, chúng ta dành đôi phút dồn hết tâm trí suy nghĩ về câu truyện Sáng Thế may ra nhận thức về tội xem có gì tiến triển chăng. Xin cảm ơn.

 
- Cái mụ Evà này, cứ xúi người ta phạm tội.

Mọi người yên lặng suy nghĩ theo đề nghị của Thanh chưa được mấy giây, Sỹ đã lên tiếng khiến mọi người ngỡ ngàng. Số là chị Sỹ định nói nhỏ với chồng trong lúc mọi sự đang yên ắng nên giật giật áo chồng thì bị Sỹ nói toáng lên. Hắn là thế, không chịu nổi sự yên lặng nên kiếm cớ phá đám.

- Chúa ở nơi bà Evà xúi Chúa ở nơi ông Adong! Tình nhảy vô lên tiếng.

- Bà không xúi ông không phạm tội; ông thành tiên, bà xuống thế trần. Tùy thêm vô.

- Bà Evà đâu có xúi, bà mời ông Adong ăn.

- Vua nghe vợ mất nước, đàn ông nghe đàn bà tan hoang cửa nhà, mất cả hạnh phúc.

- Đàng sau một người đàn ông thất bại là một người đàn bà xúi dại.

- Nhưng trước khi ăn, bà ấy ước muốn nên thử vì mới nhìn đã thấy sướng mắt và tin chắc ăn sẽ được tinh khôn (Kn. 3:6).

- Hèn chi các bà thích làm đẹp, sáng, trưa, chiều gì cũng toàn diện.

- Cũng chỉ vì Chúa phán, “Người đàn ông ở một mình không tốt” (Kn. 2:18).

Tội bởi ước muốn, trong lòng mà ra, dục vọng, Thanh thầm nghĩ, vậy Phúc Âm nói gì? Chợt câu Phúc Âm về nơi tâm tưởng, “Khốn cho các ngươi, biệt phái và ký lục, các ngươi cất đi chì khóa mở đàng hiểu biết, các ngươi không vào đã rồi mà những kẻ muốn vào các ngươi lại ngăn cản” (Mt. 23:13).

- Thưa bác, Tùy lên tiếng, bác không thuộc về phe phái nào, nam cũng như nữ, không Phật, chẳng Ấn, cũng không Công giáo. Bác nói do lối nhìn từ chương nên đã kiến tạo tội tổ tông nơi câu truyện Sáng Thế. Nhờ bác làm ơn phân tích soi sáng dùm chúng cháu.

- Có cha Hải hiện diện nơi đây nên tôi không dám múa võ trước cửa Lỗ Ban, nhưng thực ra, cho dù Kytô giáo chấp nhận, Cựu Ước dẫu đã được các chuyên viên Kinh Thánh sửa chữa và sắp xếp cho thuận với Tân Ước, nhưng Cựu Ước đã có thế đứng độc tôn của nó nơi thế giới đạo học mấy ngàn năm. So sánh với Lão học, Ấn học, Phật học, vị thế của Cựu Ước không thua kém gì. Phúc Âm bổ xung cho Cựu Ước thêm hoàn hảo chẳng khác gì Trang học bổ xung cho Lão học. Tôi đã nhắc nhở nhiều lần với anh chị em; đó là nên đặt mình vào vị thế nào đó của dụ ngôn hay công án để nghiệm chứng, nhưng có lẽ tại tôi quá tôn trọng cảm ứng của anh chị em chăng, nên không muốn áp đặt thành ra, ngay lúc này, cũng chứng tỏ anh chị em đã coi thường câu nói nơi Phúc Âm, “Hãy tỉnh thức.” Nhìn tổng quát vào Cựu Ước, và đặt mình vào vị thế của dân tộc được mệnh danh là dân Do Thái, chúng ta sẽ nhận thức rõ hơn về con người của mình. Sự thể tổng quát đầu tiên sau khi đọc xong Cựu Ước ai cũng nhận được đó là nơi tất cả mọi sự kiện, mọi sự việc diễn tiến nơi Cựu Ước đều minh chứng điểm độc nhất, và đó là có một quyền lực tối thượng đang hoạt động nơi tạo vật. Dân tộc Do Thái được nhắc đến đại diện cho mỗi người chúng ta. Chúng ta nhận ra dân tộc được gọi là dân Chúa mang tính chất sớm đầu tối phản cũng chính là tính chất nơi mỗi người. Mới được giải thoát khỏi vòng nô lệ của Ai Cập đã vội than vãn, kêu khóc để rồi mơ ước trở lại vòng nô lệ kềm kẹp dưới sự đàn áp của Ai Cập chẳng khác gì con người luôn muốn trở thành nô lệ thú tính thế tục. Khi đã thấy được an toàn thoát khỏi lo sợ kẻ thù đàn áp, dân Chúa đã muốn tuyên dương quyền năng thế tục của mình bằng cách kiến tạo con bò vàng. Thử để tâm nhận định nguyên nhân hay lý do tại sao dân chúng đúc bò vàng được gọi là để thờ, chúng ta sẽ nhận rõ được ẩn ý sự kiện và nó mang ý nghĩa, ta dựng ngươi lên được thì ta cũng có thể hạ bệ ngươi bất cứ lúc nào. Điều này chứng tỏ ngươi phải luôn thần phục ta. Rồi những câu truyện khác, đại khái, nhờ các tiên tri, dân Chúa nhận thức được một chút, lại nẩy ra những vị vua ở vị thế tuyệt đối quyền lực kiến tạo tuyệt đối sa đọa. Câu truyện sa ngã được tạo dựng chính là câu truyện của mỗi người, và dùng dân Chúa làm bình phong. Nếu bà Evà không nhìn thấy vẻ bề ngoài ngon ngọt của thứ được gọi trái cấm, và không có ước muốn toàn tri, tạm được đặt nơi miệng con rắn sao bà có thể ăn. Thử tự hỏi chính mình, trái cấm nào không hấp dẫn, thôi thúc chúng ta chiều theo? Ngay ngôn từ được dùng cũng mang ẩn ý khuyến khích suy nghĩ thâm sâu mà thường thì chúng ta không để ý. Một điều khác cũng rất thường tình; đó là khi vừa nuốt khỏi cổ, vừa đạt được sự toàn tri theo ý muốn, bà Evà đã vội đổ tội cho con rắn. Ai trong chúng ta không thế! Chúng ta không dám đối diện với thực thể lòng mình. Đây là ngõ hẹp mà Phúc Âm nhấn mạnh như một điều kiện thiết yếu nơi hành trình tâm linh. Chúng ta cũng coi thường câu nói, đàn bà không bao giờ sai; có lẽ câu này có phần nào ám định về câu truyện Sáng Thế. Evà không bao giờ sai nữa vì không còn cái sai nào, nếu nhìn theo quan điểm hữu vi, có thể mang lại hậu quả lớn hơn cái sai bà đã mắc phải. Nhận định đơn sơ như thế, nơi mỗi người đều chứa đựng bà Evà; mỗi người mang đầy đủ tính chất của bà Evà. Cho nên, nói rằng mọi người đều vướng mắc tội tổ tông thật ra cũng là một lối chạy trốn đối diện chính mình. Thiển nghĩ, phải nói rằng tội tổ tông ở nơi mọi người mà nhà Phật mệnh danh là dục, ước muốn những tham vọng thế tục, và không dám đối diện với chính mình. Ngưng vài giây, cụ Tài thêm, để bổ xung cho dễ dàng nhận thức về tội, chúng ta cần nghiệm chứng thêm ở Phúc Âm.

- Con xin cảm ơn bác. Nếu nhận thức câu truyện Sáng Thế như vậy, cháu thấy mới có thể tìm nơi Phúc Âm những nhận định về tội lỗi. Và nếu cháu không lầm thì tội nặng nhất nơi Phúc Âm lại là không chịu nghiệm chứng để nhận thức Tin Mừng Nước Trời và cũng do sự thiếu sót này mà những người nơi vị thế rao giảng trở thành kẻ ngăn trở nếu không muốn nói là cấm đoán người khác thức ngộ.

- Anh có thể dùng câu Phúc Âm nào để minh chứng? Cha Hải hỏi.

- Thưa cha, nơi Phúc Âm có câu, “Khốn cho các ngươi, biệt phái và ký lục, các ngươi cất đi chìa khóa mở đàng hiểu biết, các ngươi không vào đã rồi mà những kẻ muốn vào các ngươi lại ngăn cản” (Mt. 23:13).

- Câu này chỉ riêng về trường hợp những người rao giảng không chịu nghiệm chứng mà giảng giải Phúc Âm theo nghĩa từ chương. Xét về ý nghĩa tội là gì, Phúc Âm nói đến khá nhiều nhưng thường thì được đặt chung với quyền lực của ý định, ước muốn. Cha Hải nhắc nhở.

- Thưa cha, sao cha không giải thích cho chúng con biết? Vợ Sỹ lên tiếng.

- Tôi đã rõ ràng tuyên bố lần trước; đó là tôi sẽ không giải thích Phúc Âm mà thách đố anh chị em nghiệm chứng Phúc Âm, bởi vì sự giải thích dẫu là phương tiện cho anh em thức ngộ nhưng lại thường ngăn cản sự thức ngộ của mọi người. Nói như thế, tôi nghĩ, anh chị em phần nào hiểu; tôi muốn nói chỉ hiểu câu Phúc Âm anh Thanh vừa nhắc tới, “Khốn cho các ngươi, biệt phái và ký lục, các ngươi cất đi chìa khóa mở đàng hiểu biết, các ngươi không vào đã rồi mà những kẻ muốn vào các ngươi lại ngăn cản.” Thử hỏi, nếu ai đã nghiệm chứng hoặc thực chứng được câu Phúc Âm này có dám huênh hoang về giảng giải Lời Chúa nữa hay không. Lời Chúa không phải được viết để hiểu mà để nghiệm, để thực chứng, biến Lời Chúa thành tâm tư, thái độ nơi cuộc sống của mình.

- Thưa cha, chị Tình phát biểu, đầu óc chúng con lu bu, tối tăm, nghĩ được chỗ nọ thì quên mất chỗ kia thì sao mà nghiệm phương chi là thực chứng, thực hành!

- Phúc Âm có câu, cha Hải trả lời, “Phàm ai đã có, thì sẽ được cho thêm; còn ai không có, thì ngay cái nó đang có cũng sẽ bị lấy đi” (Lc. 19:26), chị có nhớ câu ấy không?

- Nhớ chứ cha, nhưng sao đã có lại còn được cho thêm trong khi kẻ không có lại bị lấy đi, nghe không hợp lý chút nào! Không có thì lấy đi cái gì, chẳng lẽ lấy mạng!

Giọng miền Nam của chị nghe hiền hòa dễ thương nhưng câu kết khiến mọi người chưng hửng.

- Đó, nghe rõ chưa, đi làm mà không mang tiền về là khốn khó đó con. Sỹ nói với Tình.

- Thì tớ đã mấy lần gần bán mạng rồi đó chứ. Có ở trong chăn mới biết chăn có rận, ai mà không biết lẽ thường này. Tình trổ giọng bi thương.

Cha Hải cảm thấy vui vui khi nghe giọng ngọt ngào dễ mến của chị Tình, nhưng cũng hơi ngạc nhiên vì qua lời nói chân thành, nhẹ nhàng mang đầy vẻ cương quyết lại dẫn đến câu kết gọn gàng không ai ngờ tới. Ngài nhẹ nhàng giải thích,

- “Phàm ai đã có” ở đây mang nghĩa ai càng thực tập nghiệm chứng, càng ngày càng quen suy nghiệm. Thế nên người nào không chịu khó suy nghĩ thì càng ngày càng chẳng suy nghĩ được gì. Thí dụ, chị mổ cá để phơi khô, càng mổ nhiều cá bao nhiêu, chị làm càng thành thuộc bấy nhiêu. Nếu tôi mà mổ cá để phơi, có lẽ chỉ làm cá nát bấy, ăn cũng không được phương chi phơi. Nói như thế chị hiểu rồi chứ.

- Cảm ơn cha, hèn chi mấy cái ông này quen thói ăn nói tào lao, con thấy chẳng đâu vào đâu.

- Dẫu các ông ấy nói không đâu vào đâu thì cũng là cơ hội cho mình đặt vấn đề suy nghĩ, và nếu các ông ấy nói sai, mình biết được điều đúng nhờ câu nói sai; nếu các ông ấy nói khó hiểu cũng đều là cơ hội cho mình thực nghiệm suy nghĩ. Lâu dần thành quen hợp với câu nói “Phàm ai có thì được cho thêm.” Tất cả mọi sự chẳng hạn nghiệm chứng, suy nghiệm, thực chứng nơi hành trình tâm linh đều đặt trên căn bản suy nghĩ, suy tư, và không ai có thể suy nghĩ dùm cho mình cũng không ai có thể giải thích để mình thức ngộ. Suy nghĩ là bước đầu tiên và cũng là bước cuối cùng. Chúng ta thường nghe câu nói, dẫu cuộc hành trình vạn dặm thì cũng phải bắt đầu bằng một bước chân. Suy nghĩ để nhận thức cũng thế; bây giờ, tôi xin mời anh em nào dùng Phúc Âm để nghiệm chứng về tội lỗi.

 
- Thưa cha, Tùy con lên tiếng, trong Phúc Âm có câu, “Bất cứ ai nói phạm đến Con Người, thì còn được tha; nhưng ai nói phạm đến Thánh Thần, thì sẽ chẳng được tha” (Lc. 12:10), thưa cha, tội phạm đến Thánh Thần là thế nào mà chẳng được tha?

- Anh có biết Thánh Thần ở đâu không mà có thể phạm?

- Thưa cha, Thiên Chúa ở đâu thì Thánh Thần ở đó, tuy ba mà một, tuy một mà ba. Tùy trả lời. Thiên Chúa ở nơi mỗi người thì Thánh Thần cũng ở nơi mỗi người. Thánh Thần đã ở nơi mình mà nói phạm đến Thánh Thần chẳng lẽ có ai đó khùng mà tự nói phạm đến mình ngoại trừ trường hợp tự tử.

- Thánh Thần ở nơi anh vậy hoạt động của Thánh Thần theo anh nghĩ là gì?

- Thưa cha, chẳng lẽ là ước muốn, ước mơ, khả năng tinh thần, suy tư, suy nghiệm. Nhưng nếu như thế sao lại gọi là “Nói phạm?” Chẳng lẽ con đì chính con?

- Nào, mời các hành giả thử thiền. Cha Hải thách đố.

- Thưa cha, Thanh lên tiếng, có lần con đã tự hỏi tội nói phạm đến Thánh Thần là tội gì nhưng không cách nào suy nghĩ được. Con lật cuốn New American Bible thì câu này được dùng động tự “Blaspheme,” thông thường nghĩa của động từ này cũng là phạm thượng. Thế nên con phải tra tự điển xem có nghĩa khác không. Một trong những định nghĩa của mệnh đề, “Blasphemy against the Holy Spirit” là “Irreverent or impious action or expressìon in regard to something considered inviolable or sacrosanct.” Thưa cha, theo nghĩa này thì chính là mình khinh thị hồng ân của Thiên Chúa nơi mình.

- Khinh thị hồng ân của Chúa là thế nào? Cha Hải hỏi.

- Thưa cha, theo con nghĩ thì đó là mình không nhận biết hay nói đúng hơn mình không sử dụng hồng ân nơi mình.

- Anh có nghĩ được nó có nghĩa bao gồm cả hai không? Tôi muốn nói là không nhận biết nên không thể sử dụng hồng ân nơi mình.

- Thưa cha, có thể như thế vì không nhận biết tất nhiên không thể sử dụng. Nhưng thưa cha, phỏng có thể chỉ nhận biết qua quan điểm thế tục. Thanh đặt vấn đề.

- Tôi thử nêu lên trường hợp thông thường như vừa rồi chị gì, chị Tình mới nói, đó là đầu óc lu bu, tối tăm, nghĩ được chỗ nọ thì quên mất chỗ kia thì sao mà nghiệm, phương chi là thực chứng, thực hành! Tôi chỉ nêu lên làm thí dụ chứ không mổ xẻ, phân tích đúng sai phải trái chi hết. Tôi thử đặt vấn đề, nói rằng lu bu sao công việc nhà cửa, con cái, toan tính làm ăn lại rành mạch, nếu không muốn nói là sắc sảo, thành công. Sự thể hữu vi này chứng tỏ một bộ óc sáng suốt, cần mẫn toan tính sao cho gia đình êm thấm và cuộc sống vươn lên. Thế nhưng, nếu xét về phương diện tâm linh thì lại rối lung tung, có phải đã chưa bao giờ thử hoặc chưa bao giờ có chút cố gắng để rồi rơi vào tình trạng “Kẻ không có thì dù có ít cũng bị lấy đi.” Tôi nói lấy đi chứ không lấy mạng đâu nha. Như vậy, có thể nói, có khả năng nhưng coi thường bởi thấy không lợi ích gì cho cuộc sống nhân sinh, thế tục. Nói cách khác là khinh thường. Giải thích như thế coi bộ hơi cưỡng ép, nhưng nếu nhận định về sự thể sự việc chúng ta thấy rõ, không suy nghĩ, nghiệm chứng Lời Chúa thì suốt đời ngu muội về nhận thức tâm linh. Ai hoặc Chúa nào có thể giúp người không suy nghiệm nhận thức, và ai có thể nhận thức dùm kẻ không suy nghiệm? Không ăn tất nhiên sẽ đói. Sự đói sao có thể tha bởi đâu ai có thể ăn dùm. Tóm lại tôi muốn nói rằng tội phạm thượng đến Thánh Thần tức là tội không suy nghiệm, không nghiệm chứng, bởi cho rằng mình không có khả năng suy tư. Đọc nơi Phật học, chúng ta thấy chính là tội vô minh.

- Thưa cha, vậy có thể nói tội phạm đến Thánh Thần là tội vô minh, tội không suy nghĩ về nhận thức tâm linh? Sỹ nhắc lại.

- Đã biết như thế mà còn nhắc lại, đâu có phải là ngộ!

- Tớ đâu có nói gì về ngộ, mà tớ chỉ minh xác cho chắc chắn để sử dụng hồng ân nơi mình tránh phạm thượng.

- Cần gì sử dụng hồng ân, dăm, sáu chai bia thì không muốn sử dụng cũng không biết mình nói gì! Lúc bấy giờ ai mà biết thánh thần hay tà thần lên tiếng, nhưng chắc chắn không phải là ông rồi.

- Ông nói sao ấy chứ, dẫu rằng cuộc đời không thằng nào sợ thằng này nhưng vợ tớ đang ngồi đó; ông vuốt mặt phải nể mũi chứ! Tớ còn mặt mũi nào mà ra vẻ huênh hoang đây?

Mọi người nín cười vì con nhà Sỹ tự mang mình ra diễu.

- Thưa cha, thường thì tội lỗi được cho rằng đó là kết quả của hành động. Tuy nhiên, con thấy nơi Phúc Âm nói lạ lắm, chẳng hạn, “Phàm ai nhìn người nữ để thỏa lòng dục thì đã ngoại tình với nó trong lòng...” (Mt. 5:28), hoặc “Phàm ai tức giận anh em mình thì sẽ can án” (Mt. 5:22), nếu con không lầm thì hai câu này nói về tội lỗi được gọi là “Để thoả lòng dục” và “Tức giận.” Như vậy, tội lỗi phát xuất tự tâm hồn mình chứ chưa nói đến kết quả của hành động. Nói khác đi, những ước muốn, ý định bất chính, chẳng nên, phát xuất tự tâm hồn được gọi là tội. Mà linh hồn mình chính là Thiên Chúa nội tại! Ah! Con xin lỗi, ước muốn thế tục phát xuất tự tâm hồn được gọi là tội. Vâng, Thiên Chúa không tạo dựng tội lỗi thì tội lỗi chính là sự dùng quyền lực tối thượng nơi mình để kiến tạo ước muốn, ý định bất chính, chẳng nên. Đức tin chính là quyền lực nơi ước muốn, ý định phát xuất từ tâm hồn, nhưng ý định, ước muốn chẳng nên, thế tục lại được coi là tội. Vậy tội là điều trái nghịch với đức tin. Không suy nghiệm để nhận thức đức tin là tội khinh chê hồng ân của Thánh Thần. Như vậy, tất cả mọi sự, Phúc Âm cho là phát xuất tự tâm, thưa cha?

- Anh nói đúng, Phúc Âm cũng như các đạo học khác được viết ra để dẫn dắt con người nơi hành trình tâm linh. Các đạo học khác chỉ đường dẫn lối nên theo; Phúc Âm chẳng những chỉ dẫn mà còn nói rõ con người là gì. Thích Ca nói, “Ta là Phật đã thành, các ngươi là Phật chưa thành.” Phúc Âm chỉ rõ, “Thiên Chúa ở cùng chúng ta.” Không nhận ra sự cao trọng của thân phận con người coi chừng lại là vách ngăn lớn nhất nơi hành trình thức ngộ.

- Cha nói sao, Thanh hỏi, Phúc Âm chỉ rõ Thiên Chúa ở cùng chúng ta? Con thấy xưa nay câu này thường được dùng để nói về sự hiện diện của Chúa Giêsu hơn hai ngàn năm trước nơi trái đất này!

- Chỉ dùng Cựu Ước, và thư thánh Phao lô, và nghiệm chứng thực thể linh hồn,  anh chị em đã nghiệm được thực thể Thiên Chúa ngự trị nơi mình nên ước muốn, ý định của mình mang quyền lực tối thượng của Thiên Chúa. Quyền lực này dõi theo hành trình tâm linh thì được gọi là đức tin mà chạy theo dục vọng, ham muốn thế tục thì lại chính là tội. Như vậy, tại sao nghe thấy tôi nói Phúc Âm nói về thực thể Thiên Chúa ở cùng chúng ta anh em lại ngạc nhiên? Tôi đề nghị, anh chị em nên nghiệm chứng câu Phúc Âm, “Thời buổi đã mãn và Nước Thiên Chúa đã gần bên! Hãy hối cải và tin vào Tin Mừng” (Mc. 1:15). Nhưng cũng nhớ đừng quên câu, “Ai có tai thì nghe.”

- Thưa cha, vợ Sỹ giơ tay, sao cha không nói cho gọn, chứ chúng con biết lối nào mà mò, phương chi nói đến nghiệm hoặc chứng!

- Bu mày đừng có lo, cứ mua bia về để sẵn đấy, tớ sẽ nghiệm cho bu mày thấy. Sỹ lên giọng nói với vợ.

- Ông có mà nghiện thì giỏi. Nghe ông thì bán thóc giống đi mà ăn!

- Chưa mất váy hãy còn may mắn. Tớ đâu cần đi cày ruộng, đâm hà bá không lẹ hơn sao?

- Chị muốn giải thích về chuyện gì? Cha Hải hỏi chị Sỹ.

- Thưa cha, qua những lần tham dự, con thấy muốn suy nghĩ, nghiệm chứng, cần phải biết sách này nói gì, sách kia nói sao, đại khái những kiến thức mà con đâu đọc những thứ đó sao có thể suy nghĩ!

- Hành trình nào không bắt đầu bằng một bước chân. Chị không để ý câu Phúc Âm, “Phàm ai đã có, thì sẽ được cho thêm; còn ai không có, thì ngay cái nó đang có cũng sẽ bị lấy đi” (Lc. 19:26). Cơm ăn từng miếng, việc làm từng phần, không thể nào giải quyết mọi sự cùng một lúc. Tôi đề nghị, bắt đầu chị hãy suy nghĩ câu, “Ai có tai thì nghe,” câu này chị không phải kiếm tìm nơi sách vở mà ngay nơi chị. Thoạt tiên tự hỏi mình có tai không, hoặc ai là người mà không được sinh ra với cặp tai. Đoạn lại tự hỏi, tại sao nói có tai thì nghe bởi tai nào không để nghe! Rồi suy nghĩ tiếp, tai có thể tự nó nghe không? Chị đã nhận  biết, khi linh hồn ra khỏi xác thì mọi sự đều đóng lại; điều này chứng tỏ tai chỉ là phương tiện cho cái gì đó nơi mình được gọi là linh hồn nghe. Và như vậy, tại sao lại nói có tai thì nghe! Tôi chỉ nói tới đây, nói thêm sẽ không giúp ích gì cho chị mà coi chừng chỉ làm phiền. Tất cả mọi sự đều ở nơi mình; vì thế nhà Phật nói, tất cả không ngoài tự tính. Lúc này chị không suy nghĩ được nhưng lòng vẫn để ý suy nghĩ tại sao lại nói có tai thì nghe. Đầu óc luôn luôn nghĩ đến câu nói và tìm mọi phương diện có thể chấp nhận được để trả lời. Khi làm việc chẳng hạn nấu nướng, rửa chén, quét nhà, hay giặt giũ quần áo đầu óc cũng luôn để ý trả lời. Trạng thái luôn để ý trả lời này được gọi là định tâm hay hành thiền hoặc tỉnh thức. Ngôn từ nghe có vẻ đao to búa lớn nhưng đơn giản chỉ như thế cho tới lúc nào đó, chị sẽ nhận ra câu trả lời có thể áp dụng trong mọi trường hợp thì đó được gọi là ngộ. Từ sự suy nghĩ liên tục để tìm câu trả lời này, chị sẽ có kinh nghiệm nghiệm chứng những câu khác, và như thế, lúc nào thấy vấn đề gì cần được tìm hiểu để giải quyết những câu khác, chị sẽ tự tìm tòi nơi sách vở hoặc hỏi ai đó.

- Thưa cha, sao mấy câu gì gì đó nghe có vẻ ngây ngô và ngang ngang thế nào ấy.

- Những câu nói như thế được gọi là công án. Những câu công án được ghi lại với chủ đích giúp cho người tìm hiểu dồn hết tâm ý để suy nghĩ, giúp họ định tâm nhận thức để tìm về bản nguyên sự vật hoặc sự việc hay sự thể. Nhờ sự định tâm tìm hiểu này, họ phải đối diện với thực thể nơi họ mà lục tổ Huệ Năng nhà Phật gọi là “Bản lai diện mục,” sự thể đích thực chính mình. Ai nhận thực được sự thể chính mình được gọi là thức ngộ, hoặc thành Phật như chúng ta thường nghe. Chẳng hạn đức Thích Ca đã giác ngộ nên gọi là Phật Thích Ca; nơi Lão học gọi là thánh nhân, Đông Phương học gọi chung là chân nhân.

- Thưa cha, thức ngộ thì sẽ ra sao, đem lại lợi ích gì cho cuộc sống?

- Chắc chắn rằng nó sẽ không đem lại lợi ích vật chất như một bữa ăn hoặc cái áo mặc hay tiền bạc, nhưng sự thức ngộ giúp chị nhận ra được chân giá trị làm người. Khi chị đã thức ngộ, những vẻ hào nhoáng, danh dự, hoặc bất cứ giá trị hữu vi, thế tục không đáng để chị để ý tới. Tâm hồn chị an định và hài hòa với cuộc sống dẫu nó thế nào. Trạng thái này được Lão học gọi là “Huyền đồng,” sống hòa hợp với bản thể tối thượng đang ngự trị và hoạt động nơi tạo vật. Chị sẽ nhìn nhận được ý nghĩa tuyệt vời của sự sống, và sự thánh thiện cũng được gọi là hồng ân hiện hữu tràn ngập ở muôn loài, muôn vật. Tâm hồn chị biết mở rộng hơn để đón nhận hồng ân này và không bị lệ thuộc vào bất cứ ràng buộc nào như tham, sân, si, hoặc những vẻ hào nhoáng, hơn, thua vô nghĩa của cuộc đời. Tôi không biết cách nào diễn tả. Có lẽ chị biết câu, “Người biết không nói, kẻ nói không biết” của Lão học. Nói tóm lại, cũng giống như chị thương chồng thương con chị. Chị biết rõ cay đắng, ngọt bùi thế nào nhưng không thể nào nói ra được.

- Thưa cha, phải mất bao lâu mới. . .

- Không ai trả lời được phải bao lâu. Có người mới sinh ra đã ngộ, và đa số chẳng bao giờ ngộ. Tuy nhiên, Phúc Âm nhắc nhở, “Anh em cứ xin thì sẽ được, cứ tìm thì sẽ thấy, cứ gõ cửa thì sẽ được mở cho. Vì hễ ai xin thì nhận được, ai tìm thì sẽ thấy, ai gõ cửa thì sẽ được mở cho” (Mt. 7:7-8). Bình thường, chúng ta lệ thuộc ngôn từ nên cho rằng cứ xin và đợi, Chúa ban cho hay không thì tùy ý Ngài mà không để ý thực tế. Chúng ta cầu xin cho làm ăn may mắn thì điều kiện tiên quyết là phải làm, đồng thời suy xét, tính toán công việc thế nào, sao cho có lợi. Trong khi bất cứ gì liên hệ tới cầu nguyện, cầu xin thì tâm tình chúng ta chẳng khác gì kẻ bàng quang hoặc mua vé số, cứ quăng ra đấy đợi Chúa thực hiện. Chúng ta quên rằng, cầu nguyện là bày tỏ ước muốn, sử dụng ước muốn, và nếu thực sự muốn, chúng ta sẽ thực hiện bất cứ gì, sử dụng mọi phương cách để đạt được ước muốn; nói cách khác, biến ước muốn thành sự thực. Kinh nghiệm cho chúng ta thấy, chỉ ước muốn suông mà không bắt tay hành động gì sẽ không có gì xảy đến. Nói như thế, vấn đề chính lại là thực hành, còn ngày giờ thì Phúc Âm cũng đã nói, “Anh em phải coi chừng, phải tỉnh thức, vì anh em không biết khi nào thời ấy đến”(Mc. 13:33). Người ta cứ nghĩ được gọi là thời điểm Chúa đến, hay ngày giờ trong những câu Phúc Âm khuyên nhủ hãy tỉnh thức và cầu nguyện là thời điểm thần chết gõ cửa, hoặc ngày tận thế. Không đâu, đó là thời điểm thức ngộ nếu chúng ta luôn luôn định tâm nghiệm chứng.

- Thưa cha, Tình hỏi, theo như cha nói thì tội phạm đến Thánh Thần nghĩa là tội khinh chê hồng ân khả năng suy tư, không dùng khả năng suy tư của mình để nhận thức nơi hành trình tâm linh. Thế sao con được dạy rằng tội phạm đến Thánh Thần là tội ngã lòng, không tin tưởng vào Thiên Chúa và vào giáo hội. Và nếu như cha đề nghị định tâm hay hành thiền để nghiệm chứng thì lại chống nghịch lại giáo hội vì giáo hội dạy phải tin với giáo hội.

- Thưa cha, Thanh giơ tay, con xin được trả lời câu hỏi này.

- Mời anh.

- Thưa cha, bác, bố, và mọi người, đây chỉ theo suy tư và lập luận cá nhân của con, nếu có gì còn thiếu sót, cha làm ơn bổ túc. Thứ nhất, nếu không suy nghĩ mà cứ học theo như “Monkeys see, monkeys do” thì sẽ rơi vào trường hợp như cha đã giải thích, “Canh hương án thì đòn vào lưng.” Kinh nghiệm sống minh chứng rõ ràng, người này sắm tầu đánh tôm thì làm ăn nên; kẻ khác sắm tầu đánh tôm thì tán gia bại sản. Cũng một nồi canh, cũng mắm muối như thế mà người này nấu thì ngon; kẻ khác nấu ăn không được. Nói như thế, tất nhiên sự suy nghĩ nhận định phải làm gì và làm thế nào nơi cuộc sống là điều kiện thiết yếu để tiếp tục kiếp nhân sinh. Nếu không suy nghĩ, tính toán, chắc chắn thất bại hầu như 99 phần trăm; bởi có những người sinh vào số bọc điều chẳng cần làm cũng có ăn. Nhưng nơi hành trình đức tin, hành trình tâm linh, không suy nghĩ, suy nghiệm thì suốt đời mê muội. Có câu nói, “Tội lỗi bởi sự ngu dốt mà ra.” Nếu nói ngu dốt do trời bắt tội, sao có thể làm ăn nên, sao thừa tiền của làm nhà to, mua xe xịn huênh hoang với đời? Chuyện đời không ngu dốt mà nói rằng ngu dốt nơi nhận thức đức tin, chỉ là bào chữa, lừa đảo. Thế nên phải nói là khinh chê hồng ân suy tư, nhận biết. Xét về phương diện chấp nhận bảo sao nghe vậy cho qua, thì chúng ta đã bao nhiêu ngày tháng từ lúc sinh ra đến nay quá quen thuộc và nhàn hạ, tha hồ ăn nhậu, chẳng phải ưu tư, chỉ tới nhà thờ hay chùa chiền cho có mặt trong khi hồn mãi đâu đâu, nếu không muốn nói để ý đến hình dáng nào mình thích để rồi sinh ra muôn thứ tội ngoại tình trong lòng mà vì ngu dốt đã không để ý. Hơn nữa, cho dù có nguỵ biện rằng không biết nên không có tội thì cứ thử, không biết lái xe, không biết luật lái xe, cứ leo lên xe mà lái sẽ nhận thức được có tội hay không có tội ngay lập tức. Nhận thức như thế, nếu con không lầm, câu nói, chúng ta phải tin với giáo hội chỉ dành cho trẻ nhỏ học bổn đồng ấu hoặc đối với những người tiền sử, hay ít nhất cách nay cỡ ngàn năm. Thực tâm nhận định, con nghĩ, câu nói này nếu còn cố thủ được áp dụng thì chính là lối ngu dân để trị. Mượn cớ rằng dân Chúa đơn sơ, thiếu hiểu biết nên phải bảo cho người ta biết để tin; con nghĩ, chỉ là thứ cả vú lấp miệng em. Đọc nơi đạo học Đông Phương, một lục tổ Huệ Năng, không biết ký tên của mình đã thức ngộ hơn hai ngàn năm và để lại phương pháp đốn ngộ, “Kiến tính thành phật.” Nhìn về Ấn Độ, vị đại thánh của họ, RamaKrishna, chỉ mới học tới lớp tư trường làng. Thiển nghĩ, hơn hai ngàn năm qua từ ngày đức Giêsu rong ruổi trên trái đất này rao giảng Tin Mừng Nước Trời, mà mãi cho tới giờ, con dân Chúa vẫn chưa được biết Tin Mừng Nước Trời là gì thì tin với giáo hội là tin thế nào? Bao nhiêu tiền của, mồ hôi nước mắt, bao nhiêu công sức, rồi thánh nọ, thánh kia, dòng kín, dòng hở, bao nhiêu tiến sĩ trong giáo hội, thế mà ngày nay Phúc Âm vẫn cứ như là thần chú để những vị pháp sư giáo hội giảng giải theo quan điểm thế tục, luân lý. Thử hỏi, bao nhiêu con dân Chúa đã ra đi với lòng khát khao nhận biết Tin Mừng Nước Trời, nhận biết đức tin của họ, bây giờ dồn đọng ở đâu? Con đồng ý với cha, ngồi trước bàn tiệc, không ăn sẽ đói vì không ai có thể ăn dùm cho mình. Lời Chúa, lời Phúc Âm rành rành trước mặt, không suy nghĩ, nghiệm chứng sẽ bị mù tối vì không ai có thể suy nghĩ dùm cho mình, phương chi tin dùm cho mình, mà sao lại nói phải tin với giáo hội? Con xin hỏi, với nhận định đơn sơ như thế, nói rằng tin với giáo hội có nghĩa lặp lại những gì người khác đã nói cho mình nghe chẳng khác gì ăn cơm mớm, nuốt vào những gì người khác mửa ra rồi lại mửa ra giống y như thế; phỏng có phải chứng tỏ chẳng những một thân xác ăn không tiêu mà còn chứa đựng bên trong một tâm hồn bệnh hoạn? Phỏng có thể vì coi thường hồng ân suy nghĩ nên thân xác, đền thờ của Thiên Chúa một ngày một trở nên vô cảm với đức tin nên mất hết sức sống thần linh, và cũng vì miệng nói tin nhưng không biết mình tin gì nên dẫu mang danh có đạo, mượn cớ tin theo đức Giêsu chỉ để che lấp một tâm hồn vô thần do thờ chủ nghĩa thế tục. Con nhớ hôm nọ cha nhắc tới câu ngạn ngữ, “Khi con vật ăn no, chúng ngủ; khi con người có đầy đủ cơm no, áo ấm, người ta suy nghĩ.” Đàng này không khuyến khích, nói cách khác, lại ngăn cấm suy nghĩ thì con người biến thành thứ gì? Khỉ không ra khỉ, người chẳng ra người vì không suy nghĩ. Thưa cha, thiển nghĩ, khinh chê hồng ân suy tư thì tất nhiên chuyện phải xảy ra như thế.

 
Tràng pháo tay bùng lên, Thanh nói lưu loát nhưng đầy vẻ hung hăng, thách đố, chẳng khác gì đánh võ miệng, chuẩn bị cho một trận chiến khốc liệt. Nói không ngưng nghỉ, liên miên lý nọ, lẽ kia trào ra tiếp nối. Thiên hạ nghe thấy khoái cả lỗ tai; niềm phấn khởi nào hừng hực dâng lên cùng với ý tưởng phải suy nghĩ để sống đúng kiếp người, không chịu ăn cơm mớm, không chịu chấp nhận làm thứ lưỡng chừng giữa người và khỉ. Mấy ông trùm thì sợ muốn đứng tim. Sợ vì qua những lời biện luận của Thanh đã phơi bày lòng ruột vô cảm của các ông do không để ý đến lời Phúc Âm, dẫu nhà có sách nhưng không thèm đọc, do đọc cũng không biết sao mà hiểu, mà áp dụng vào cuộc đời. Đến khi Thanh nói tới “Nuốt vào những gì người khác đã mửa ra, rồi lại mửa ra giống thế,” hình ảnh Thanh nêu lên khiến tâm trí ông nào ông nấy cảm thấy ghê sợ. Thế rồi cảm nghĩ bao nhiêu công lao giúp góp cho đạo từ xưa tới nay bay theo mây khói dâng lên. Nghĩ làm sao, suy làm sao, và phải giải quyết cách nào những câu hỏi cứ dồn tới khiến lòng các ông chùng xuống.

- Khoan, tôi nói chưa hết! Thanh nói lớn, ra hiệu cho mọi người thinh lặng. Nói về tội phạm đến Thánh Thần. Ngày xưa con cũng được dạy, tội phạm đến Thánh Thần là tội ngã lòng. Thử đặt vấn đề tại sao phát sinh sự thể ngã lòng. Con nhận thấy, bởi trước hết không biết đức tin là gì. Điều này con dám chứng thực, ngay bây giờ, nếu hỏi tất cả mọi người chúng ta đức tin là gì, con nghĩ nhiều nhất chúng ta chỉ có thể nói lên những minh chứng như cha nói hôm nọ, chứ chưa, hay không thể nào thực chứng đức tin theo Phúc Âm. Chính bởi không biết đức tin là gì nên rơi vào trường hợp niềm tin hay tin tưởng. Và xưa nay, nay xưa nói chung, những người tin theo đức Giêsu, lấy Phúc Âm làm chuẩn cũng ít ai để ý minh chứng đức tin theo Phúc Âm, phương chi thực chứng theo Phúc Âm. Nói như vậy có nghĩa, chỉ tin theo đức Giêsu theo nghĩa từ chương, cho rằng những gì đức Giêsu đã làm, những gì Ngài đã nói qua Phúc Âm là có thật. Chính sự thể tin theo một cách mù mờ này dẫn đến sự cầu nguyện theo ý nghĩa xin ơn và phó mặc, tin tưởng rằng nếu mình sống xứng đáng thì được Chúa ban ơn, nếu Chúa không ban thì đành rán chịu không dám kêu ca. Mọi người bây giờ đều biết, Chúa Giêsu minh xác qua Phúc Âm, “Đức tin con chữa con, đức tin con cứu con,” hoặc, “Hãy xin sẽ được, hãy gõ cửa, sẽ mở cho, hãy tìm sẽ thấy,” nhưng thử hồi tâm nhớ lại, đã bao lâu nay mình cầu nguyện, cầu xin như thế nào. Bao nhiêu người bỏ ngày giờ, tốn tiền phi cơ hay xăng xe đi Fatima, Missouri, La Vang, Lộ Đức, cầu khỏi bệnh nọ, tật kia, rồi nào nước suối Lộ Đức, nước phép Đức Mẹ, mà tiền mất, tật vẫn mang. Con thử hỏi, Chúa ở khắp mọi nơi, bộ Đức Mẹ nơi nhà thờ mình thường dự lễ không là Đức Mẹ? Hay Đức Mẹ da vàng không thiêng mà Đức Mẹ da trắng mới thiêng, hoặc bụt nhà không thiêng? Con đồng ý với Bá, sự tốn tiền vé phi cơ hay mua xăng đổ xe cũng như ngưng chuyện làm ăn bỏ thời giờ mà đi chứng tỏ lòng khát khao muốn được chữa lành; ý định mạnh lắm chứ, thế sao đã chẳng gì xảy ra. Lần này không được, lần khác không xong, tất phải ngã lòng. Con nghĩ, chưa bỏ đạo hãy còn tốt lành chán. Nhưng, nếu nói tội phạm đến Thánh Thần là tội ngã lòng, con nghĩ, chỉ là nói tào lao vì chẳng hiểu ngã lòng là thế nào. Nói như thế rơi vào trường hợp nói nhưng không biết mình nói gì. Giáo hội không có luật kết án người ngã lòng mà trái lại, giáo hội phải mang trách nhiệm đã không giúp dân Chúa hiểu biết, không giúp họ nhận biết đức tin nên mới sinh ra ngã lòng. Chính ngay những người bỏ đạo, giáo hội cũng không có luật nào kết án họ. Nhận định như thế, nếu nói tội phạm đến Thánh Thần là tội ngã lòng vậy biết bao người không biết Công giáo là gì, chưa bao giờ được nghe đến tên Giêsu họ cũng phạm tội ngã lòng hết sao? Phỏng nếu không biết lòng tin, đức tin, thì lấy gì mà ngã? Nếu nói như thế, tất cả giáo dân Công giáo đều ngã lòng và đều mắc tội phạm đến Thánh Thần. Như vậy, tội này từ đâu ra? Xin thưa, từ trách nhiệm của giáo hội. Tội của các đấng làm thày, lãnh lương dân Chúa mà không biết đức tin là gì để rao giảng cho họ biết. Ôi, dân Chúa thật đáng thương. Hồng ân thì không nhận biết mà chỉ e bị phạt vì theo đạo.

 
- Ông nói như thế thì bao công lao chúng tôi giữ đạo không được ơn ích gì à? Ông trùm Lực lên tiếng.

- Ông giữ đạo thì ông biết chứ tôi làm sao biết mà nói công lao giữ đạo của ông, Thanh trả lời, hơn nữa tôi có nói gì về tôn giáo đâu; tôi suy luận về tội phạm đến Thánh Thần và thực trạng được gọi là đức tin nơi đại chúng mà. Ông thấy phần nào tôi nói về đạo, làm ơn cho tôi biết.

- Vậy ông không tin với giáo hội à?

- Thưa ông trùm, tin với giáo hội là tin thế nào? Bộ ông không biết kinh Tin Kính hay sao? Trong vòng hội luận ở đây, chúng tôi không nói về tôn giáo nên càng không biết đến niềm tin tôn giáo. Tôi chỉ đặt vấn đề đức tin theo Phúc Âm. Tôi muốn nói rõ, ở đây, chúng ta chỉ mới minh chứng được đức tin theo Phúc Âm chứ chưa thực chứng được. Nếu ông thấy rằng đức tin theo Phúc Âm nghịch với những điều mà ông tin thì đó là Phúc Âm chứ không phải tôi. Tôi không kiến tạo đức tin mà chỉ đưa lên nhận định đức tin theo Phúc Âm mà thôi. Hơn nữa, một điều rõ ràng ai cũng biết, ý kiến không đúng không sai; thế nên ông hãy giữ lấy đức tin của mình, không ai có thể đụng chạm đến được.

 
Cha Hải không nói gì; thái độ của ngài dường như bàng quang nghe hai người đối thoại.

- Sao ông nói ngã lòng không có tội và ngay cả bỏ đạo cũng không có tội.

- Tội lỗi phát sinh ngay tại ước muốn, ý định con người chứ không phải bị kết án mới được gọi là có tội. Thưa cha, Thanh hướng về cha Hải hỏi, trong giáo luật có luật nào lên án người ngã lòng hoặc người bỏ đạo không?

- Không có luật nào như thế vì họ bỏ đạo tức không theo đạo nữa thì sẽ không bị ràng buộc bởi giáo luật. Tôi muốn nhắc lại, tôn giáo là một tổ chức thế tục được cấu tạo bởi những người bày tỏ lòng khát khao bẩm sinh theo cùng chiều hướng, niềm tin, và nguyên tắc chính yếu của tôn giáo là tin tưởng và cầu nguyện, cầu khẩn. Vì tôn giáo là tổ chức do con người họp lại nên cần phải có quy luật, điều lệ, tôn chỉ, và mục đích thành văn. Dĩ nhiên, không ai có quyền bắt ai phải tin theo niềm tin của mình. Tuy nhiên, thực tế chứng minh, người ta theo tôn giáo nhưng hỏi đến niềm tin là gì thì lạng quạng phương chi đức tin. Tôi nghĩ, làm người trên thế gian, hành sự nên chuyên tâm, đừng nên bận tâm về kết quả ra sao. Thêm nữa, con người luôn luôn sai lầm; ngược lại nếu nhận thức được sai lầm mới thăng tiến được; bởi kẻ nào chưa từng mắc phải lỗi lầm cũng là kẻ chưa bao giờ thử làm việc gì cả. Nói cách khác, chỉ có kẻ chết mới không bao giờ bị sai lầm nữa. Bất cứ ai, còn sống là còn lầm lỗi, chẳng thế mà cổ nhân có câu, “Đa thọ đa nhục” sao! Riêng đối với ông trùm Lực, do những biện luận đặt vấn đề về đức tin và lỗi phạm đến Thánh Thần mà anh Thanh đã nói, khuyến khích